Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn của tác giả Trần Quốc Việt, chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu (Mã số: 62 22 02 41), được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2017 dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Vũ Đức Nghiệu. Đề tài tập trung nghiên cứu: "Thuật ngữ kinh tế thương mại tiếng Anh và các biểu thức tương đương của chúng trong tiếng Việt".
- Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Sau 30 năm đổi mới và hội nhập quốc tế, đặc biệt từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007, nhu cầu sử dụng tiếng Anh trong hoạt động kinh tế thương mại (KTTM) gia tăng mạnh mẽ. Mặc dù vậy, hệ thống thuật ngữ KTTM trong tiếng Anh và tiếng Việt chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện. Thực trạng này dẫn đến nhiều khó khăn trong quá trình đàm phán, trao đổi, ký kết hợp đồng thương mại quốc tế, cũng như trong hoạt động dịch thuật tài liệu chuyên ngành và biên soạn học liệu. Do đó, việc nghiên cứu đối chiếu thuật ngữ KTTM tiếng Anh với các biểu thức tương đương trong tiếng Việt là yêu cầu cấp thiết nhằm phục vụ việc chuẩn hóa hệ thống thuật ngữ KTTM tiếng Việt.
- Mục đích nghiên cứu: Tìm hiểu các đặc điểm của thuật ngữ KTTM tiếng Anh, đối chiếu với các biểu thức tương đương trong tiếng Việt để phát hiện các nét đồng nhất và khác biệt; đồng thời đánh giá các vấn đề dịch thuật thuật ngữ nhằm định hướng chuẩn hóa thuật ngữ KTTM tiếng Việt, phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu và biên soạn từ điển chuyên ngành.
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận án xác định và giải quyết 5 nhiệm vụ cụ thể:
- Hệ thống hóa những quan điểm lí luận về thuật ngữ và thuật ngữ KTTM ở Anh và Việt Nam, qua đó xác lập cơ sở lí luận cho luận án.
- Khảo sát hệ thống thuật ngữ KTTM tiếng Anh về đặc điểm cấu tạo.
- Đối chiếu, phát hiện sự tương đồng và khác biệt của hệ thống thuật ngữ KTTM tiếng Anh với các thuật ngữ KTTM trong tiếng Việt.
- Đánh giá những vấn đề về dịch thuật thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng Việt.
- Đề xuất tiêu chuẩn để chuẩn hóa hệ thống thuật ngữ KTTM tiếng Việt trong quá trình dịch thuật và biên soạn từ điển.
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống thuật ngữ KTTM tiếng Anh và các biểu thức tương đương của chúng trong tiếng Việt, biểu thị các khái niệm và đối tượng chuyên môn trong lĩnh vực KTTM (giao dịch hàng hóa, buôn bán, phương thức thanh toán, điều khoản hợp đồng).
- Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn ở các thuật ngữ đang được sử dụng trong lĩnh vực KTTM, phản ánh qua các từ điển, sách báo và giáo trình chuyên ngành hiện hành. Luận án không nghiên cứu lịch sử biến đổi của thuật ngữ qua các thời kỳ, đồng thời không khảo sát tên riêng của các tổ chức quốc tế, cơ quan, nhân vật lịch sử và nhãn hàng liên quan đến KTTM.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tình hình nghiên cứu thuật ngữ kinh tế thương mại tại Anh
Tại Anh, nghiên cứu thuật ngữ bắt đầu từ các công trình từ điển giải nghĩa ban đầu như của Richard, H. (1552, 1604). Đến thế kỷ 18 và 19, các nhà kinh tế học và ngôn ngữ học đã đề cập đến thuật ngữ KTTM qua các ấn phẩm chuyên khảo: Smith, A. với The Wealth of Nations (1776); Mill, J. với Commerce defended (1808) và The Distribution of Gains of commerce among the Commercial World (1829); Torrens, R. với An essay on Money and Paper currency (1821). Sang thế kỷ 20, Holmstrom, J. đặt nền móng quan trọng cho thuật ngữ học hiện đại qua các công trình: How translators can help in improving scientific terminology (1951), How translators can contribute to improving scientific terminology (1955), và Bibliography of Interlingual Scientific and Technical Dictionaries (1956). Các tổ chức như Hội đồng Anh (thành lập năm 1934), Viện nghiên cứu ngôn ngữ (1960) và Hiệp hội thuật ngữ Anh đã thúc đẩy việc nghiên cứu nguồn gốc, phương thức cấu tạo từ tố, phụ tố và vay mượn thuật ngữ KTTM từ các gốc Latin, Hy Lạp, Pháp, Đức, Ý.
Tình hình nghiên cứu thuật ngữ tại Việt Nam
Lịch sử nghiên cứu thuật ngữ tiếng Việt được luận án phân chia thành 3 giai đoạn:
- Giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945: Nghiên cứu khởi đầu với các cuộc thảo luận về phương thức vay mượn và đặt thuật ngữ trên báo chí: Dương Quảng Hàm (1919), Vũ Công Nghi (1922), Nguyễn Triệu Luật (1926) trên báo Nam Phong; Nguyễn Ứng (1922) và Nguyễn Văn Thịnh trên báo Hữu Thanh; Lê Văn Kim (1932) trên Khoa học tạp chí; Nguyễn Duy Thanh (1942), Đặng Văn Dư (1942), Hồng Đạo Nguyên (1942) trên báo Khoa học. Dấu mốc học thuật quan trọng nhất giai đoạn này là công trình Danh từ khoa học (1942) của Hoàng Xuân Hãn với 8 tiêu chuẩn và 3 phương sách đặt thuật ngữ (tiếng phổ thông, phiên âm, gốc chữ Nho), tiếp theo là các công trình của Lê Khắc Thiền và Phạm Khắc Quảng (1943), Nguyễn Hữu Quán và Lê Văn Căn (1945), Đào Văn Tiến (1945).
- Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975: Nhà nước ban hành Quy định tạm thời về nguyên tắc biên soạn danh từ khoa học tự nhiên và nguyên tắc xây dựng thuật ngữ xã hội (1960). Ở miền Nam, Lê Văn Thới chủ trì Ủy ban soạn thảo danh từ khoa học (1960) và Ủy ban quốc gia soạn thảo danh từ chuyên môn (1967), xây dựng các bản nguyên tắc biên soạn và xuất bản hơn 50 tập danh từ chuyên môn đối chiếu.
- Giai đoạn từ năm 1975 đến nay: Các hội nghị chuẩn hóa chính tả và thuật ngữ được tổ chức tại Hà Nội, Huế, TP. Hồ Chí Minh (1978–1979). Bộ Giáo dục ban hành Quyết định 2000/QĐ và 2001/QĐ (1982) thành lập Hội đồng Chuẩn hóa Chính tả và Hội đồng Chuẩn hóa Thuật ngữ, công bố quy nghị năm 1983 xác định nguyên tắc phiên chuyển theo tự dạng chữ viết Latin là chính. Nhiều luận án tiến sĩ về thuật ngữ chuyên ngành đã được thực hiện: Vũ Quang Hào (1991, quân sự), Nguyễn Thị Bích Hà (2000, KTTM Nhật – Việt), Vương Thị Thu Minh (2005, y học), Vũ Thị Thu Huyền (2013, xây dựng), Lê Thanh Hà (2014, du lịch), Quách Thị Gấm (2014, báo chí).
Khoảng trống luận án giải quyết
Trong mảng thuật ngữ KTTM tiếng Việt, các tài liệu chủ yếu dừng lại ở các cuốn từ điển song ngữ hoặc đa ngữ đối chiếu (như từ điển của Nguyễn Đức Dy et al., 1985; Nguyễn Văn Hảo, 1992; Lê Văn Tề, 1996; Lê Kim Thùy, 2002; Trần Vũ Khanh, 2003). Luận án của tác giả Trần Quốc Việt là công trình chuyên khảo đối chiếu có hệ thống giữa thuật ngữ KTTM tiếng Anh và các biểu thức tương đương trong tiếng Việt trên cả bình diện cấu tạo, định danh ngữ nghĩa và tương đương dịch thuật.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm công cụ
- Bản chất của thuật ngữ: Luận án tổng hợp hai khuynh hướng tiếp cận:
- Khuynh hướng chức năng: Vinokur, G. (1939) coi thuật ngữ là từ có chức năng định danh đặc biệt; Vinogradov, V. (1978) xem thuật ngữ là từ chuyên môn thực hiện chức năng định nghĩa logic.
- Khuynh hướng gắn với khái niệm: Đại từ điển bách khoa toàn thư Xô Viết (1976), Gerd, A. (1978), Reformatskij, A. (1978), Marrian Webster Dictionary (1964), Thorsten, T. (1999), Hornby, A. (2000), ISO (2000), UNESCO (2005), Erhard, O. (2003). Tại Việt Nam, luận án kế thừa quan điểm của Nguyễn Văn Tu (1960, 1968), Đỗ Hữu Châu (1962, 1981), Lưu Vân Lăng (1971, 1977, 1987, 1998), Hoàng Văn Hành (1983), Đái Xuân Ninh et al. (1986), Vũ Quang Hào (1991), Nguyễn Thiện Giáp (2010), Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu và Hoàng Trọng Phiến (2009), Hà Quang Năng (2009), Nguyễn Đức Tồn (2010), Lê Quang Thiêm (2001, 2015).
- Định nghĩa thao tác của luận án: Thuật ngữ KTTM là những từ hay cụm từ cố định dùng để biểu đạt các khái niệm, sự vật, hiện tượng hoặc đối tượng trong lĩnh vực KTTM.
- Phân biệt thuật ngữ với các đơn vị liên quan:
- Thuật ngữ và danh pháp: Luận án phân biệt dựa trên Vinokur, G. (1939), Nguyễn Như Ý (1998), Nguyễn Thiện Giáp (2010), Hà Quang Năng (2010). Danh pháp mang tính quy ước, dán nhãn sự vật đơn nhất cụ thể (tên cây cỏ, tên ngân hàng cụ thể như Ngân hàng Thế giới), không phản ánh nội hàm khái niệm logic trừu tượng như thuật ngữ (khoản vay, lợi nhuận, cổ phiếu).
- Thuật ngữ và từ thông thường: Thuật ngữ có nội hàm sâu, ngoại diên hẹp, trung hòa về tu từ, không mang sắc thái biểu cảm, không bị phân cắt thực tế theo lối ngữ cảm thông thường (Đỗ Hữu Châu và Đỗ Việt Hùng, 2005; Teresa, 1999).
- Thuật ngữ và từ nghề nghiệp: Từ nghề nghiệp gắn với hoạt động sản xuất thủ công, mang tính cụ thể, gợi hình cao và không tạo thành hệ thống khái niệm khép kín (Prohorova, N., 1978; Đỗ Hữu Châu và Đỗ Việt Hùng, 2005).
- Yêu cầu khi xây dựng thuật ngữ: Bốn yêu cầu căn bản được đúc kết gồm: 1) Tính chính xác; 2) Tính hệ thống; 3) Tính quốc tế; 4) Tính ngắn gọn, dân tộc và dễ hiểu (kế thừa tiêu chuẩn ISO, Dafydd, G., 1999; Hoàng Xuân Hãn, 1942; Lê Khả Kế, 1967; Lê Văn Thới, 1973; Lưu Vân Lăng, 1977, 1987; Hồng Dân, 1979; Nguyễn Hỹ Hậu, 2001).
- Lý thuyết dịch thuật: Dựa trên quan điểm của Steiner, G. (1998), Nida, E. (1969), Jakobson, R. (1959 với 3 loại hình: dịch nội ngữ, dịch liên ngữ, dịch liên ký hiệu), Catford, J. (1969), Bell, R. (1991), Koller, W. (1995), Nord, C. (2007), và Munday, J. (2009).
Nguồn ngữ liệu nghiên cứu
Ngữ liệu được trích xuất từ 6 cuốn từ điển đối chiếu KTTM Anh – Việt và giáo trình chuyên ngành:
| STT | Tên tài liệu / Từ điển | Tác giả | Nhà xuất bản & Năm |
|---|---|---|---|
| 1 | Từ điển kinh tế - thương mại Anh - Việt | Trần Văn Chánh | NXB Thống Kê, Hà Nội, 1996 |
| 2 | Từ điển kinh tế Quốc tế Anh - Việt | Hoàng Văn Châu, Đỗ An Chi | NXB Thống Kê, Hà Nội, 2003 |
| 3 | Từ điển thuật ngữ kinh tế - thương mại Anh - Việt | Nguyễn Hữu Dụ | NXB Giao thông Vận tải, TP.HCM, 2009 |
| 4 | Từ điển kinh tế - thương mại Anh - Việt | Đức Minh | NXB Thống Kê, Hà Nội, 2005 |
| 5 | Từ điển kinh tế - thương mại ứng dụng Anh - Việt | Minh Trang, Phương Thúy | NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2008 |
| 6 | Từ điển thuật ngữ kinh tế - thương mại Anh - Việt | Đỗ Hữu Vinh | NXB Giao thông Vận tải, TP.HCM, 2009 |
| 7 | Các giáo trình chuyên ngành và văn bản song ngữ | Market Leader, Economics in English... | Sử dụng trong các cơ sở đào tạo đại học |
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích thành tố trực tiếp: Mô tả cấu trúc ngữ pháp và thành tố tạo nên thuật ngữ, xác lập các mô hình cấu tạo của thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng Việt.
- Phương pháp so sánh đối chiếu: Xác định điểm tương đồng và dị biệt giữa hai hệ thống thuật ngữ về mặt hình thức cấu tạo và nội dung định danh.
- Ứng dụng lí thuyết dịch: Phân tích mức độ tương đương dịch thuật giữa thuật ngữ nguồn và đích để đề xuất chuẩn hóa.
- Thủ pháp thống kê định lượng: Đo lường tỷ lệ phân bố số lượng thành tố, các mô hình cấu trúc và kiểu tương đương dịch thuật.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN
Chương này tập trung xác lập hệ thống cơ sở lí thuyết nền tảng phục vụ toàn bộ luận án:
- Khái quát định nghĩa thuật ngữ, phân định ranh giới giữa thuật ngữ với danh pháp, từ thông thường và từ nghề nghiệp.
- Phân tích 4 đặc tính và yêu cầu xây dựng thuật ngữ khoa học: tính chính xác, tính hệ thống, tính quốc tế, và tính ngắn gọn/dân tộc/dễ hiểu.
- Xác định nội hàm thuật ngữ KTTM: coi KTTM là một tiểu loại kinh tế phản ánh các hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa, cung ứng dịch vụ, thanh toán, tín dụng và hợp đồng thương mại.
- Điểm luận chi tiết lịch sử nghiên cứu thuật ngữ tại Anh và 3 thời kỳ phát triển thuật ngữ tại Việt Nam (trước 1945, 1945–1975, và từ 1975 đến nay).
- Trình bày các vấn đề lí luận dịch thuật, các quan điểm về tương đương dịch thuật (Nida, Catford, Koller, Nord) nhằm chuẩn bị khung phân tích cho Chương 3.
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM THUẬT NGỮ KINH TẾ THƯƠNG MẠI TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
Chương này đi sâu vào phân tích ngữ liệu trên hai bình diện chính: hình thức cấu tạo và đặc điểm định danh ngữ nghĩa.
- Phân tích cấu tạo theo số lượng thành tố: Khảo sát các cấu trúc thuật ngữ KTTM tiếng Anh từ 1 đến 5 thành tố cấu tạo:
- Thuật ngữ 1 thành tố (đơn tố/từ đơn, từ phái sinh, từ ghép).
- Thuật ngữ 2 thành tố (tổ hợp danh từ + danh từ, tính từ + danh từ...).
- Thuật ngữ 3 thành tố, 4 thành tố và 5 thành tố.
- So sánh đối chiếu mô hình cấu tạo Anh – Việt: Thống kê sự phân bố tỷ lệ thuật ngữ theo số lượng thành tố và xác lập các mô hình kết hợp cú pháp tương ứng trong tiếng Việt, làm rõ trật tự thành tố chính – phụ giữa hai ngôn ngữ khác loại hình (tiếng Anh có trật tự bổ nghĩa đứng trước, tiếng Việt có trật tự định ngữ đứng sau).
- Đặc điểm định danh và phân loại phạm trù ngữ nghĩa:
- Xác định khái niệm, quá trình và phương thức định danh thuật ngữ KTTM.
- Khảo sát kiểu định danh theo phạm trù ngữ nghĩa và phương thức biểu thị.
- Phân loại toàn bộ hệ thống thuật ngữ KTTM thành 6 nhóm phạm trù nội dung ngữ nghĩa chính:
Nhóm 1: Thuật ngữ chỉ phương tiện, cơ quan thanh toán
Nhóm 2: Thuật ngữ chỉ địa điểm, cơ quan nơi diễn ra hoạt động KTTM
Nhóm 3: Thuật ngữ chỉ chứng từ
Nhóm 4: Thuật ngữ chỉ thuế
Nhóm 5: Thuật ngữ chỉ chủ thể (người) tham gia hoạt động KTTM
Nhóm 6: Thuật ngữ chỉ hoạt động mua bán và trao đổi hàng hóa trong KTTM
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ VỀ TƯƠNG ĐƯƠNG DỊCH THUẬT THUẬT NGỮ KINH TẾ THƯƠNG MẠI TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
Chương 3 giải quyết trọng tâm ứng dụng dịch thuật và chuẩn hóa:
- Phân tích các kiểu tương đương dịch thuật:
- Phân loại theo cấp độ tổ chức từ – ngữ: tương đương cấp độ từ – từ, từ – cụm từ, cụm từ – từ, cụm từ – cụm từ.
- Phân loại theo số lượng thuật ngữ tương đương: tương đương 1 – 1 (một thuật ngữ tiếng Anh tương ứng một thuật ngữ tiếng Việt), tương đương 1 – nhiều (một thuật ngữ tiếng Anh có nhiều biểu thức tiếng Việt dịch giải hoặc đồng nghĩa), tương đương nhiều – 1, và tương đương 0 (khoảng trống từ vựng, thuật ngữ tiếng Anh chưa có từ tương đương trong tiếng Việt phải dùng giải nghĩa hoặc vay mượn).
- Đánh giá tiêu chí đảm bảo tương đương: Xem xét các yếu tố về chuẩn ngữ nghĩa, ngữ dụng, tính chính xác khoa học và tính phù hợp phong cách trong dịch thuật ngữ KTTM.
- Định hướng và nguyên tắc chuẩn hóa thuật ngữ KTTM tiếng Việt:
- Phân tích thực trạng chuyển dịch thuật ngữ KTTM tiếng Việt hiện nay (tình trạng dịch thiếu nhất quán, lạm dụng dịch thô, dịch nghĩa đen gây sai lệch khái niệm chuyên môn).
- Đề xuất các nguyên tắc chuẩn hóa: bảo đảm tính chính xác của khái niệm kinh tế, tuân thủ quy tắc ngữ pháp và cấu tạo từ tiếng Việt, bảo đảm tính hệ thống trong các trường thuật ngữ liên quan.
- Nêu rõ các điều cần tránh khi xây dựng và chuyển dịch thuật ngữ KTTM tiếng Việt mới (tránh dịch rườm rà, tránh tạo từ mơ hồ, tránh dùng từ đồng âm gây nhầm lẫn nội hàm).
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lí luận
- Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống hóa và đối chiếu tương đối toàn diện về thuật ngữ KTTM giữa hai ngôn ngữ Anh và Việt trong chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu.
- Cung cấp danh mục miêu tả đầy đủ các thành tố và mô hình cú pháp tham gia cấu tạo thuật ngữ KTTM trong tiếng Anh và tiếng Việt.
- Bổ sung cơ sở lí luận về tương đương dịch thuật chuyên ngành, làm rõ mối quan hệ giữa đặc điểm loại hình ngôn ngữ (ngôn ngữ biến tố như tiếng Anh và ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt) với việc chuyển dịch thuật ngữ chuyên ngành.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Đề xuất các phương án, giải pháp dịch thuật chuẩn xác từ tiếng Anh sang tiếng Việt đối với các nhóm thuật ngữ KTTM, hỗ trợ loại bỏ hiện tượng dịch tùy tiện, thiếu chuẩn mực.
- Cung cấp nguồn tư liệu học thuật phục vụ trực tiếp cho việc biên soạn, thẩm định và chỉnh lý giáo trình, tài liệu giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành KTTM tại các trường đại học, cao đẳng.
- Hỗ trợ thiết thực cho công tác biên soạn từ điển chuyên ngành KTTM Anh – Việt và Việt – Anh đạt tính chuẩn xác và tính hệ thống cao hơn.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Áp dụng nhất quán các nguyên tắc chuẩn hóa thuật ngữ KTTM: ưu tiên các đơn vị ngắn gọn, thuần Việt hoặc Hán – Việt quen thuộc đã định hình trong hệ thống khái niệm kinh tế; chỉ dùng phương thức phiên âm hoặc giữ nguyên dạng khi khái niệm mang tính quốc tế cao và chưa có từ ngữ tương đương thích hợp.
- Xây dựng hội đồng liên ngành giữa các nhà ngôn ngữ học và các chuyên gia kinh tế thương mại để thẩm định và ban hành danh mục thuật ngữ KTTM chuẩn hóa dùng trong các văn bản quy phạm pháp luật và giáo trình đào tạo quốc gia.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Theo phạm vi nghiên cứu do tác giả tự xác định, luận án chỉ khảo sát các thuật ngữ KTTM được ghi nhận trong 6 cuốn từ điển đối chiếu và một số giáo trình, văn bản song ngữ hiện hành; không nghiên cứu lịch sử phát triển, biến đổi qua các thời kỳ lịch sử của thuật ngữ; không khảo sát tên các tổ chức quốc tế, tên cơ quan, tên danh nhân và nhãn hàng thương mại.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng khảo sát ngữ liệu thuật ngữ KTTM trong các hợp đồng thương mại quốc tế thực tế, chứng từ xuất nhập khẩu và các văn kiện pháp lý thương mại song phương/đa phương.
- Nghiên cứu sự phát triển và biến đổi của thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng Việt trong bối cảnh thương mại điện tử, kinh tế số và công nghệ tài chính mới xuất hiện.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng và hoạt động chuyên môn:
- Giảng viên và sinh viên ngành Ngôn ngữ học, Ngôn ngữ Anh: Tham khảo khung lí thuyết so sánh đối chiếu ngôn ngữ, phương pháp phân tích thành tố cấu tạo thuật ngữ và phương thức định danh.
- Người làm công tác dịch thuật chuyên ngành KTTM: Sử dụng các bảng phân loại tương đương dịch thuật và các giải pháp chuyển dịch ở Chương 3 để nâng cao độ chính xác khi dịch tài liệu kinh tế thương mại.
- Các nhà biên soạn từ điển: Tham khảo danh mục mô hình cấu tạo và phân loại 6 nhóm phạm trù ngữ nghĩa KTTM để xây dựng mục từ và định nghĩa trong các công trình từ điển chuyên ngành Anh – Việt.
Câu hỏi thường gặp
1. Thuật ngữ kinh tế thương mại được luận án định nghĩa như thế nào?
Thuật ngữ KTTM được tác giả định nghĩa là những từ hay cụm từ cố định dùng để biểu đạt các khái niệm, đối tượng chuyên môn được sử dụng trong lĩnh vực kinh tế thương mại, bao gồm các hoạt động giao dịch về hàng hóa, buôn bán, phương thức thanh toán và các điều khoản trong ký kết hợp đồng.
2. Thuật ngữ khác danh pháp trong lĩnh vực KTTM ở điểm nào?
Theo cơ sở lí luận của luận án, thuật ngữ gắn liền với hệ thống khái niệm logic trừu tượng của ngành khoa học (ví dụ: khoản vay, cổ phiếu, lợi tức hàng năm, điều khoản giảm trừ), trong khi danh pháp chỉ là hệ thống tên gọi dùng để dán nhãn cho các đối tượng, thực thể đơn nhất cụ thể (ví dụ: Ngân hàng Thế giới, Quỹ Dự trữ Liên bang Mỹ, Đô la Mỹ).
3. Nguồn ngữ liệu chính phục vụ cho việc đối chiếu trong luận án gồm những gì?
Ngữ liệu của luận án được thu thập chủ yếu từ 6 cuốn từ điển chuyên ngành KTTM Anh – Việt xuất bản từ năm 1996 đến 2009 (của các tác giả: Trần Văn Chánh, Hoàng Văn Châu – Đỗ An Chi, Nguyễn Hữu Dụ, Đức Minh, Minh Trang – Phương Thúy, Đỗ Hữu Vinh), cùng các giáo trình như Market Leader, Economics in English và các văn bản song ngữ KTTM.
4. Thuật ngữ KTTM được phân chia thành các nhóm phạm trù nội dung ngữ nghĩa nào?
Luận án phân loại hệ thống thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng Việt thành 6 nhóm:
- Thuật ngữ chỉ phương tiện, cơ quan thanh toán.
- Thuật ngữ chỉ địa điểm, cơ quan nơi diễn ra hoạt động KTTM.
- Thuật ngữ chỉ chứng từ.
- Thuật ngữ chỉ thuế.
- Thuật ngữ chỉ chủ thể (người) tham gia hoạt động KTTM.
- Thuật ngữ chỉ hoạt động mua bán và trao đổi hàng hóa trong hoạt động KTTM.
5. Luận án nêu ra những kiểu tương đương dịch thuật ngữ nào giữa tiếng Anh và tiếng Việt?
Luận án phân loại tương đương dịch thuật theo hai tiêu chí: theo cấp độ tổ chức từ – ngữ (tương đương giữa từ với từ, từ với cụm từ, cụm từ với từ, cụm từ với cụm từ) và theo số lượng thuật ngữ tương đương (tương đương 1 – 1, 1 – nhiều, nhiều – 1, và tương đương 0 hay khoảng trống từ vựng).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Quốc Việt đã thực hiện khảo sát và so sánh đối chiếu hệ thống thuật ngữ kinh tế thương mại tiếng Anh với các biểu thức tương đương trong tiếng Việt trên cơ sở lí luận ngôn ngữ học và dịch thuật học. Công trình đã làm rõ đặc điểm cấu tạo thành tố, các mô hình cú pháp định danh và phân loại ngữ nghĩa thành 6 nhóm phạm trù chuyên môn trong KTTM. Đồng thời, luận án đánh giá thực trạng tương đương dịch thuật Anh – Việt và đề xuất các nguyên tắc cụ thể nhằm định hướng chuẩn hóa thuật ngữ KTTM tiếng Việt. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở tư liệu cho công tác giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành, hoạt động dịch thuật và biên soạn từ điển kinh tế thương mại.