CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 1. Rối loạn phổ tự kỉ 1. Tổng quan Rối loạn phổ tự kỷ (ASD) là một chứng rối loạn thần kinh và phát triển ảnh hưởng đến cách mọi người tương tác với người khác, giao tiếp, học hỏi và cư xử. Mặc dù bệnh tự kỷ có thể được chẩn đoán ở mọi lứa tuổi, nhưng nó được mô tả là “rối loạn phát triển” vì các triệu chứng thường xuất hiện trong 2 năm đầu đời [9].
Theo Cẩm nang Chẩn đoán và Thống kê Rối loạn Tâm thần (DSM-5), một hướng dẫn do Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ tạo ra các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sử dụng để chẩn đoán rối loạn tâm thần, những người mắc ASD thường có: - Khó khăn trong giao tiếp và tương tác với người khác - Sở thích hạn chế và hành vi lặp đi lặp lại - Các triệu chứng ảnh hưởng đến khả năng hoạt động ở trường học, nơi làm việc và các lĩnh vực khác của cuộc sống. Tự kỷ còn được gọi là rối loạn “phổ” vì có nhiều loại và mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng mà mọi người gặp phải [9]. ASD hiện được ước tính xảy ra với tần suất 1% trong dân số nói chung khiến chúng trở thành một trong những rối loạn phát triển thần kinh phổ biến nhất [10]. Trong một nghiên cứu từ Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) và Cơ quan Quản lý Dịch vụ và Tài nguyên Y tế (HRSA), tỷ lệ trẻ em từ 3 – 17 tuổi được chẩn đoán mắc ASD tăng từ 1,1 – 2,5% trong năm 2009 – 2017 [11].
Ở Việt Nam theo nghiên cứu của Nguyễn Lan Trang năm 2012 có 0,51% cho kết quả tỷ lệ trẻ em từ 18 – 60 tháng tuổi tại thành phố Thái Nguyên mắc ASD [12]. Bên cạnh đó, nghiên cứu của Nguyễn Thị Hương Giang lại cho thấy năm 3 2012 với trẻ từ 18 – 24 tháng tuổi tại 2 huyện của tỉnh Thái Bình có tỷ lệ 0,46% trẻ mắc ASD [13]. Các yếu tố nguy cơ và sinh lý bệnh 1. Các yếu tố do môi trường Nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ giữa ASD và tuổi của mẹ khi mang thai.
Các bà mẹ trên 40 tuổi cho thấy tỷ lệ con sinh ra mắc ASD cao hơn. Các yếu tố không đặc hiệu trong thai kỳ bao gồm điều kiện trao đổi chất, tăng cân, huyết áp cao, nhiễm khuẩn, nhiễm virus tại bệnh viện hoặc tiền sử gia đình có người mắc bệnh tự miễn có liên quan tới nguy cơ mắc ASD và chậm phát triển ở trẻ sơ sinh. Một số nghiên cứu điều tra thuốc mà người mẹ sử dụng trong thời kỳ mang thai cho thấy rằng mẹ tiếp xúc với valproate trước khi sinh làm tăng nguy cơ trẻ mắc ASD. Các thuốc chống trầm cảm, bao gồm tái hấp thu serotonin có chọn lọc không cho thấy những rủi ro rõ ràng, bất chấp những lo ngại trước đó [14].
Trẻ sinh non (dưới 32 tuần), nhẹ cân (dưới 1500g), nhỏ hơn hoặc lớn hơn so với tuổi có liên quan độc lập với việc gia tăng nguy cơ mắc ASD mặc dù dấu hiệu của rủi ro là không rõ ràng. Tuy nhiên, những trẻ em này nên được theo dõi ASD trong giai đoạn sơ sinh và vài năm sau đó [14]. Nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc ASD ở nam giới luôn cao hơn rõ rệt từ 4 – 5 lần so với nữ giới [15], [16], [17]. Điều này có thể do các nguyên nhân tác động đến ASD thường liên quan đến yếu tố gen và hormone giới tính [18].
Yếu tố di truyền học Một phân tích tổng hợp năm 2016 báo cáo rằng 74 – 93% nguy cơ ASD là do di truyền, mặc dù các yếu tố phi di truyền cũng rất quan trọng. Nghiên cứu chỉ ra rằng 7 – 20% trẻ mắc ASD sau khi anh chị em của trẻ được chẩn đoán mắc ASD [19]. Hiện nay, các nhà khoa học đang quan tâm đến yếu tố di truyền và gen. ASD có nguyên nhân di truyền phức tạp, bao gồm biến đổi số lượng bản sao, đột biến 4 gen đơn lẻ, nghiên cứu liên kết gen trong toàn bộ hệ gen và các ước tính hiện tại cho thấy các yếu tố di truyền chiếm khoảng 10 – 20% trong số báo cáo các trường hợp ASD [19].
Các rối loạn đơn gen nổi trội liên quan đến ASD là hội chứng nhiễm sắc thể X dễ gãy, hội chứng Rett, sao chép MECP2, hội chứng Angelman [20]. Hội chứng Fragile X (hay được gọi là hội chứng gãy nhiễm sắc thể X) được gây ra bởi sự đột biến của bộ ba nucleotid CGG lặp lại ở vùng chưa được dịch mã của gen Fragile X Mental Retardation 1 (FMR1) dẫn đến sự tăng cường quá trình sao chép của nó và đi kèm với sự ức chế phiên mã. FMRP được mã hoá bởi gen FMR1, là một protein gắn ARN điều chỉnh quá trình dịch mã, tính ổn định và vận chuyển của một số protein mã hoá mARN cần thiết cho tính dẻo của synap thần kinh và có liên quan đến việc tăng nguy cơ mắc ASD, chẳng hạn như SHANK3, PSD-95, PTEN, CYFIP1, neuroligin và neurexin. Trong khi 1 – 3% trẻ em được chẩn đoán tự kỷ có hội chứng Fragile X, ít nhất một nửa số trẻ mắc hội chứng Fragile X có hành vi tự kỷ.
Tỷ lệ hiện mắc ước tính của ASD là 30 ~ 60% (chỉ dành cho nam) [20]. Tương tự với bệnh xơ cứng củ - Tuberous Sclerosis Complex (TSC) là một rối loạn di truyền đặc trưng bởi các khối u lành tính trong não và các cơ quan khác. TSC được gây ra bởi đột biến gen hemartin và tuberin mã hoá TSC1 và TSC2 tương ứng. Khoảng 25 – 50% người khuyết tật trí tuệ mắc TSC đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán tự kỷ nhưng chỉ có 1,1 – 1,3% số người được chẩn đoán mắc ASD ban đầu có TSC [21].
Hội chứng Rett là một rối loạn thần kinh tiến triển gây ra bởi đột biến mất chức năng trong gen mã hóa protein-2-methyl-CpG (MECP2). MECP2 có chức năng như một bộ điều hòa phiên mã toàn cầu trong cả việc ức chế và kích hoạt các gen mục tiêu, cũng như một bộ điều chỉnh của quá trình tách ARN. Tỷ lệ mắc tự kỷ ước tính là 61% (chỉ dành cho nữ). Sự nhân đôi của vùng Xq28 chứa gen 5 MECP2 gây ra hội chứng sao chép MECP2.
Tỷ lệ tự kỷ ước tính là hơn 90% (chỉ nam giới) cho hội chứng này [20]. Hội chứng Angelman là một rối loạn đơn sinh với tỷ lệ mắc ASD ước tính là 34% [20]. Nhiều trường hợp mắc hội chứng Angelman do đột biến mất chức năng ở alen mẹ của gen Ubiquitin-protein ligase E3A (UBE3A). Chức năng của UBEA3A như một phức hợp protein gắn ubiquitin ligase và như một protein đồng hoạt hóa phiên mã.
Gen UBE3A được biểu hiện ở các tế bào thần kinh, nhưng không có ở tế bào thần kinh đệm ở vùng hải mã và tiểu não. Sự biểu hiện quá mức của UBE3A cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh tự kỷ được gọi là hội chứng trùng lặp 15q [22]. Các nghiên cứu đột biến trong các hệ thống mô hình động vật đã cho thấy một số protein được bảo tồn điều chỉnh cấu trúc và chức năng synap thần kinh trong các kiểu hình giống ASD. Trong một số trường hợp, người mắc ASD đã được chứng minh là có sự gián đoạn trong các gen mã hóa các protein synap này dẫn đến khả năng các protein đó có thể đóng vai trò là mục tiêu điều trị [19].
Các nghiên cứu di truyền gần đây đã xác định neurobeachin (NBEA) là gen được ứng cử cho ASD sau các báo cáo ban đầu rằng gen NBEA bị phá vỡ dẫn đến chứng tự kỷ vô căn ở nam thanh thiếu niên [22]. Nghiên cứu này được tiếp tục thực hiện và có các báo cáo bổ sung về bệnh nhân ASD bị xóa gen NBEA [23], [24]. Gen NBEA ở vị trí dễ gãy phổ biến FRA13A và mã hóa một loại protein ban đầu được xác định là protein neo A-kinase (AKAP) liên kết nhiều tiểu đơn vị điều hoà của protein kinase A (PKA), được xác định là protein đặc hiệu của tế bào thần kinh, có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của não. Các nghiên cứu trong các hệ thống mô hình động vật đã chỉ ra rằng NBEA tham gia vào một loạt các quá trình tế bào như tạo võng mạc, trao đổi màng tế bào và giải phóng chất dẫn truyền thần kinh, củng cố trí nhớ ngắn hạn, sự phát triển và chức năng tiểu cầu.
Một trong số những tác nhân thuộc yếu tố môi trường cũng cho thấy có liên quan tới bệnh tự kỷ là do trẻ bị phơi nhiễm với một số thuốc và chất gây độc như acid valproic, ethanol, thalidomid, thủy ngân, chì,…. Tuy nhiên, nguyên nhân 6 chính xác và các yếu tố rủi ro đáng tin cậy cho ASD là chưa có nhiều cơ sở nhận biết [25], [26]. Thuốc điều trị Không có cách chữa hoàn toàn ASD, các phương pháp điều trị bằng thuốc được sử dụng để giảm các triệu chứng liên quan với ASD [26]. Các cuộc thử nghiệm dược lý tâm thần đang được tiến hành để kiểm tra sự hiệu quả của các loại thuốc làm tăng tương tác xã hội và giảm các hành vi phá hoại ở trẻ và vị thành niên mắc ASD.
Không một loại thuốc đặc hiệu nào là hiệu quả với các triệu chứng chính của ASD, nhưng các thuốc đã cho thấy là có hứa hẹn trong việc làm giảm bớt tăng động, ám ảnh và các hành vi cưỡng bức, cáu kỉnh, giận dữ và các hành vi tự gây tổn thương [27]. Các nghiên cứu cũng cho thấy một số các triệu chứng về hành vi và giao tiếp cũng có liên quan đến hệ thống serotonin, vai trò của thụ thể serotonin 2A (HTR2A) trong việc điều chỉnh cân bằng serotonin ở trung tâm và ngoại vi được xem là vấn đề quan trọng cho rối loạn serotonin trong ASD, nên vấn đề điều trị hóa dược cũng đã được ứng dụng [28], [29]; các thuốc có tác động đến ASD như: Risperidone; Methylphenidate; Naltrexone; Lamotrigine; Amantadin (thuốc chẹn thụ thể N – methyl – D – aspartate); Các thuốc chống trầm cảm: Clomipramine, Venlafaxin, Fluoxetin; Tetrahydrobiopterin; Atomoxetin; Donepezil (thuốc ức chế acetylcholinesterase); Levetiracetam (thuốc kháng động kinh thế hệ mới). Parikh MS và đồng nghiệp năm 2008 tổng hợp nghiên cứu của các tác giả cho thấy có 5 loại thuốc có hiệu quả trên các triệu chứng của ASD so với giả dược: Tianeptine, Methylphenidate, Risperidone, Clonidin và Naltrexone. Tuy nhiên chỉ có Risperidone và Methylphenidate mới cho thấy có nhiều nghiên cứu hơn [30].1: Hiệu quả của các nhóm thuốc đến các triệu chứng của ASD [29].