Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu dịch thuật và dịch thành ngữ; Chương Thành ngữ nhận xét đánh giá con người trong tiếng Anh, tiếng Nga và tiếng Việ Chương 3 Phương thức chuyển dịch thành ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Nga và tiết Việt, 7. CÁI MỚI CỦA LUẬN ÁN Luận án đề ra nhiệm vụ chỉ nghiên cứu miêu tả mang TNDGN từ góc độ ngữ ngh trong ba NN, đi tìm cách nhận dang TN, luận nghĩa TN trên cơ sở các đặc điểm vi hoá và tư duy dân tộc của mỗi cộng đồng người bản ngữ. Điều này thể hiện rõ troi cách giải quyết vấn đề thông qua nội dung khá phong phú được trình bày chủ yếu chương 2 và 3 của luận án (từ trang 49-187) Luận án dưa ra một quy trình và phương thức dịch TN từ TA sang TNg và TV m cách có hệ thống và có thể áp dụng được. 15 CHUGNG |: TO NG QU AN TI NH HÌ NH NG HI ÊN CU U DỊ CH TH UA T V DICH THANH NGU 1.
Dich thuật và lí thuyết dich Mục này giới thiệu về một số khái niệm cơ bản như dịch thuật, lí thuyết dịch. các tiếp cận, phương pháp, nguyên tắc dịch, quan điểm về nhiệm vụ và chức nang c dịch giả và những vấn đề phát triển trong luận án. Khái niệm về thuật ngữ dịch thuật Sơ đồ về dịch thu DỊCH THUẬT PHIEN DỊCH = VBDy |_| Từ vựng: từ ngữ, | “—.-- DịcH song song THÀNH NGŨ «phan | " liaso Cấu trúc \ ; tích, Dịch relay qu -_ XỬ li trình Chọn phương án dịch dich m¬n : — Sơ đồ | ‘Hoan chính bản | ` dịch Như đã trình bày trên sơ đồ, dịch thuật thường được chia làm hai phần: biên dịch phiên dịch. Biên dich chủ yếu liên quan tới những văn bản viết.
Phiên dịch liên qu tới các văn bản ngôn từ nghe nói. Mỗi loại đó lại chia ra làm hai tiểu loại: dịch van/ ngôn bản nguồn sang van/ ngôn ban đích, và ngược lại. Khái niệm van/ ng bản ở đây dược hiểu là một diễn ngôn. Van bản nguồn (source text -VBN) thưè được hiểu là văn ban xuất phát, từ đó dịch sang tiếng me đẻ hoặc một thứ tiếng 1 16 đó khác); van ban dich (target text- VBĐ), còn gọi là van ban dịch (VBD).
Tre luận án này, văn bản TA là VBN, văn ban TNg, hoặc TV là VBD. Dịch thuật có thể được tiến hành theo nhiều kiểu khác nhau: I/ có thể dich từ n NN này sang một NN khác (ví dụ, khác hệ: Anh- Việt, cùng hệ: Phap-Italia; 2/ có dịch từ một tác phẩm văn học sang tiếng địa phương, hoặc ngược lại hoặc thậm từ tiếng địa phương của một NN sang một NN văn học khác; và 3/ từ NN cổ sang NN hiện đại của cùng một NN (ví dụ: tiếng Anh /Nga/ Việt cổ sang tiếng A /Nga / Việt hiện đạt). Luận án này sẽ nghiên cứu phần biên dich, lấy những đơn vi TN TA làm dối tực dịch sang TNg va TV (kiểu 1). Những văn bản dịch sang TNg sẽ chủ yếu dựa + những dịch giả người Nga để đảm bao tính thống nhất trong so sánh các TN từ n góc độ: TN TA trong con mắt của người nước ngoài (ở đây: TN TA trong con r của người Nga và người Việt).
[Hién nay có hàng trăm quan niệm khác nhau về dịch thuật. Các quan niệm này pl ánh cách tiếp cận dịch thuật khác nhau của dịch giả. Có người cho rằng người d chỉ cần phần ánh trung thành văn bản gốc, từng câu, từng từ, từng chữ v. khê cần quan tâm đến việc người đọc có hiểu hay không.
Đây là loại dịch từng chữ, văn bản gốc làm trọng tâm. Lại có những người khác, lấy người doc làm trọng ta viện cớ rằng mỗi NN có luật ngữ riêng nên ban dịch phải tuân thủ theo luật của I đó, do vậy dich giả có quyền thay đổi từ, ngữ, trật tự từ v.v sao cho người đọc cl nhận được. Một bản dich tái tạo lại được nghĩa chung va tư tưởng của nguyên t nhưng không chú trọng đến các vấn dé ngữ pháp, phong cách hoặc tổ chức văn t một cách ti mi gọi là dịch thoát ý. Một ban dịch chú ý đến từng từ của nguyên L thì gọi là dịch nguyên văn.
Dù dịch nguyên văn hay dịch thoát ý thì người dịch cũng phải thực hiện việc giải NN. Nói cách khác, dich là quá trình thay đổi hình thức của một NN (L1, NNN dạng viết hoặc nói sang một NN khác (L2, NND, NND). Một bản dich cần p truyền tải càng nhiều nội dung của văn bản gốc với một số lượng từ càng ít càng nhưng vẫn đảm bảo được tinh than và trong tâm của bản gốc. Người dịch cần p 17 cố gắng để đạt được sự chính xác gần đúng về từ, về khái niệm, và nhịp diệu.
£ giả phải tránh thêm bớt từ, ý tưởng của tác giả bản gốc. Dịch giả không có nhiệm phải mở rộng, giải thích mà chi dịch và giữ được tinh thần, hiệu lực của bản gé Không chỉ ý tưởng mà từ vựng cũng đều quan trọng cả. Quan niệm về dịch thuật thường không thống nhất. Một số học gia cho dich thui nghệ thuật [159], một số khác cho là một nghề nghiệp [131].
Nhưng cũng lại người cho dịch thuật là một khoa học [149]. Frenz [118] coi dịch thuật là sự thay cho nghệ thuật nhưng không phải là nghệ thuật sáng tạo cũng không phải là n thuật sao phỏng mà nó dứng ở giữa hai loại hình nghệ thuật đó. Theo Basn McGuire [100], địch thuật không chi đơn thuần là một bài luận nhất ngu (monistic composition), mà là một sự liên thông, tổng hoà của hai cấu trúc. Mộ nội dung nghĩa và tổ chức hình thức của van bản gốc, và một là toàn bộ hệ th những đặc điểm thẩm mi gắn với NND.
Thực ra, dich thuật là một hoạt động tổng hợp bao gồm cả kha nang nhận thức, s tạo của người dịch áp dụng trong quá trình giải nghĩa để chuyển tải một cách ch xác văn bản gốc sang van ban dịch sao cho nghĩa của chúng vẫn được giữ nguyêt độc giả văn ban dịch hiểu được, chấp nhận được, nghĩa là gây được cùng ấn tư đối với độc giả nói chung, ca độc giả văn bản nguồn lẫn độc gia van bản dịch. Nói là hoạt động tổng hợp bởi hoạt động này bao gồm cả hành động đọc (van b: nhìn (bối cảnh xung quanh - với dịch nói), nghe (dịch nói), hiểu, phân tích (ng đen, nghĩa bóng), chọn lựa (từ vựng, cấu trúc). Có hiểu được thì mới phân tích đ và nhờ đó mới có được tính chính xác. Khi đã hiểu chính xác rồi mới chọn lựa c chuyển dịch và nhờ đó mới gọi là sáng tạo.
Muốn cho độc giả chấp nhận được thì dịch giả phải am hiểu và thành thạo kh những NN của văn bản gốc mà còn phải thành thạo NND. Tất cả những điều đều có thể chứng minh qua những tác phẩm dịch kinh điển của Mác, Angl Lênin. Ví dụ, Mác phan đối lối dich cụm từ nguyên bản theo kiểu cơ học, từng t nó làm vô nghĩa văn bản và phá vỡ chuẩn mực NN. Dịch thực chất là một thao ˆ bì HOS wort thea NÊN TRONS TAM THERE Te THUY ÑN ! eeeee ~- ——-— -——-—— || Móc ca 18 thống nhất , lí giải nội dun g gia o tiếp và hoà n ngu yên lại nội dun g đó tro ng NN D t gồm cả tác động đối với độc giả.
Trong các tác phẩm của các nhà lí thuyết và thực hành dịch có thể thấy được n .loạt những xu hướng mới xác định cơ sở lí luận và miêu tả các hoạt dong dị Komissarov [188] đưa ra những thử nghiệm mở rộng đối tượng nghiên cứu của môn lí thuyết dịch bao gồm không chỉ bản thân dịch thuật mà còn cả những h’ thức giao tiếp liên NN khác nữa. Trước khi xuất hiện lí thuyết NND thuật, thuật r “địch thuật” thường được hiểu là một hoạt động lời nói, giống như câu, thường tính mô tả, đánh giá (ví dụ như dịch từng từ, dịch thoát ý, dịch tương dương v.v, Nghiên cứu văn ban dich trong mối tương quan với bản gốc đã từng bi phủ nhận mục dich chính của lí thuyết dịch. Trong giai đoạn hiện nay, dịch thuật được ngh cứu trong phạm vi rộng lớn của giao tiếp quốc tế. Do vậy, dịch giả thực hiện n chức năng trực tiếp trong quá trình giao tiếp, góp phần tích cực trong việc củng kha nang giao tiếp giữa những người không cùng nói chung một NN.
Chức năng ‹ dịch thuật chỉ được thực hiện trong trường hợp ban thân dịch thuật dam đương dt vai trò này. Vấn đề thực hiện thành công chức nang giao tiếp phụ thuộc vào một |: các yếu tố đồng thời tham gia vào quá trình giao tiếp. Do đó, dịch thuật phải dt nghiên cứu với tư cách là một bộ phận của giao tiếp liên NN bat đầu từ việc hi thành van bản gốc và kết thúc bằng việc tiếp nhận ban dịch của độc giả NND. Ci tiếp cận giao tiếp đối với dịch thuật sẽ quy định sự nghiên cứu, quá trình và kết c của địch thuật cũng như những đối tác giao tiếp tham gia vào quá trình giao tiếp và toàn thể những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp lên chính quá tr giao LIẾP.
Theo Komissarov| [88:65], có nhiều loại hình dich khác nhau. Quyết định chon | dịch thuật nào (ví dụ như dịch từ bản gốc hay từ ban đã được chỉnh sửa) hoàn tt phụ thuộc vào việc dịch giả có tính đến nhiệm vụ và các phương thức tiến hành g tiếp liên NN hay không. Khi áp dụng phương pháp tiếp cận này vai trò xã hội ‹ dịch giả sẽ được đề cao: một khi dịch giả là một chuyên gia trong lĩnh vực văn h nghệ thuật của nước khác, dịch giả đóng vai trò quan trọng trong việc hình thi những nhiệm vụ thực tiễn, nhiều khi không cần có văn bản gốc vẫn có thể tạc 19 dượ c nhữ ng van ban dic h (ví dụ trư ờng hợp lí giải kiế n thứ c đất nướ c học khô ng trong nguyên gốc) có khả nang thúc day việc thực hiện mục dich giao tiếp. Như v phạm vi nghiên cứu của dịch thuật không chỉ dừng lại đối với các dịch giả chuy nghiệp mà còn cả với các dịch giả không chuyên nữa.
Trong trường hợp như v. dich gia là nhân vật thứ ba tham gia vào quá trình giao tiếp theo cách đặc biệt « mình. Họ không những không quan tâm tới việc tái tạo những điều đã nghe n cách chính xác hơn, mà còn có thể tham gia vào cuộc thoại, giải thích những điều nói.