Mở Đầu Chƣơng I: Điều kiện địa lý tự nhiên, lịch sử nghiên cứu và cơ sở dữ liệu. Chƣơng II: Các phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng III: Cấu trúc địa chất. Chƣơng IV: Tiềm năng dầu khí.
Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo Dƣới đây là nội dung trình bày chi tiết của các phần trên. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. Vị trí địa lý Vùng nghiên cứu nằm ở phía Bắc khu vực Tƣ Chính - Vũng Mây là vùng nƣớc sâu và xa bờ, có diện tích rộng khoảng 10.000 km2 bao gồm các lô 1, 2, 3-1, 3-2, 4, 5, 6 (hình 1. Mực nƣớc biển ở khu vực nghiên cứu thay đổi từ vài chục mét tại các bãi ngầm đến 2800 m ở trũng sâu.
Trong đó phần lớn diện tích các lô 2, phần Tây lô 5 có mực nƣớc biển nông hơn 1000 m. Tại đây có các bãi đá ngầm, bãi cạn nhƣ Vũng Mây, Huyền Trân, Quế Đƣờng, Phúc Nguyên và Tƣ Chính, đảo nhƣ Đá Tây. Vùng nghiên cứu có vị trí địa lý hết sức quan trọng về hàng hải, tài nguyên biển và đặc biệt là an ninh quốc phòng của nƣớc ta. Bên cạnh những hoạt động đánh bắt thủy sản từ xƣa của nhân dân ta, hoạt động thăm dò dầu khí từ những năm 70 của thế kỷ trƣớc đã góp phần xác định và giữ gìn chủ quyền biển đảo của Việt Nam.
Địa hình đáy biển trong khu vực nghiên cứu thay đổi rất nhanh về diện và bề mặt rất ghồ ghề do các hoạt động núi lửa cổ cũng nhƣ hiện đại cùng với các đới thành tạo cacbonat và ám tiêu san hô. Chế độ thủy triều và dòng chảy đáy thay đổi phụ thuộc vào gió mùa Tây Nam và Đông Bắc. Hàng năm, thƣờng xảy ra nhiều đợt mƣa bão với cƣờng độ mạnh (hình 1. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Vị trí khu vực nghiên cứu 1. Lịch sử nghiên cứu Hoạt động tìm kiếm thăm dò dầu khí tại đây tuy đã đƣợc bắt đầu từ những năm 70, song so với các bể trầm tích và khu vực khác trên thềm lục địa và biển Việt Nam thì vẫn triển khai chậm hơn. Điều này đƣợc lý giải vì điều kiện xa bờ và nƣớc sâu. Có thể trình bày tổng quát lịch sử tìm kiếm thăm dò dầu khí khu vực nghiên cứu thành các giai đoạn chính nhƣ sau: 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Giai đoạn trước năm 1975: Trong giai đoạn này, các công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam mới chỉ bắt đầu và tập trung chủ yếu tại các bể Cửu Long và Nam Côn Sơn.
Từ những năm 1970, Công ty Mandrel đã tiến hành khảo sát địa chấn khu vực thềm lục địa Nam Việt Nam trong đó ở phần phía Đông các tuyến 8 và 9 có vƣơn ra vùng biển nƣớc sâu thuộc lô 2. - Giai đoạn 1975 -2000: Từ năm 1983 đến 1985, Liên Đoàn Địa Vật lý Thái Bình Dƣơng Nga (DMNG) đã thực hiện 02 đợt khảo sát địa chấn khu vực Tây Nam Biển Đông trong đó bao gồm cả khu vực bãi Tƣ Chính. Năm 1993, Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam (hiện nay là Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam) đã giao cho Công ty Thăm dò và Khai thác Dầu Khí thực hiện Đề án Khảo sát Địa chấn TC-93 tại khu vực bãi Tƣ Chính với mục đích đánh giá cấu trúc địa chất và tiềm năng triển vọng dầu khí. Tháng 3-7/1993, tàu M/V A.
Gamburtsev đã tiến hành khảo sát 9500 km tuyến địa chấn, khu vực bãi Tƣ Chính đƣợc đan dày mạng lƣới tuyến 8x8 Km; khu vực Vũng Mây mạng 6,5-20 x 4,5-8,5 km và 16x32 km hoặc 32x64 km ở khu vực còn lại. Năm 1994, Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam đã tiến hành khoan giếng PV-94- 2XN ở vòm Đông Bắc cấu tạo Tƣ Chính. Năm 1995, tàu khảo sát “Zephyr-1” của DMNG (Nga) đã tiến hành thu nổ 2895 km tuyến địa chấn chi tiết mạng lƣới 2x2 km. Tài liệu này cũng đƣợc DMNG xử lý tại thành phố Vũng Tàu.
Năm 1996 - 1997, Conoco đã tiến hành tái xử lý lại một số tuyến địa chấn cũ, đồng thời năm 1998 Công ty PVSC thu nổ thêm 2000 km tuyến địa chấn 2D đan dày phần phía Tây lô 2 và 3 giúp Conoco minh giải, vẽ bản đồ nghiên cứu đánh giá địa chất và tiềm năng triển vọng nhằm định hƣớng các bƣớc thăm dò tiếp theo. Năm 1998, Conoco và PVSC đã nghiên cứu cổ địa lý và phân bố tầng chứa khu vực tuổi Oligocen, Miocen sớm - giữa; liên kết và minh giải tài liệu từ, trọng lực lô 2, 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3; minh giải môi trƣờng lắng đọng trầm tích và đánh tiềm năng triển vọng các lô nƣớc sâu 2, 3. - Giai đoạn 2000 – đến nay: Tháng 2/2006 đến nay, Petrovietnam, PVEP cùng với công ty Exxon - Mobil đã tiến hành nghiên cứu khu vực Tƣ Chính Vũng Mây. Tài liệu địa chấn sử dụng cho đề án này bao gồm các khảo sát 2003, 2006.
Tháng 9/2007, Viện Dầu khí Việt Nam theo đơn đặt hàng của PVEP đã tiến hành nghiên cứu đề án TC-06: “Minh giải tài liệu địa chấn 2D khu vực Tư Chính Vũng Mây, đánh giá sơ bộ tiềm năng dầu khí”. Trong các năm 2001-2004 Viện Dầu khí Việt Nam đã triển khai thực hiện đề tài KC.09/06 “ Nghiên cứu cấu trúc địa chất và địa động lực làm cơ sở đánh giá tiềm năng dầu khí ở vùng biển nước sâu và xa bờ Việt Nam” nhằm tìm hiểu về chế độ địa động lực, cấu trúc địa chất và dự báo triển vọng dầu khí. Năm 2010, trong khuôn khổ Chƣơng trình KH&CN trọng điểm cấp Nhà nƣớc KC.09/06-10 “Nghiên cứu, phát triển và công nghệ biển phục vụ phát triển bền vững Kinh tế - Xã hội”, đề tài KC.09-25/06-10 với tiêu đề: “ Nghiên cứu cấu trúc địa chất và đánh giá tiềm năng dầu khí các khu vực Trƣờng Sa và Tƣ Chính – Vũng Mây” đã đƣợc Bộ Khoa học và Công nghệ giao cho Viện Dầu khí Việt Nam triển khai thực hiện dƣới sự chủ trì của Chủ nhiệm đề tài PGS.TS Nguyễn Trọng Tín. Cơ sở dữ liệu Để xây dựng các loại bản đồ của khu vực nghiên cứu ngoài việc sử dụng các tài liệu địa chấn thu thập đƣợc có trong khu vực nghiên cứu, học viên cũng đã tham khảo thêm các tuyến địa chấn khu vực để liên kết từ các bể trầm tích Nam Côn Sơn, Phú Khánh cũng nhƣ sử dụng tài liệu của các giếng khoan ở các bể xung quanh.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Bản đồ các tuyến địa chấn và giếng khoan liên kết khu vực Học viên đã tham khảo và sử dụng một khối lƣợng tƣơng đối lớn các tuyến địa chấn 2D, bao gồm các khảo sát TCN1993, TCN2003, STCN2006, PKN2003 và các khảo sát khác của các tuyến khảo sát khu vực vào các năm 1974, 1990, 1995. Các tuyến này có mạng lƣới không đều từ 2km x 2km (TCN03) đến 8km x 8km, 16km x 16km và cả 32km x 32km (STCN06).1 Tài liệu địa chấn Tài liệu địa chấn chủ yếu đƣợc sử dụng để minh giải bao gồm các khảo sát của các nhà thầu khác nhau: - Tài liệu do PVEP thu nổ năm 2003 gồm 40 tuyến với tổng cộng 2. - Tài liệu do NOPECS thu nổ năm 1993 gồm 92 tuyến với tổng cộng là 2.
- Tài liệu do PVEP thu nổ năm 2006 gồm 62 tuyến ở hầu hết các lô còn lại của khu vực nghiên cứu với mạng lƣới tuyến khác nhau từ 8km x 8km đến 32kmx32km. Tổng cộng là 1. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Các tài liệu của các đợt khảo sát khác TCN98, AWN, SEASN95, SN74, PKN03, .: gồm 37 tuyến phủ rải rác theo các lô phía Tây của khu vực nghiên cứu với tổng chiều dài là 3. Tổng số km tuyến địa chấn đƣợc sử dụng là khoảng 10.000 km tuyến (hình 1.
Bản đồ các tuyến địa chấn và khoan của khu vực nghiên cứu 1.2 Tài liệu khoan và các tài liệu khác Trong khu vực nghiên cứu mới có 1 giếng khoan thăm dò PV-94-2XN, vì vậy luận văn đã khai thác sử dụng số liệu các giếng khoan ở khu vực phía Đông và Đông Nam bể Nam Côn Sơn nhƣ 05-1B-TL-1XN, 05-2-HT-1XN, 05-2-NT-1XN, 06-LD- 1XN, 12E-CS-1XN, 06-LT-1XN (hình 1. Ngoài ra, trong luận văn đã tham khảo và kế thừa một số tƣ liệu của các báo cáo nghiên cứu địa chất dầu khí, địa kiến tạo, địa chất - địa mạo.của một số tác giả tại khu vực nghiên cứu và các vùng lân cận để có cái nhìn trực quan, toàn diện hơn. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 2 CÁC PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Các phƣơng pháp địa vật lý 2.1 Phương pháp địa chấn - địa tầng Phƣơng pháp địa chấn - địa tầng là phƣơng pháp phân tích minh giải tài liệu địa chấn đƣợc thu nổ từ thực địa đã qua xử lý. Đây là một phƣơng pháp đƣợc áp dụng rộng rãi trên thế giới trong công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí, bắt đầu từ năm 1970 của thế kỷ trƣớc do các nhà khoa học của tập đoàn dầu khí Exxon xây dựng và đƣợc hoàn thiện dần theo thời gian.
Phƣơng pháp địa chấn - địa tầng là sự kết hợp của phƣơng pháp địa chấn cấu tạo (hay còn gọi là địa chấn hình thái) và phƣơng pháp địa chấn thạch học - địa tầng hiện đại. Trong khuôn khổ luận văn này, học viên chỉ đề cập đến những phần áp dụng của phƣơng pháp địa chấn - địa tầng phục vụ cho nội dung nghiên cứu. Quá trình lắng đọng vật liệu trầm tích cùng với sự tác động của các yếu tố địa chất khác nhau, trải qua hàng triệu năm đã hình thành nên các lớp trầm tích trong một khu vực nhất định với một trật tự xác định từ dƣới lên trên, mà qua phƣơng pháp địa chấn - địa tầng cho thấy rõ bức tranh toàn cảnh về các lớp trầm tích này dƣới dạng trƣờng sóng phản xạ địa chấn biểu hiện qua các mặt cắt thời gian thu đƣợc từ tài liệu thực địa và đã qua công nghệ xử lý. Địa chấn - địa tầng là phƣơng pháp phân tích, giải thích tài liệu địa chấn, trong đó: - Sử dụng các tầng phản xạ chuẩn liên kết để xây dựng các bản đồ cấu tạo, nhằm nghiên cứu cấu kiến tạo, hình thái và sự phát triển của một bể trầm tích qua các thời kỳ địa chất khác nhau (địa chấn hình thái).