đặt vấn đề, trao đổi với chuyên gia và phát các phiếu hỏi ý kiến của KH có giao dịch tại ngân hàng Agribank Đức Linh tỉnh Bình Thuận. Phương pháp nghiên cứu Các dữ liệu đã có từ các nguồn khác nhau như từ internet, từ các tài liệu giấy về thông tin của CN ngân hàng, về các lý thuyết nền tảng và các phương pháp phân tích số liệu đã được xác nhận. được tác giả chọn lọc và trình bày thành cơ sở lý thuyết của luận văn và làm căn cứ để kết luận về các số liệu được tính toán. Các dữ liệu chưa có từ trước, được tác giả đưa vào phần mềm xử lý số liệu, nhờ.
vào các công cụ tính toán, thống kê của SPSS để trích xuất các kết của cần thiết nhằm. hỗ trợ cho quá trình khẳng định các nhân tổ tồn tại, các nhân tố bị loại bỏ, vai trò của mỗi nhân tố được quy ước thành các biến độc lập có tác động lên nhân tố phụ thuộc như. Từ những kết quả số liệu đạt được, tác giả củng cố vai trò của mỗi biến độc lập và có các hàm ý đề xuất để giúp cho nhân tố phụ thuộc được hỗ trợ nhiều hơn trong tương lại 1. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 1.
Lý thuyết Luận văn được triển khai để nhằm bổ sung và hoàn thiện hơn mô hình liên quan đến lĩnh vực kích thích nhu cầu gửi tiền TK của người dân nói chung đối với loại hình NHTM và áp dụng cu thể vào trường hợp gửi tiền trên địa bàn huyện Đức Linh và các huyện lân cận của tỉnh Bình Thuận. Thực tiễn Cung cấp cho nhà quản trị của các ngân hàng thương mại biết được các yếu tổ tác. đông đến quyết định gửi tiền TK của khách hàng cá nhân. Nghiên cứu này giúp các NH thương mại xây dựng được chiến lược kinh doanh để đáp ứng hiệu quả những nhu cầu của KH cá nhân, thúc đây lợi thế cạnh tranh.
Kết cầu đề tài Ngoài những phần hỗ trợ như danh mục tải liệu tham khảo, mục lục, phụ lục là các số liệu, các bảng biểu và các phiếu hỏi và các phần thuộc về hình thức khác, đề tài có. kết cấu gồm 5 chương để trình bay 5 nội dung quan trọng gồm: “Tổng quan về đề tài nghiên cứu; Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu; Phương pháp nghiên cứu; Kết quả nghiên cứu và thảo luận; Kết luận và hàm ý quản trị”. Mỗi chương được triển khai thành các mục và tiểu mục theo quy định đánh chỉ mục hiện hành của một sản phẩm nghiên cứu khoa học. Cuối một số chương có phần kết luận chương để tổng quát hóa lại một số nội dung quan trọng đã trình bảy trong chương.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU. Các khái niệm nghiên cứu 2. Dịch vụ 'Về khái niệm dịch vụ, có nhiễu tác giả, nl kênh thông tin, nhiều sách và giáo trình thể hiện với những cách nêu khái niệm khá đa dạng và có phần khác nhau tùy vào cách mỗi người khai thác trên từng khía cạnh của nó. Tác giả trích dẫn hai khái niệm đến từ hai nhóm tác giả một trong nước và một được phát biểu từ nước ngoài như sau: ~ Tác giả nước ngoài: Theo Pakurar, M.
(2019) cho rằng: “dich vụ còn là những hành vị, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho KH làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng”. ~ Tác giả trong nước: Theo Lê Trung Hiếu, Nguyễn Hồ Xuân Nhỉ (2021): “dịch vụ là một quá trình gồm các hoạt động hậu đãi và các hoạt động phía trước, nơi mà KH và nhà cung cấp DV tương tác với nhau. Mục đích của tương tác nảy là nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của KH theo cách KH mong đợi, cũng như tạo ra giá trị cho KH”. Dịch vụ ngân hàng Tương tự với khái niệm về DV, khái niệm DVNH cũng được nhiều nhà khoa học.
tìm hiểu, phân tích và khai thác nhằm đưa ra được các giải pháp phủ hợp cho các vấn đề có liên quan đến sự phát triển của ngân hàng nói chung và cho việc thu hút tiền gửi đầu vào từ KH nói riêng. Để làm sáng tỏ hơn về khái niệm DVNH, tác giả trích một phần nội dung phân tích trong kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hồng Yến công bố vào năm 2015 như sau: “DVNH được hiểu là các nghiệp vụ ngân hàng về vốn, tiền tệ, thanh toán. mà ngân hàng cung cấp cho KH đáp ứng nhu cầu kinh doanh, sinh lời, sinh hoạt cuộc sống, cất trữ tài sản. và ngân hàng thu chênh lệch lãi suat, tỷ giá hay thu phí thông qua DV ấy.
Trong xu hướng phát triển NH tại các nền kinh tế phát triển hiện nay, ngân hàng được coi như một siêu thị DV, một bách hoá tài chính với hàng trăm, thậm chí hàng nghìn DV khác nhau tuỳ theo cách phân loại và tuỳ theo trình độ phát triển của NH. Ở Việt Nam còn có một số quan điểm khác nhau về khái niệm DVNH. Một số ý kiến cho rằng, các hoạt động sinh lời của NH thương mại ngoài hoạt động cho vay thì được gọi là hoạt động DV. Quan điểm này phân định rõ hoạt động tín dụng, một hoạt động truyền thống và chủ yếu trong thời gian qua của các NHTM Việt Nam, với hoạt động DV, một hoạt động mới bắt đà phát triển ở Việt Nam.
Sự phân định như vậy trong. xu thể hội nhập và mở cửa thị trường DV tài chính hiện này cho phép NH thực thỉ chiến lược tập trung đa dạng hoá, phát triển va nâng cao hiệu quả của các hoạt động phi tín dụng. Còn quan điểm thứ hai thì cho rằng, tắt cả các hoạt động nghiệp vụ của một NH thương mại đều được coi là hoạt động DV. Ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, cung cấp DV cho KH.
Quan niệm này phủ hợp với thông lệ quốc tế, phù hợp với cách phân loại các phân ngành DV trong dự thảo Hiệp định WTO mà Việt Nam cam kết, đảm phán trong quá tình gia nhập, phù hợp với nội dung Hiệp định thương mại Việt - Mỹ. Trong phân tổ các ngành kinh tế của Tổng cục Thống kê Việt Nam, Ngân hàng là ngành được phân tổ trong lĩnh vue DV”. Khái niệm về chất lượng dịch vụ ngân hàng Khái niệm dịch vụ và DVNH đã được trình bảy ở muc 2.2 lam co sở đề xây dựng khái niệm về chất lượng DVNH. Khi đề cập đến chất lượng, người ta nghĩ ngay đến những gì mà KH tưởng tượng hoặc kỳ vọng trước đó có được đáp ứng ngang bằng hoặc nhiều hơn những gì mà KH thực sự trải nghiệm.
thực sự tai nghe mắt thấy tay sở và cảm nhận trực tiếp. Chất lượng DVNH cũng nằm trong phạm vi này mà cụ thể hơn đó là những gi NH mang lại cho KH trong quá trình khách giao địch có được như. mong đợi hay không. Trong những năm gần đây có khá nhiều các tác giả quan tâm nghiên cứu về chất lượng DV của NH và theo đó, họ có những quan điểm, nhìn nhận khác nhau về phạm trù này, tác giả lược trích một số phân tích, nhân định trong sản phẩm nghiên cứu của một số tắc giả như sau: ~ Theo Lê Thị Kim Anh (2015), cho rằng: “chất lượng sản phẩm là một phạm trủ phức tạp, phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
Chất lượng cũng là đối tượng nghiên cứu của lĩnh vực như sản xuất, công nghệ, marketing và cũng là mối quan tâm của nhà sản xuất, nhà. đặc biệt là người tiêu dùng với mong muốn được thỏa mãn các nhu cầu tiêu dùng ngày cảng cao hơn”. Như vậy, có thể hiểu, chất lượng DVNH là một khái niệm để chỉ mức độ các đặc tính của sản phẩm DVNH nhằm thỏa mãn những nhu cầu khác nhau của KH. Đặc tính của từng loại hình DVNH cần thỏa mãn được yêu cầu của KH, cung.
cấp kịp thời và đảm bảo an toàn cho hoạt đông của NH và khách hàng. Yêu cầu KH ở đây phụ thuộc mục đích tiêu dùng DV, thu nhập, cùng với một số yếu tố khác. ~ Theo Ngô Thị Diém Khanh (2017): “Thuc tién gan day khai niém vé DVNH phi. hợp với thông lệ quốc tế đang trở nên phổ biến trên các diễn đàn, trong giới nghiên cứu và cơ quan lập chính sách.
Song quan niệm như thế nào đi nữa, thì yêu cầu cắp bách đặt ra cho các NHTM Việt Nam hiện nay là phải phát triển, đa dạng và nâng cao chất lượng các nghiệp vụ kinh doanh của mình. Nói cụ thể ngay như hoạt động tín dụng hiện nay, các NHTM cũng đang thực hiện đa dạng các sản phẩm tín dụng, như: tín dụng cho vay mua nhà, cho vay mua ô tô, cho vay tiền đi du học, cho vay tiêu dùng qua thẻ tín dụng, tín dụng thuê mua, tín dụng chữa bệnh, tín dụng ngày cưới, tín dụng sửa chữa nhà ở. Còn đương nhiên các DVNH mới, như: nghiệp vụ thẻ, kinh doanh ngoại hối, đầu tư trên thị trường tiền gửi, chiết khấu, chuyển tiền, kiều hối, tư vấn. cũng đang được các 'NHTM đầu tư cả về công nghệ, máy móc thiết bị, đảo tạo nguồn nhân lực, hoạt động Marketing, quảng bá thương hiệu, gây dựng uy tín.
cho phát triển đáp ứng yêu cầu cạnh tranh ngày càng tăng” ~ Theo tô chức Tiêu chuân Quốc tế cho rằng “Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm hay DV, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của KH và các bên có liên quan, trong đó “yêu cầu” được xem như là một hành động có thể được mọi người trong một cộng đồng tự hiểu và tự thực hiện đáp ứng cho nhau mà cũng có thể đó là các phát biểu dưới dạng văn bản hoặc bằng các kênh thông tin khác và doanh nghiệp, tổ chức căn cứ vào đó để xem xét việc đáp ứng nhu cầu của bên liên quan. ~ Theo Nguyễn Minh Kiều (2015): “Sản phẩm DVNH được coi là một hàng hóa vô hình, đòi hỏi một trình độ hiểu biết nhất định của cả nhà cung cắp và KH. Hơn nữa, để có thể cung cấp được DVNH thì cần thiết phải có ứng dụng của công nghệ. Chất lượng DVNH cần luôn được duy trì và cải tiến.
Như vậy, mối quan hệ giữa chất lượng DV và sự hài lòng của KH là chủ đề được các nhà nghiên cứu đưa ra bản luận liên tục trong các thập kỷ qua. Nhiều nghiên cứu về sự hài lòng của KH trong các ngành DV da được thực hiện và nhìn chung đều kết luận rằng chất lượng DVNH và sự hải lòng là hai khái niệm phân biệt.