Tổng quan luận án

Đàm phán thương mại quốc tế (DP-TMQT) là hoạt động giao tiếp thương mại đối ngoại giữa các quốc gia. Đối với Việt Nam, trong bối cảnh nền kinh tế mở cửa, thu hút vốn đầu tư nước ngoài để phục vụ công nghiệp hóa và hiện đại hóa, việc nghiên cứu và giảng dạy ngoại ngữ chuyên ngành, đặc biệt là ngôn ngữ đàm phán kinh tế, đặt ra yêu cầu cấp bách cho công tác giáo dục và đào tạo.

Về khoảng trống nghiên cứu, các tài liệu và công trình trên thế giới trước thời điểm tác giả thực hiện nghiên cứu chủ yếu tiếp cận hoạt động đàm phán dưới góc độ kỹ thuật và nghiệp vụ kinh tế đối ngoại. Chưa có một công trình hoàn chỉnh nào khảo sát toàn diện quá trình đàm phán từ góc độ ngôn ngữ học. Các tiếp cận về diễn ngôn đàm phán (DNDP) trước đó chỉ dừng lại ở mức độ lẻ tẻ, dưới dạng các nhận xét bổ trợ hoặc các đoạn hội thoại mẫu phục vụ cho việc rèn luyện nghiệp vụ.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể theo 4 nội dung:

  1. Nghiên cứu các cơ sở lý luận làm nền móng cho việc tiếp cận hoạt động của các yếu tố ngôn ngữ hình thành diễn ngôn đàm phán thương mại quốc tế.
  2. Nghiên cứu các bình diện vĩ mô của diễn ngôn DP-TMQT (tiếng Anh và tiếng Việt), mô hình hóa cấu trúc diễn ngôn đàm phán ở cấp tổng thể và cấp đơn vị nhằm xác định các đặc điểm chung của trường, phương thức và không khí diễn ngôn.
  3. Nghiên cứu cơ chế cung - cầu trong diễn ngôn DP-TMQT, tập trung vào các hình thức biểu hiện cầu về thông tin (các loại phát ngôn hỏi - PNH) và sự tương thích của các phát ngôn trả lời (PNTL) đối với phát ngôn hỏi xét từ nhiều bình diện.
  4. Nghiên cứu hoạt động của một số tham biến văn hóa thường được đề cập trong giao tiếp Đông - Tây (như thiên hướng cá nhân - tập thể, thiên hướng cộng tác - cạnh tranh) và biểu hiện cụ thể của các tham biến này trong diễn ngôn DP-TMQT tiếng Anh và tiếng Việt.

Đối tượng nghiên cứu tổng thể của đề tài là hoạt động của các yếu tố ngôn ngữ dưới sự chi phối của ngữ cảnh đàm phán, nơi thông tin được trao đổi nhằm đạt được các mục tiêu lợi nhuận kinh tế và duy trì mối quan hệ đối tác giữa các nhân vật giao tiếp đại diện cho các thể chế kinh tế và nền văn hóa khác nhau. Trong quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các quốc gia nói tiếng Anh, tiếng Anh và tiếng Việt giữ vai trò bình đẳng, đều là ngôn ngữ chính thức để ghi nhận kết quả đàm phán.

Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào quá trình trao đổi thông tin trong giai đoạn tiến hành đàm phán. Luận án không nghiên cứu các loại văn bản có khuôn mẫu định hình mang tính quốc tế như thư tín thương mại hay hợp đồng kinh tế đã ký kết. Đồng thời, do đặc thù của nguồn ngữ liệu thành văn và ghi âm, luận án không khảo sát các yếu tố giao tiếp phi ngôn ngữ (non-verbal language) như cử chỉ, giọng nói hay nét mặt.

Ký hiệu / Viết tắt Thuật ngữ đầy đủ Ý nghĩa sử dụng trong luận án
CTGT / ĐTGT Chủ thể giao tiếp / Đối tượng giao tiếp Người nói (người phát) và người nghe (người tiếp nhận)
NVGT / NCGT Nhân vật giao tiếp / Ngữ cảnh giao tiếp Các bên tham gia và bối cảnh diễn ra đàm phán
DN / DNDP Diễn ngôn / Diễn ngôn đàm phán Lời nói, văn bản gắn với ngữ cảnh hành chức
DP-TMQT Đàm phán thương mại quốc tế Hoạt động đàm phán trong lĩnh vực thương mại quốc tế
PN / PNH / PNTL / PNKL Phát ngôn / PN hỏi / PN trả lời / PN khuyến lệnh Các đơn vị phát ngôn phân loại theo chức năng
FTA Face Threatening Act Hành vi đe dọa thể diện
IFID Illocutionary Force Indicating Device Phương tiện biểu thị lực ngôn trung (hiệu lực ở lời)
TGD Tiền giả định Tri thức nền tảng mặc định giữa các bên giao tiếp
HH&DV Hàng hóa và dịch vụ Khung nội dung trao đổi vật chất trong đàm phán

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm lại lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ học thế kỷ XX, từ mô hình giao tiếp cổ điển của Aristotle đến các chuyển dịch lý thuyết quan trọng:

  • Mô hình nhị phân ngôn ngữ và lời nói (langue/parole) của Saussure (1916).
  • Chủ nghĩa cấu trúc miêu tả của Bloomfield (1933) tập trung vào xử lý cấu trúc bề mặt.
  • Trường phái cấu trúc - chức năng Anh của Firth (1935, 1957) và Halliday (1964, 1976) đặt ngôn ngữ vào ngữ cảnh tình huống và ngữ cảnh văn hóa.
  • Lý thuyết ngữ pháp tạo sản của Chomsky (1980) với sự phân biệt giữa ngôn ngữ bên trong (I-language) và ngôn ngữ bên ngoài (E-language).
  • Lý thuyết hành vi ngôn ngữ của Austin (1962) và Searle (1969, 1975, 1979) phân loại các lực ngôn trung và điều kiện may mắn của lời nói.
  • Nguyên tắc cộng tác hội thoại cùng các phương châm hội thoại của Grice (1975).
  • Thuyết thể diện và hành vi đe dọa thể diện (FTA) của Goffman (1967), Brown và Levinson (1978, 1987).
  • Các nghiên cứu đối chiếu diễn ngôn và phong cách giao tiếp văn hóa của Kaplan (1966) và Wallace & Metcalf (1993).
  • Các công trình nghiên cứu đàm phán từ góc độ nghiệp vụ và tâm lý học xã hội của Fisher & Ury (1981), Lewicki (1985), Byrnes (1986), Nirenberg (1989), Savage (1989).
  • Tại Việt Nam, luận án kế thừa các quan điểm ngôn ngữ học của Nguyễn Lai về hoạt động ngôn ngữ, Cao Xuân Hào, Hoàng Trọng Phiến, Diệp Quang Ban, Nguyễn Tài Cẩn về cấu trúc câu - phát ngôn và tính mạch lạc của văn bản, cùng các công trình nghiên cứu văn hóa của Trần Ngọc Thêm, Trần Đình Nghiêm.

Vị trí của luận án được xác lập tại điểm giao thoa giữa lý luận ngôn ngữ học ứng dụng, phân tích diễn ngôn, ngữ dụng học và đàm phán kinh tế đối ngoại. Công trình giải quyết khoảng trống về sự thiếu vắng một khung lý thuyết ngôn ngữ học chuyên biệt để phân tích diễn ngôn đàm phán thương mại song ngữ Anh - Việt.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sự tích hợp giữa các lý thuyết ngôn ngữ học, ngữ dụng học và lý thuyết đàm phán:

  • Quan điểm hoạt động và hệ thống: Kế thừa quan điểm của Nguyễn Lai và Chomsky, luận án nhìn nhận diễn ngôn là hoạt động có mục đích tạo ra tác động trong thực tại. Diễn ngôn hoạt động như một hệ thống hai mặt: mặt ngoại tại (vĩ mô) gắn với ngữ cảnh tương tác và mặt nội tại (vi mô) biểu hiện qua cấu trúc tuyến tính, tầng bậc và phạm trù.
  • Lý thuyết ngữ cảnh và biến thể ngôn ngữ: Vận dụng quan điểm của Malinowski, Firth, Hymes và Lewis về ngữ cảnh tình huống, kết hợp mô hình biến thể ngôn ngữ của Halliday, McIntosh & Strevens (1964) phân định biến thể theo người sử dụng (phương ngữ) và biến thể theo sự sử dụng (phong cách chức năng/register). Ba bình diện vĩ mô của phong cách chức năng bao gồm: Trường (Field), Phương thức (Mode) và Không khí (Tenor).
  • Lý thuyết hành vi ngôn ngữ và dụng học: Tiếp thu bảng phân loại hành vi ngôn từ của Searle (cầu khiến, trình bày, cam kết, biểu cảm, tuyên bố) cùng phương tiện biểu thị lực ngôn trung (IFID); nguyên tắc cộng tác hội thoại của Grice và thuyết thể diện (lịch sự âm tính, lịch sự dương tính) của Brown & Levinson.
  • Lý thuyết trò chơi và động cơ giao tiếp: Khảo sát đàm phán như một trò chơi tương tác (thắng/thua, thua/thua, thắng/thắng gắn với thế cân bằng Nash); phân tích động cơ lợi ích qua thang bậc nhu cầu của Maslow; phân loại sức mạnh theo Boulding (đe dọa, trao đổi, thân thiện) và ma trận lựa chọn chiến lược đàm phán của Savage (cộng tác, cạnh tranh, dung hòa, né tránh).
Bình diện phân tích Lý thuyết / Khung tham chiếu Nội dung triển khai trong luận án
Cấp độ Vĩ mô Thuyết phong cách chức năng (Halliday), Ngữ cảnh tình huống (Firth, Hymes) Xác lập Trường diễn ngôn (chủ đề, thuật ngữ, cấu trúc tham thoại), Phương thức (kênh dẫn, cấu trúc tuyến tính, cú pháp) và Không khí (quan hệ quyền lực, thái độ, tính lịch sự).
Cấp độ Vi mô Thuyết hành vi ngôn ngữ (Austin, Searle), Nguyên tắc cộng tác (Grice), Thuyết thể diện (Brown & Levinson) Khảo sát cơ chế cung - cầu thông tin, các loại phát ngôn hỏi (trực tiếp, gián tiếp) và phát ngôn trả lời (đồng ý, từ chối, khước từ, lảng tránh).
Chiến lược & Văn hóa Thuyết trò chơi (Nash), Ma trận chiến lược (Savage), Các cặp tham biến văn hóa Đánh giá tác động của mục tiêu lợi ích lên chiến lược ngôn từ; khảo sát các tham biến văn hóa Đông - Tây trong ngữ liệu thực địa.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định lượng và định tính:

  • Phương pháp thống kê: Định lượng tần số xuất hiện của các đơn vị ngôn ngữ (thuật ngữ thương mại, kiểu loại phát ngôn, đại từ nhân xưng, câu bị động) trên các nguồn ngữ liệu thực địa nhằm rút ra các kết luận định tính về đặc trưng diễn ngôn.
  • Phương pháp miêu tả và so sánh đối chiếu: Miêu tả chi tiết các khung chủ đề, cấu trúc hồi, episode, tham thoại, cấu trúc bề mặt và cấu trúc sâu của phát ngôn; từ đó đối chiếu song ngữ giữa tiếng Anh và tiếng Việt để tìm ra điểm tương đồng và khác biệt.

Nguồn tư liệu/dữ liệu của luận án bao gồm:

  1. Nhóm ngữ liệu mẫu: Các giáo trình kỹ thuật đàm phán thương mại quốc tế ([80], [89], [128]) và giáo trình tiếng Anh thương mại, tiếng Anh đàm phán ([F12], [F13], [F14], [F15]).
  2. Nhóm ngữ liệu thực địa: Các biên bản chi tiết, chính thức của các cuộc đàm phán thương mại song phương giữa Việt Nam và Hoa Kỳ do phía Hoa Kỳ công bố và xuất bản ([F8], [F9], [F10]).
  3. Nhóm ngữ liệu hội nghị song ngữ: Các văn bản đàm phán song ngữ Anh - Việt ([F1], [F2], [F3], [F4], [F5], [F11]) do tác giả trực tiếp thu thập trong quá trình làm công tác phiên dịch và hiệu đính tài liệu. Tác giả chỉ sử dụng phần văn bản ngữ nguồn gốc (NN) của mỗi bên nhằm bảo đảm tính nguyên bản (authenticity) cho mục đích so sánh đối chiếu.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của luận án

Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ nền tảng lý thuyết phục vụ cho việc phân tích diễn ngôn đàm phán thương mại quốc tế. Tác giả làm rõ các khái niệm cốt lõi:

  • Bản chất của quá trình giao tiếp từ sơ đồ truyền thống (Aristotle, Saussure) đến các mô hình hiện đại có sự tham gia của ngữ cảnh (Kinnard).
  • Cơ chế nhận thức của chủ thể giao tiếp thông qua thuyết khung (frame theory của Minsky), thuyết lược đồ (schema theory của Rumelhart, Anderson & Pearson) và kịch bản (script).
  • Thuyết thể diện và các hành vi đe dọa thể diện (FTA) của Brown & Levinson; tác động của việc giữ thể diện làm suy giảm hoặc biến đổi phương châm về lượng và chất trong nguyên tắc cộng tác Grice.
  • Khái niệm tiền giả định (TGD) và tập hợp tiền giả định (presupposition pool) như một bộ lọc điều tiết tính mạch lạc và độ tương thích thông tin.
  • Sự phân biệt giữa bình diện vĩ mô (Trường, Thức, Không khí) và bình diện vi mô (tuyến tính, tầng bậc, phạm trù) của diễn ngôn; bản chất của phát ngôn như một đơn vị tế bào trong nghiên cứu diễn ngôn; các khái niệm văn bản, phong cách và phong cách chức năng.
  • Ứng dụng lý thuyết trò chơi, thuyết nhu cầu của Maslow, thuyết cấu trúc sức mạnh của Boulding và ma trận lựa chọn chiến lược đàm phán của Savage vào phân tích diễn ngôn.

Chương 2: Cơ chế tương tác của diễn ngôn DP-TMQT hay là diễn ngôn DP-TMQT nhìn từ cấp độ vĩ mô: cấp độ giao tiếp

Chương 2 đi sâu khảo cứu diễn ngôn đàm phán thương mại quốc tế từ cấp độ vĩ mô thông qua ba tham số của phong cách chức năng:

  • Trường diễn ngôn (Field): Được định hình bởi chủ đề đàm phán (danh mục các vấn đề kinh tế, kỹ thuật, pháp lý) và các đơn vị tổ chức như hồi đàm phán, tham thoại, episode. Luận án thống kê các biến tố của trường bao gồm tần suất đại từ nhân xưng và tỷ lệ các kiểu loại phát ngôn trên ngữ liệu thực địa (ngữ liệu F8, F9, F1). Hằng số của trường được xác lập thông qua mật độ thuật ngữ chuyên ngành trên tổng số từ (ngữ liệu F10, F8, F9) và độ dài của phát ngôn.
  • Phương thức diễn ngôn (Mode): Phân tích cấu trúc tổ chức tổng thể của diễn ngôn đàm phán, cấu trúc một xuyên thoại và các đặc điểm cú pháp song ngữ. Tác giả khảo sát các cấu trúc câu chủ động, câu bị động trong các tham thoại tiếng Anh và tiếng Việt trên ngữ liệu F1 và F4, làm rõ phương thức tổ chức mạch lạc của diễn ngôn dạng nói và dạng viết được chuyển mã.
  • Không khí diễn ngôn (Tenor): Thể hiện qua quan hệ quyền lực và khoảng cách xã hội giữa các bên đàm phán. Không khí được biểu hiện qua:
    1. Thái độ đối với người nghe: sử dụng các dấu hiệu lịch sự (please, xin), các từ mang nghĩa tích cực, các lượng từ bất định (quantifiers) và hệ thống trợ từ tình thái.
    2. Thái độ đối với thông điệp: sử dụng các yếu tố che chắn (hedges), thì quá khứ tình thái (modal past), thể tiếp diễn, cấu trúc phát vấn và so sánh hơn.
    3. Ý định của người nói: biểu đạt thông qua hành vi ngôn ngữ gián tiếp (indirect speech acts), hàm ý hội thoại (conversational implicature) và hàm ý quy ước (conventional implicature).
Ngữ liệu khảo sát Chỉ số ngôn ngữ thống kê Kết quả phát hiện chính
F8, F9, F10 Tỷ lệ thuật ngữ chuyên ngành thương mại Chiếm tỷ lệ ổn định (hằng số của trường), phản ánh tính chất chuyên môn hóa cao của giao tiếp thương mại đối ngoại.
F8, F9 Biến thiên tỷ lệ đại từ nhân xưng trên tổng số phát ngôn Phản ánh tính chất tương tác nội bộ hoặc tương tác quốc tế, thể hiện mức độ đại diện cho thể chế.
F1, F4 Tỷ lệ câu bị động trong tiếng Anh và tiếng Việt Tiếng Anh sử dụng câu bị động với tần suất cao nhằm tạo tính khách quan và giảm nhẹ trách nhiệm cá nhân; tiếng Việt có xu hướng chuyển đổi cấu trúc tương đương phù hợp ngữ dụng.

Chương 3: Cơ chế giao dịch của diễn ngôn DP-TMQT hay là diễn ngôn DP-TMQT nhìn từ cấp độ vi mô: cung - cầu thông tin, hàng hoá và dịch vụ

Chương 3 phân tích chi tiết cơ chế vi mô của các cặp trao đáp xoay quanh trục cung - cầu:

  • Cơ chế đòi hỏi thông tin trực tiếp: Phân tích các loại phát ngôn hỏi tổng quát (PNH có/không), phát ngôn hỏi có đại từ nghi vấn (PNH có ĐTNV) và các phát ngôn khuyến lệnh (PNKL) yêu cầu cung cấp hàng hóa, dịch vụ hoặc thông tin. Tác giả so sánh đặc điểm cú pháp và hiệu lực tại lời của PNKL giữa tiếng Anh và tiếng Việt.
  • Cơ chế đòi hỏi thông tin gián tiếp: Phân tích các chiến lược làm mềm hóa yêu cầu nhằm bảo vệ thể diện:
    1. PNH đề nghị (requesting).
    2. PNH làm mềm hóa PNKL.
    3. PNH làm mềm hóa câu hỏi lựa chọn có/không.
    4. PNH làm mềm hóa câu hỏi có đại từ nghi vấn.
    5. PNH dưới dạng thức trần thuật.
  • Về cung trong diễn ngôn đàm phán: Khảo sát cách thức phản hồi đối với yêu cầu hoặc mệnh lệnh (chấp nhận thực hiện hoặc từ chối thực hiện); cách thức cung cấp thông tin khi vế cung là một nhận định. Tác giả phân loại các dạng thức trả lời:
    • Trả lời trực tiếp vào điểm hỏi.
    • Trả lời khẳng định ("Có, Vâng, Đồng ý").
    • Trả lời phủ định ("Không, không đồng ý").
    • Tránh nói trực tiếp "có" hoặc "không".
    • Biểu thị thái độ chưa quyết.
    • Khước từ trả lời (trả lời mà không trả lời).

Chương 4: Một số tham biến văn hoá thường hay được nhắc đến trong giao tiếp Đông-Tây và trường hợp diễn ngôn DP-TMQT (tiếng Anh và tiếng Việt)

Chương 4 kiểm chứng thực tế hoạt động của các tham biến văn hóa trong các cuộc đàm phán thương mại cụ thể:

  • Khảo sát các cặp tham biến văn hóa: thiên hướng cá nhân - thiên hướng tập thể; thiên hướng cạnh tranh - thiên hướng cộng tác; tư duy tuyến tính - tư duy vòng vèo; chiến lược giao tiếp trực tiếp - gián tiếp; tính hình thức - nội dung; lịch sự dương tính - lịch sự âm tính; tính trang trọng - xuồng xã.
  • Phân loại phát ngôn hỏi theo hiệu lực ở lời gián tiếp trong tương quan văn hóa: PNH định hướng, PNH không định hướng, PNH trình bày thông tin, PNH kích thích suy nghĩ, PNH kích thích ra quyết định, PNH dằn dỗi, PNH xỏ xiên.
  • Khảo sát phương tiện biểu thị lực ngôn trung (IFID) "đề nghị" trong tiếng Việt và cách thức biểu thị sự đồng ý hoặc không đồng tình trực tiếp/gián tiếp.
  • Thông qua việc đối chiếu tỷ lệ phần trăm các kiểu loại phát ngôn trong các tham thoại tiếng Anh và tiếng Việt (ngữ liệu F1 và F4), tác giả chỉ ra rằng trong đàm phán thương mại quốc tế, các quy tắc nghiệp vụ chuyên môn và mục tiêu kinh tế giữ vai trò chi phối chủ đạo, từ đó bác bỏ khuynh hướng định kiến văn hóa cứng nhắc cho rằng phương Đông luôn vòng vo, gián tiếp còn phương Tây luôn tuyến tính, trực tiếp.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới trên 4 phương diện:

  1. Về mặt lý luận: Đưa ra một khung lý thuyết mới để tiếp cận diễn ngôn đàm phán thương mại quốc tế, xem xét diễn ngôn đồng thời trên cả bình diện vĩ mô (sự tương tác với ngữ cảnh giao tiếp) và bình diện vi mô (cơ chế tổ chức nội tại), có tính đến đặc thù chuyên môn và văn hóa của các chủ thể giao tiếp.
  2. Về miêu tả ngôn ngữ: Mô hình hóa cấu trúc diễn ngôn đàm phán thương mại quốc tế theo hệ thống thứ bậc (Tương tác - Xuyên thoại - Trao đáp - Tham thoại - Hành vi); làm rõ các đặc trưng về trường, phương thức, không khí diễn ngôn và cơ chế vận hành cung - cầu thông tin, hàng hóa, dịch vụ trong tổ chức nội bộ của diễn ngôn tiếng Anh và tiếng Việt.
  3. Về đối chiếu ngôn ngữ: Thực hiện đối chiếu cấu trúc và chiến lược ngôn từ trong đàm phán thương mại quốc tế giữa tiếng Anh và tiếng Việt dựa trên các kết quả miêu tả và số liệu thống kê cấp 1 thu thập từ ngữ liệu đàm phán thực địa.
  4. Về ảnh hưởng của văn hóa: Khảo sát sự chi phối của các cặp tham biến văn hóa đối với diễn ngôn đàm phán thương mại quốc tế; cung cấp luận cứ thực nghiệm để bác bỏ khuynh hướng nghiên cứu giao tiếp dựa trên các định kiến văn hóa thuần túy.

Về kiến nghị và giải pháp, luận án đề xuất:

  • Vận dụng các kết quả nghiên cứu vào việc cải tiến, đổi mới chương trình và biên soạn giáo trình giảng dạy ngoại ngữ chuyên ngành kinh tế, ngoại thương tại các trường đại học chuyên ngữ ở Việt Nam.
  • Chuyển trọng tâm đào tạo từ việc dạy cấu trúc ngữ pháp thuần túy sang phát triển năng lực dụng học và kỹ năng điều hành diễn ngôn đàm phán thực tế cho sinh viên và cán bộ kinh tế đối ngoại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về dữ liệu và phạm vi: Luận án chỉ tập trung vào quá trình trao đổi thông tin trong đàm phán, chưa bao quát được toàn bộ các giai đoạn chuẩn bị văn bản trước đàm phán (thư tín thương mại) hoặc giai đoạn ký kết văn bản pháp lý (hợp đồng thương mại quốc tế). Do giới hạn của nguồn ngữ liệu thành văn và băng ghi âm thực địa, nghiên cứu chưa có điều kiện khảo sát các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ (cử chỉ, nét mặt, ánh mắt, khoảng cách không gian).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát các thể loại văn bản khác trong toàn bộ quy trình giao dịch thương mại quốc tế; nghiên cứu sâu hơn về sự kết hợp giữa ngôn ngữ lời nói và các yếu tố phi ngôn ngữ trong các cuộc đàm phán trực tiếp có ghi hình.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Ngôn ngữ học, Lý luận ngôn ngữ, Ngôn ngữ học ứng dụng: Tham khảo Chương 1 để nắm bắt phương pháp xây dựng khung lý thuyết phân tích diễn ngôn kết hợp ngữ dụng học và thuyết trò chơi; tham khảo Chương 2 và Chương 3 về phương pháp mô hình hóa cấu trúc hội thoại và phân tích hành vi ngôn từ.
  • Giảng viên và nhà biên soạn chương trình ngoại ngữ chuyên ngành: Tham khảo phần kết luận và các mô hình phát ngôn hỏi - đáp thực địa để xây dựng giáo trình tiếng Anh thương mại, tiếng Anh đàm phán sát với thực tiễn giao tiếp kinh tế đối ngoại.
  • Chuyên viên đàm phán kinh tế, cán bộ ngoại giao và thương mại quốc tế: Tham khảo Chương 3 và Chương 4 nhằm nâng cao nhận thức về các chiến lược làm mềm hóa yêu cầu, kỹ thuật giữ thể diện, phương thức xử lý câu hỏi gián tiếp và nhận diện đúng vai trò của các yếu tố văn hóa trong tương tác song phương.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án mô hình hóa cấu trúc diễn ngôn đàm phán thương mại quốc tế theo các cấp độ nào?

Luận án mô hình hóa cấu trúc diễn ngôn đàm phán theo hệ thống thứ bậc giảm dần từ tổng thể đến đơn vị cơ sở: Tương tác -> Xuyên thoại (Episode) -> Trao đáp (Exchange) -> Tham thoại (Move) -> Hành vi (Act). Trong đó, phát ngôn là đơn vị tế bào mang chức năng thông báo trong ngữ cảnh.

2. Lý thuyết trò chơi (Game theory) được tác giả vận dụng như thế nào trong phân tích diễn ngôn đàm phán?

Lý thuyết trò chơi được vận dụng để lý giải động cơ lựa chọn chiến lược ngôn từ của các bên đàm phán trong điều kiện thiếu hụt thông tin (thông qua nghịch lý "sự bế tắc của người tù"). Luận án phân loại kết quả đàm phán thành ba dạng thức: Thắng/Thua (Win/Lose - tổng zero), Thua/Thua (Lose/Lose - tổng âm) và Thắng/Thắng (Win/Win - tổng dương gắn với thế cân bằng Nash), từ đó giải thích cách thức chủ thể lựa chọn phong cách và không khí diễn ngôn tương ứng.

3. Khung lý thuyết của Halliday về phong cách chức năng được triển khai qua những tham số nào trong Chương 2?

Tác giả triển khai phân tích diễn ngôn đàm phán thương mại quốc tế cấp độ vĩ mô qua ba tham số phong cách chức năng của Halliday:

  • Trường (Field): Phạm vi hoạt động thương mại quốc tế, chủ đề đàm phán, tỷ lệ thuật ngữ chuyên ngành và các kiểu loại phát ngôn.
  • Phương thức (Mode): Hình thức tổ chức văn bản, cấu trúc cú pháp câu chủ động/bị động và tính chất liên kết mạch lạc.
  • Không khí (Tenor): Mối quan hệ quyền lực giữa các nhân vật giao tiếp, thể hiện qua các phương tiện chỉ dẫn lịch sự, từ ngữ tình thái, các yếu tố che chắn (hedges) và hành vi ngôn ngữ gián tiếp.

4. Cơ chế đòi hỏi thông tin gián tiếp trong Chương 3 bao gồm những dạng thức phát ngôn nào?

Cơ chế đòi hỏi thông tin gián tiếp nhằm bảo vệ thể diện được luận án phân thành 5 dạng thức phát ngôn hỏi (PNH):

  1. PNH mang tính chất đề nghị.
  2. PNH đóng vai trò làm mềm hóa phát ngôn khuyến lệnh.
  3. PNH làm mềm hóa câu hỏi lựa chọn có/không.
  4. PNH làm mềm hóa câu hỏi có đại từ nghi vấn.
  5. PNH xuất hiện dưới dạng thức câu trần thuật.

5. Quan điểm của luận án về ảnh hưởng của các tham biến văn hóa Đông - Tây trong đàm phán là gì?

Dựa trên kết quả khảo sát ngữ liệu thực địa song ngữ Anh - Việt, luận án chứng minh rằng trong đàm phán thương mại quốc tế, các yếu tố quy chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ kinh tế và mục tiêu lợi ích đóng vai trò quyết định cấu trúc diễn ngôn. Do đó, luận án bác bỏ quan điểm định kiến văn hóa cứng nhắc cho rằng phong cách giao tiếp phương Đông hoàn toàn vòng vo, gián tiếp còn phương Tây luôn luôn tuyến tính, trực tiếp.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả là công trình chuyên khảo thuộc chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ, tiên phong khảo sát toàn diện diễn ngôn đàm phán thương mại quốc tế trên ngữ liệu đối chiếu tiếng Anh và tiếng Việt. Bằng việc kết hợp phương pháp miêu tả cấu trúc, phân tích ngữ dụng học và thống kê định lượng trên ngữ liệu thực địa, tác giả đã mô hình hóa thành công cơ chế tương tác vĩ mô (Trường, Phương thức, Không khí) và cơ chế giao dịch vi mô (Cung - Cầu thông tin và dịch vụ). Kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần làm sáng tỏ bản chất của ngôn ngữ đàm phán kinh tế đối ngoại mà còn cung cấp cơ sở khoa học thiết thực phục vụ công tác biên soạn chương trình và giảng dạy ngoại ngữ chuyên ngành tại Việt Nam.