MỞ ĐẦU 1. Trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, sự tăng trưởng về kinh tế và công nghiệp không ngừng đã góp phần nâng cao chất lượng cuộc sông, thu nhập bình quân đầu người của các nước trên thế giới ngày càng tăng, đời sống vật chất và tinh thần được cải thiện. Tài chính được cải thiện và trong bối cảnh ô nhiễm môi trường, an toan thực phẩm thì các sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên tốt cho sức khỏe dang được xã hội quan tâm và lựa chọn. Với sự đa dạng về thực vật, các loại dược liệu quý ở Việt Nam sẽ tạo điều kiện thuận lợi để sản xuất một số sản phẩm chức năng tự nhiên, tiện dụng, có lợi cho sức khỏe con người.
Trà là một loại đồ uống có lợi đối với sức khỏe con người như trà Tram huong. Tra Tram hương được san xuất bằng lá của cây Dó bau. Sau khi thu hoạch Tram hương dé lay gỗ và Tram, người ta sẽ thu hoạch tiếp phan lá trà. Theo những nghiên cứu mới nhất, trong lá Dó bầu có nhiều các hợp chất có lợi cho sức khỏe như phenolic, benzophenones, xanthonoids, flavonoids, terpenoid và các hợp chất oxy hóa khác (Adam, 2017), đặc biệt là mangiferin là hợp chất xanthonoids chính có trong lá Dó bầu chiếm 1,7% trong lá khô (Đặng Uy Nhân, 2010).
Hoạt tính phố rộng sinh học của mangiferin trong lá Dó bầu quả thực là một hợp chất quý giá đối với sức khỏe con người. Mangiferin là một hợp chất xanthonoids, cho thấy tác dụng được lý như chống oxy hóa, chống tiểu đường, giảm dau, chống viêm, nhuận trang, chống ung thư.Ngoài ra, trong lá Dó bầu cũng chứa một lượng tinh dầu tram đáng kể. Trà Tram hương được xem là được liệu quý, có giá trị cao và được rất nhiều người ở các nước châu Á ưa chuộng. Tại nhiều nước phát triển như Nhật Bản, Singapore, Dai Loan, Malaysia,.
cuộc song công nghiệp tat bật khiến người ta không thé chuẩn bị cho mình một tách trà theo cách truyền thống, đó là cơ hội cho những nhà kinh doanh, những nhà sản xuất nắm bắt cơ hội đưa ra những dự án cho những cách chế biến các loại trà có thể dùng uống liền mà không cần qua các công đoạn pha chế rườm rà. Có hai loại trà uống liền mang tính đột phá trong phong cách dùng trà là trà túi lọc và trà hòa tan. Trà hòa tan là thức uống hàng ngày tiện lợi và mang tính đột phá. Trà hòa tan hiện nay được sản xuất bằng phương pháp sấy phun hay sây đông lạnh từ dịch chiết lá 1 đã qua chế biến.
Ưu điểm của loại trà này là hòa tan hoàn tan rất nhanh, không dé lại cặn, cách sử dụng đơn giản, đã được phối trộn san với đường, hương vi và các thành phần khác tạo ra nhiều dòng sản phẩm, đa dạng hóa sự lựa chọn sản pham nén rat duoc người tiêu dùng ưa chuộng. Tuy nhiên tra hòa tan phải có vi ngọt, vị chua, vi chát. ở mức độ nào đó mới hợp thị hiếu người tiêu dùng. Thị trường Việt Nam hiện đang có các sản phâm như trà xanh hòa tan, trà chanh hòa tan, trà gừng hòa tan, trà atiso hòa tan.
nhưng chưa có nhiều các sản phâm trà hòa tan sản xuất từ lá Do bầu. Vì những lý do trên, được sự phân công của Khoa Công Nghệ Hóa Học Và Thực Phẩm, dưới sự hướng dẫn của thầy PGS.TS Trương Vĩnh, em thực hiện đề tài “Nghién cứu cảm quan trà hòa tan nhiều năng lượng từ dịch chiết lá Dé bau”. Ý nghĩa nghiên cứu. Ý nghĩa khoa học.
— Khảo sát công thức phối trộn dé tạo ra hai dong sản phẩm trà Trầm hòa tan. — Các số liệu trong đề tài nghiên cứu có thê làm tài liệu tham khảo cho những người nghiên cứu sản xuất sản phẩm tương tự. — Từ kết quả nghiên cứu của dé tài cũng như những kiến nghị dé xuất trong đề tài sẽ là cơ sở dé người nghiên cứu khác có thé phát triển ý tưởng, hình thành các đề tài nghiên cứu mới, góp phần bổ sung thêm kiến thức và kinh nghiệm cho việc sản xuất tra thao được hòa tan. Ý nghĩa thực tiễn.
— Tạo ra dòng sản phâm mới trên thị trường, đa dạng hóa sản phẩm tra hòa tan. Người tiêu dùng có nhiều sự lựa chọn sản phẩm có lợi cho sức khỏe hơn. — Nâng cao giá trị sử dụng trà Trầm giúp cho người nông dân tăng thu nhập và cải thiện đời sống. Mục đích nghiên cứu.
— Tạo ra trà Trầm hòa tan có năng lượng cao cho người tiêu dùng bình thường. Nội dung nghiên cứu. — Sấy phun bột trà từ dịch chiết 14 Dé bầu chưa được phối trộn thêm phụ gia như đường, acid citric,. VỚI chất mang là maltodextrm.
— Phối trộn bột trà say phun từ dịch chiết lá Do bầu với các thành phần phụ khác. Khao sát công thức phối chế tối ưu nhất bằng phương pháp cảm quan cho điểm. Chat lượng sản phẩm được đánh giá bằng các thí nghiệm cảm quan sơ bộ, sảng lọc và thí nghiệm tối ưu hóa theo phương pháp bề mặt đáp ứng. CHUONG II: TONG QUAN TÀI LIEU 2.
Tống quan về cây Do bau H1, Theo Dược điền Việt Nam, Dó bầu được phân loại theo hệ thống: Giới: Plantae, Angiospermae, Eudicots, Rosids. Tén khoa hoe: Aquilaria crassna Pierre. Tên thong thường: cây Tram hương, cây Dó bau, Tram do, Trà hương. Vườn cay Dé bau.
Đặc điểm thực vật 2) B1: E1, a) Than cay Do bau là một loại cây gỗ lớn, cao khoảng 30-40m, phổ biến nhất là từ 15-25m, đường kính thân khoảng 60-80cm, thân thang. Vỏ ngoài màu nâu bạc hay màu xám trang, nhăn, mỏng khoảng 2-4mm. Bên trong vỏ có mau trắng, nhiều xơ, dé bóc ra khỏi thân. Thịt gỗ màu vàng nhạt, chất gỗ mềm.
Cành mảnh, phủ lông mềm màu vàng xám hay nâu nhạt. Rễ phát triển mạnh ra bốn hướng, ăn sâu xuống đất. 4 b) Lá Lá đơn, mọc so le, có hình bầu dục, hình trứng hay hình ngọn giáo, nhọn ở đầu. Phiến lá mỏng dài từ 8-15cm, rộng § 4-6cm.
Mặt trên phiến lá nhẫn bóng, có màu xanh đậm, mặt dưới nhạt hơn có lông mịn. Cuống lá dai từ 4-5mm, cũng có LY lông. Gân bên 15-19 đôi, thay đổi thất | thường. c) Hoa Hoa lưỡng tính, hoa mọc thành chùm hay thành tán ở nách lá hoặc ở đầu cảnh.
Hoa nhỏ, màu vàng lục, trắng tro hoặc vàng xám. Cuống hoa có lông mong, dài 2-3cm. Đài hoa hình chuông (loa kèn) có lông ở miệng. (Nguồn: Dang Uy Nhân, 2010) d) Quả Quả nang gần giống hình trứng ngược hoặc quả lê, dai 4em, rộng 2,5-3em, dày 2cm.
Phía ngoài có lông mềm, thưa, ngắn; mặt trong gần như nhẫn. Vỏ quả mở thành 2 mảnh xốp, khi chín tự tách ra, thường mỗi quả chỉ có 1-2 hạt. Mùa hoa tháng 7,8. Quả chín vào tháng 9,10.
(Nguồn: Đặng Uy Nhân, 2010) e) Hạt Hạt có 2 phan, phần chính ở phía trên hình nón, phần kéo đài ở phía dưới. Hạt khi chín có màu nâu, phần vỏ ngoài cùng hóa gỗ cứng, bên trong mềm có chứa nhiều dầu. Một đặc điểm cần chú ý là hạt Dó bầu có đới sống rất ngắn, không lưu trữ lâu ngày được. Trong tự nhiên khi hạt chín va rụng xuống đất néu gap điều kiện độ âm thích hợp sẽ nảy mầm ngay.
Việc lưu trữ hạt kéo đài quá 1 tuần lễ, tỉ lệ nảy mam sẽ giảm 80% hoặc không nảy mam. a) Trên thế giới. Trong tự nhiên, chi Trầm Aquilaria phân bố khắp các nước vùng chau A từ Trung - Cận Đông, Nam A, Trung Quốc cho đến các nước Đông Nam A. Ở vùng Trung — Cận Đông, cây Do bầu mọc nhiều trên những rang núi hiểm trở phía Nam A Rap.
Ở Trung Quốc, cây mọc tập trung ở một số tỉnh phía Nam, nhiều nhất là Quảng Đông và Hải Nam, nhưng chất lượng Trầm không cao (Thổ Tram). Vung nay có 3 loại chính, đó là A. Ở vùng Nam A có nhiều ở An Độ, chủ yếu là loài A. Vùng Đông Nam Á bao gồm các quốc gia: Malaysia: có 4 loài: A.
beccariana van Tiegh, A. hirta Ridl va A. Thái Lan: chủ yếu là loài A. subintegra Ding Hou.
Indonesia: tập trung chủ yêu ở đảo Sumatra, có 4 loài: A. beccariana van Tiegh, A. Philippin: bao gồm các loài: A. Singarpore: chủ yếu là loài 4.
Campuchia: cây Dó bầu thường mọc phân tán trong các khu rừng nam ven biên, có 2 loài chính là: A. crassna Pierre ex Lecomte, A. baillonii Pierre ex Lecomte. Dựa vào những mau vật được thu thập và lưu trữ từ thông báo về các nguồn Tram hương và tài liệu điều tra, cây Dó bầu phân bố dọc theo dãy Trường Sơn suốt chiều dài đât nước.
Mién Bắc: Hoàng Liên Sơn,Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hòa Bình, Quảng Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn. Miền Trung: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa. Tây Nguyên: Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk. Miền Nam: Bình Thuận, Lâm Đồng, Bình Phước, Đồng Nai, Tây Ninh, An Giang, Kiên Giang, đảo Phú Quốc.
Đặc biệt thấy nhiều trên suốt chiều dài của dãy Trường Sơn, song do sự khai thác bừa bãi của dân, đến nay chỉ còn thấy cây Dó bầu ở những vùng xa xôi, đầu nguồn rừng gia. Phân loại [> BI, Giống Aquilaria có tat cả 25 loài (Species) khác nhau gồm: Bảng 2. Aquilaria beccariana van Tiegh 14. Aquilaria hirta Ridl 15.
Aquilaria subintegra Ding Hou 3. Aquilaria microcarpa Baill 16. Aquilaria grandiflora Bth 4. Aquilaria cumingiana (Decne) Ridl 17.
Aquilaria filaria (Oken) Merr 18. Aquilaria moszkowskii Gilg 6. Aquilaria brachyantha (Merr. Aquilaria tomentosa Gilg 7.
Aquilaria urdanetensis (Elmer) Hall. Aquilaria baillonii Pierre ex Lecomte 8. Aquilaria citrinaecarpa (Elmer) Hall. Aquilaria sinensis Merr 9.
Aquilaria apiculata Elmer 22. Aquilaria apiculata Merr 10. Aquilaria parvifolia (Quis. Aquilaria acuminate (Merr.
Aquilaria rostrata Ridl 24. Aquilaria crassna Pierre ex Lecomte 25. Aquilaria banaense Pham-hoang-Ho (2005, Viét Nam) 2. Hoat tinh sinh hoc.
Cay Do bau có khả năng hình thành một sản phẩm đặc biệt và có giá trị cao đó là Tram hương. Sự tạo tram của cây là sự biến đối của các phan từ gỗ do tác động bệnh lý bởi vét nứt gãy, sự xâm nhập của các loài nam. xảy ra tự nhiên từ năm nay sang nam khác. Khi bị nhiễm bệnh, cây sẽ tích tụ nhựa đề tự băng bó vết thương, xem như là một khả năng tự đề kháng để chống lại bệnh nên tạo ra trầm kỳ.
Đặc điểm nổi bật của Trầm hương là tỏa mùi thơm đặc biệt lúc đốt hoặc chưa đốt. Khi hàm lượng dầu lớn hơn 25% thì Trầm hương có thể chìm trong nước. Loại Trầm hương cao cấp có thể đạt hàm lượng 60-80%.