Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu cấu trúc cảnh quan phục vụ tô chức không gian sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. - Chương 2: Phân tích cau trúc cảnh quan tinh Ninh Bình - Chương 3: Phân tích sự biến đối cảnh quan và đánh giá cảnh quan phục vụ tố chức không gian sử dụng hợp ly tài nguyên và bảo vệ môi trường lãnh thé tinh Ninh Binh. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CAU TRÚC CẢNH QUAN PHỤC VỤ TÔ CHỨC KHÔNG GIAN SỬ DỤNG HOP LÝ TÀI NGUYÊN VA BẢO VE MOI TRƯỜNG Chương | trình bày tổng quan về các công trình đã nghiên cứu và lý luận cánh quan phục vụ tổ chức không gian sử dung hợp ly tài nguyên va bảo vệ môi trường, phân tích các phương pháp nghiên cứu và hướng tiếp cận mới trong nghiên cứu cấu trúc cảnh quan ứng dụng trong luận án. Tổng quan tài liệu 1.
Tình hình nghiên cứu cảnh quan trên thégiới 1.1 Lược sử phát triên khoa học cảnh quan Cảnh quan học có nguồn gốc từ châu Âu và lich sử phát triển của ngành khoa học này gan liền với lich sử phát triển các ngành khoa học tự nhiên, khoa học lập địa và sinh thái trong thời kỳ đầu và gắn liền với sự phát triển kinh tế, các công nghệ máy tính, công nghệ quan sát Trái Đất trong nhiều thập niên gần đây. Nhiều nhà nghiên cứu coi thời điểm Alexander von Humboldt, năm 1807 đưa ra khái niệm về cảnh quan như một thực thể tự nhiên có tính thống nhất cao và có một thuộc tính nhất định được nhận biết bởi con người là mốc phát triển của khoa học này [136]. Sự phát triển của cảnh quan học thực sự có bước ngoặt khi năm 1939, Carl Troll sử dụng anh hàng không dé quan trắc cảnh quan và đặt ra mối liên hệ giữa sinh thái va dia lý, giới thiệu khái niệm sinh thái cảnh quan [135]. Tuy nhiên, tới những năm 1960, 1970 của thế kỷ trước, hướng mô tả và diễn giải vẫn chiếm ưu thé trong các nghiên cứu cảnh quan.
Chi từ hơn ba thập niên trở lại đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế và khoa học công nghệ, hướng nghiên cứu nghiêng về mô tả ngoại mạo của cánh quan mới bộc lộ những hạn chế do không đáp ứng được tính cấp bách thực tiễn khi sự thay đổi môi trường diễn ra nhanh chóng cùng hàng loạt những nay sinh và thách thức từ các van dé tự nhiên, kinh tế, xã hội, sinh thái [136]. Lúc này, các nhà cảnh quan với các hướng nghiên cứu khác nhau đã tụ họp lại trong các nhóm và hiệp hội ngành nhằm phát triển lý luận và phương pháp nghiên cứu theo hướng liên ngành, tiến tới sự phát triển bén vững [141. 155, 193] Sự phát triển của khoa học cảnh quan có thể chia theo nhiều giai đoạn khác nhau gắn liền với mục đích khai thác sử dung tài nguyên từng thời kỳ (Bang 1. Giai đoạn đầu tiên được đặc trưng bởi quá trình điều tra và khai thác lãnh thổ, tập trung ở các nước Đông Âu và Xô viết cũ [56, 58].
Các nghiên cứu cảnh quan giai đoạn này tập trung vào cảnh quan địa lý, công tác mô tả và lập bản đồ các hợp phan cảnh quan [136, 138, 140-141, 145-146, 155]. Giai doan phat triển thứ hai được đánh dấu từ định nghĩa của Troll về sinh thái cảnh quan. Thời kỳ này xuất hiện hai trường phái nghiên cứu về cánh quan là trường phái Bac Mỹ tập trung vào hướng sinh thái của cảnh quan trong khi trường phái châu Âu tập trung vào tính ứng dụng của cảnh quan đối với các lĩnh vực khác như phân vùng lãnh thổ, quy hoạch, bảo tồn, đánh giá đất đai [141, 146, 174, 183, 185-186, 191]. Từ những năm 1980, cảnh quan có được những dấu mốc phat triển quan trọng về cả phương pháp nghiên cứu và khái niệm, trong đó hướng sinh thái hóa cảnh quan được nhấn mạnh.
Đây là thời kỳ gắn liền với những vấn dé cấp bách về sự thay đổi môi trường cùng với sự phát triển kinh tế nhanh chóng và các tiến bộ khoa học công nghệ. Có thé kế tên các sự kiện, công trình nghiên cứu đóng vai trò quan trọng trong cảnh quan hiện nay [141]: sự ra đời của Hiệp hội sinh thái cảnh quan thế giới IALE năm 1982 và các tạp chí chuyên ngành về sinh thái cảnh quan [139, 186]. Sự phát triển về phương pháp nghiên cứu gắn liền với công nghệ vũ trụ và công nghệ máy tinh đã biến đối các nghiên cứu nghiêng về mô tả trước kia sang định lượng và mô hình hóa [184, 186]. Đóng góp lớn vào sự phát triển phương pháp là khả năng tiếp cận các dữ liệu, thông tin không gian nhờ công nghệ viễn thám; song song với đó là thông tin địa lý (GIS), công cụ quan trọng trong việc định lượng hóa cảnh quan nhờ vào xây đựng các mô hình thống kê và mô hình không gian.
Trong những năm gần đây, trên quan điểm ứng dụng, nghiên cứu cảnh quan theo hướng sinh thái đã đóng vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề quản lý tài nguyên và phát triển bền vững [156, 192]. Nghiên cứu cảnh quan theo hướng này yêu cầu mức độ phân tích chi tiết có thé đến cấp quần xã, quân thé,. và có thê ứng dụng với từng loải cụ thê. Tuy nhiên, với mục tiêu phục vụ tô chức không gian sử dụng hợp lý tài nguyên và báo vệ môi trường ở cấp tỉnh, hướng nghiên cứu này được luận án tham khảo về mặt phương pháp luận chứ không đi sâu vào thực hiện.
Tình hình nghiên cứu khoa học cảnh quan 6 các Hước Khoa học cảnh quan Nga đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển của cảnh quan học trên thế giới theo hướng bên vững thể hiện qua các nghiên cứu thời kỳ Xô viết [179]. Trong giai đoạn hiện nay, các nghiên cứu cảnh quan ở Nga thé hiện sự gan kết giữa địa lý tự nhiên với dia lý nhân văn [177, 187]. Tại các nước Tây và Bắc Âu, cảnh quan được phát triển theo nhiều cách tiếp cận khác nhau, bắt đầu chủ yếu từ các nhà địa lý. Tại Pháp, nghiên cứu về cảnh quan bắt đầu từ các nghiên cứu của Vidal de la Blache, thé hiện trong các nghiên cứu địa lý vùng trong đó có nhân mạnh về cảnh quan [140].
Tuy hiện nay nhiều nhà địa ly ở Pháp và nhiều nước vùng Địa Trung Hai không nghiên cứu nhiều về cảnh quan mà hướng sang kinh tế, quy hoạch vùng và đô thị hóa, nhưng vẫn có một số nghiên cứu quan trọng như Lebeau (1972) đưa ra nghiên cứu tổng quan các hệ thống tự nhiên trên thế giới, Flatrès (1979) thống kê các nghiên cứu cảnh quan nông thôn tại châu Âu. Phipps (1981, 1984) giới thiệu về cách tiếp cận định lượng trong nghiên cứu động lực và mô hình cảnh quan, hệ thống lý thuyết. Tại bán dao Scandinavia và các nước Baltic, các nha địa lý là những người tiên phong trong phát triển cảnh quan (Brandt 1997). Riêng tại Dan Mạch, hiệp hội cánh quan quốc gia đã quy tụ được rất nhiều nhà địa lý, sinh thái và quy hoạch khác nhau.
Tại Anh, cảnh quan được phát triển theo nhiều cách tiếp cận khác nhau, thậm chí là độc lập với nhau [136]. Hướng nghiên cứu cảnh quan theo các nhà địa lý tập trung vào nghiên cứu lịch sử định cư và cảnh quan văn hóa (Baker và Harley 1973, Roberts 1987), ứng dụng cảnh quan cho bảo tồn. Trong khi đó, các nhà sinh thái học tập trung nhiều vào đa đạng sinh học và động lực cảnh quan, thê hiện qua nhiều chương trình quan trắc cảnh quan (Dovers và Bunce 1998). Các nghiên cứu sử dụng lãnh thé tập trung phát triển hệ thống phân loại dat đai từ anh hàng không (Mitchell 1973).
Hướng nghiên cứu này dẫn đến sự tiếp cận về mặt thực nghiệm rất tỉ mi đối với phân loại và đánh giá đất đai. Hai nước ở các châu lục khác nhưng thuộc khối Thịnh vượng chung là Canada và Australia cũng đi theo hướng tiếp cận nghiên cứu này đối với đánh giá và phân loại đất đai. Sau này, các nghiên cứu dan chuyền sang hướng sinh thái cảnh quan và sinh thái phục hồi [136]. Hà Lan được coi là cái nôi của cảnh quan hiện đại không chỉ bởi vì hội nghị về Sinh thái cảnh quan thống nhất giữa hai trường phái châu Âu và Bắc Mỹ được tô chức lần đầu tại đây (1981) hay là nơi tạp chí Sinh thái cảnh quan được xuất bản mà còn vì là nơi tập trung đông đảo nhà địa lý lịch sử, tự nhiên, sinh học và sinh thái.
Nghiên cứu cảnh quan ở Hà Lan bao trùm nhiều đối tượng. tập trung vào ứng đụng cho các mục đích sử dụng tải nguyên, bảo tồn thiên nhiên và tái tạo cảnh quan, hướng sinh thái hóa cảnh quan với ứng dụng các công nghệ viễn thám và GIS được quan tâm chú trọng [ 136]. Tại Hoa Ky, khoa học cảnh quan đạt được bước tiến bộ đáng kế dưới ảnh hướng bởi nhà địa ly Carl Sauer (Sauer 1963). Sauer dé xuất khái niệm cảnh quan văn hóa “cultural landscape” (với nền tang tự nhiên), đã hình thành nên ý tưởng cốt lõi của trường phái địa lý văn hóa Berkeley (Livingstone 1992 [187]).
Không giống Berg và các nhà cảnh quan Nga, trường phái Berkeley lấy con người và hoạt động của họ làm mối quan tâm chính trong nghiên cứu cảnh quan. Tuy nhiên, mối quan tâm thực sự với cảnh quan chỉ bắt đầu từ sự phát triển của sinh thái cảnh quan [145- 146] với cách tiếp cận nghiêng về phân tích định lượng các mô hình cảnh quan cũng như những van dé nảy sinh trong mối quan hệ giữa các quá trình sinh thái và cau trúc không gian, tinh bat đồng nhất của cảnh quan [136, 141, 185]. Các ứng dụng về mô hình và việc sử dụng các chỉ sô cảnh quan cũng như đại lượng cảnh quan là một 10 phát kiến mới và quan trọng, có ảnh hướng sâu rộng tới các xu hướng nghiên cứu sinh thái cảnh quan tại các nơi trên thế giới. Cùng với các nghiên cứu về lý thuyết, những nghiên cứu ứng dụng cũng được phát triển rất nhanh, tập trung vào quy hoạch và phát triển bên vững (Forman 1998, Antrop 2000) [136].
Các xu hướng nghiên cứu cảnh quan Xu hướng liên ngành Trong xu hướng nghiên cứu hiện đại, hầu hết cảnh quan được coi như một hệ thống sinh thái - xã hội phức tạp (Anderies và nnk., 2004), đòi hỏi có sự tiếp cận liên ngành va da tỷ lệ (da guy 2) [137].