Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu - Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu - Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận - Chương 5: Kết luận và các hàm ý chính sách. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT 2. Một số khái niệm cơ bản 2. Khái niệm về du lịch DL là một ngành kinh tế tổng hợp, đây là ngành có sức ảnh hưởng sâu rộng tới sự phát triển của các quốc gia trên thế giới.
Vì tính tổng hợp trong các khía cạnh về kinh tế, chính trị, xã hội của ngành DL nên có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm của Du lịch. Trong từ điển Anh ngữ Chambers dùng để chỉ du lịch là các hoạt động của khách du lịch và những người phục vụ cho họ. Theo đó, Burkhart và Medlik (1981) khái niệm du lịch theo hai nhóm chính: Thứ nhất, theo kỹ thuật, du lịch xác định các loại hình du lịch và các hoạt động du lịch khác nhau nhằm cho mục đích thống kê hoặc lập pháp. Theo đó, du lịch của một du khách là hoạt động của họ nhiều hơn 24 giờ ngoài đất nước bình thường của họ cư trú.
Mục đích của những người đi du lịch cho giải trí, tạo niềm vui, sức khỏe, công việc hoặc mục đích khác. Du lịch cũng được giới thiệu là hoạt động ở lại một điểm dưới 24 giờ của du khách. Liên hiệp quốc về du lịch vào năm 1963 cũng đưa ra định nghĩa du lịch là hoạt động của bất kỳ người nào đến thăm một quốc gia khác với quốc gia cư trú thông thường vì bất kỳ lý do gì ngoài việc làm nhận lương việc tại quốc gia đó. Định nghĩa kỹ thuật về du lịch chủ yếu nhằm đo lường lưu lượng khách du lịch của một quốc gia.
Thứ hai, theo quan điểm nhân chủng học, các nhà nghiên cứu cố gắng đưa ý nghĩa hoặc vai trò của du lịch đối với du khác vào định nghĩa này. Nash (1981) định nghĩa đơn giản du lịch là hoạt động được thực hiện bởi một người nhằm mục đích giải trí. Smith (1989) đưa ra du lịch là hoạt động của người tạm thời nhàn rỗi, tự nguyện đến thăm một địa điểm với mong muốn trải qua một sự thay đổi. Graburn (1983) nhấn mạnh vai trò 9 chức năng du lịch bởi vì du lịch mang đến cho du khách một trạng thái tinh thần thoải mái.
Đây là định nghĩa được cho là thể hiện rõ mục đích và nhu cầu của khách du lịch nên được các nhà nghiên cứu địa lý du lịch đánh giá cao và sử dụng nhiều. Năm 2001, UNWTO đưa ra định nghĩa về DL như sau: DL bao gồm các hoạt động của những người đi đến và ở lại những nơi bên ngoài môi trường thường xuyên của họ trong khoảng thời gian không nhiều hơn một năm liên tiếp, vì mục đích giải trí, kinh doanh và những mục đích khác không liên quan đến việc thực hiện các hoạt động được trả thù lao tại nơi đến. Định nghĩa này về cơ bản đã kế thừa các định nghĩa và quan điểm trước đó cũng như những phát biểu tại Otawa 1991 của Hội nghị quốc tế và Thống kê DL và của Tổ chức DL thế giới (UNWTO) năm 1993. Theo Luật DL Việt Nam năm 2017 - được Quốc Hội thông qua ngày 19 tháng 06 năm 2017 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2018: DL là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá TNDL hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác.
Định nghĩa này phù hợp với điều kiện và bối cảnh Việt Nam nên được sử dụng làm cơ sở cho nghiên cứu này. Khái niệm về khách du lịch Có nhiều cách hiểu khác nhau về khách du lịch đứng ở trên các góc độ khác nhau, cụ thể: Theo Liên đoàn quốc tế các tổ chức du lịch (tiền thân của tổ chức du lịch thế giới), khách du lịch được định nghĩa như sau: “Khách du lịch là người ở lại nơi tham quan ít nhất 24h qua đêm vì lý do giải trí, nghỉ ngơi hay công việc như: thăm 10 thân, tôn giáo, học tập, công tác”. Năm 1968, tổ chức này thay đổi khái niệm khách du lịch như sau: “Khách du lịch là bất kỳ ai ngủ qua đêm”. Uỷ ban xem xét tài nguyên Quốc gia của Mỹ định nghĩa “Du khách là người đi ra khỏi nhà ít nhất 50 dặm vì công việc giải trí, việc riêng trừ việc đi lại hàng ngày, không kể có qua đêm hay không”.
Tổ chức Địa lý du lịch Việt Nam định nghĩa: “ Du khách từ bên ngoài đến địa điểm du lịch chủ yếu nhằm mục đích nâng cao nhận thức với môi trường xung quanh, tham gia vào các hoạt động thư giãn, giải trí, thể thao, văn hoá kèm theo việc tiêu thụ những giá trị tự nhiên, kinh tế, dịch vụ và qua đêm tại cơ sở lưu trú của ngành du lịch”. Theo UNWTO, khách DL (visitor) là người đến thăm và lưu lại bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ trong ít hơn 12 tháng với bất kỳ lý do gì ngoài các hoạt động để nhận thù lao ở nơi đến. Cũng theo Tổ chức DL thế giới (1995), khách DL được chia làm hai nhóm: khách DL quốc tế và khách DL nội địa. Theo tác giả Trần Đức Thanh (2017): Khách DL là người từ nơi khác đến với kèm theo mục đích thẩm nhận tại chỗ những giá trị vật chất, tinh thần hữu hình và vô hình của thiên nhiên và của cộng đồng xã hội.
Về phương diện kinh tế, khách DL là người sử dụng dịch vụ của các doanh nghiệp DL như lữ hành, lưu trú, ăn uống. Theo Luật Du lịch Việt Nam (2017) quy định: Khách DL là người đi DL hoặc kết hợp đi DL, trừ trường hợp đi học, làm việc để nhận thu nhập ở nơi đến. Khách DL bao gồm khách DL nội địa, khách DL quốc tế đến Việt Nam và khách DL ra nước ngoài. Trong đó, khách DL nội địa là công dân Việt nam, người nước ngoài cư trú ở Việt Nam đi DL trong lãnh thổ Việt Nam; khách DL quốc tế đến Việt Nam là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam DL; khách DL ra nước ngoài là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú ở Việt Nam đi DL nước ngoài.
Như vậy, khách nội địa được thống kê trong vùng là tổng khách đến tất cả các tỉnh trong vùng bao gồm cả khách từ một tỉnh trong vùng đi DL nội vùng và cả khách vùng khác đến. Các loại hình du lịch Theo Nguyễn Minh Tuệ (2017), có 7 tiêu chí cơ bản để phân chia các loại hình DL như: phạm vi lãnh thổ, nhu cầu của khách, TNDL, đặc điểm địa lý, thời gian của cuộc hành trình (độ dài chuyến đi), phương tiện giao thông, hình thức tổ chức. Du lịch có hai hình thức du lịch chính đó là du lịch văn hóa (địa điểm đến tham quan của du khách có thể là các di tích lịch sử - văn hóa, bảo tàng, lễ hội địa phương, liên hoan nghệ thuật, thể thao) và du lịch tự nhiên (dựa vào yếu tố TNDL tự nhiên như địa hình, khí hậu, nguồn nước, sinh vật). Dựa trên cơ sở phân loại đó, loại hình du lịch được phân làm 3 nhóm và 5 loại cụ thể cụ thể như sau: - Nhóm loại hình DL văn hóa gồm có 2 loại hình: DL tham quan tìm hiểu di sản văn hóa thế giới (khai thác dựa trên giá trị di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận) và DL tham quan di tích lịch sử cách mạng (khai thác giá trị của các di tích lịch sử trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ được Bộ VHTTDL xếp hạng).
- Nhóm loại hình DL tự nhiên gồm 2 loại hình: DL khám phá hang động và DL nghỉ dưỡng biển trên cơ sở khai thác các giá trị của tài nguyên địa hình (với dạng địa hình đặc biệt karst và địa hình ven biển) - Nhóm loại hình DL hỗn hợp dựa trên sự khai thác tài nguyên ở cả hai nhóm tự nhiên và văn hóa với đặc tính phát triển dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa thuộc nhóm này. Các sản phẩm du lịch Sản phẩm DL có thể hiểu là toàn bộ sự hài lòng về thể chất và tinh thần mà nó cung cấp cho du khách trong suốt chuyến đi từ nơi xuất phát cho tới điểm DL. Theo Medlik và Middleton (1973) sản phẩm du lịch được định nghĩa là một nhóm các hoạt động, dịch vụ và lợi ích tạo thành toàn bộ kinh nghiệm DL. Liên quan đến sản phẩm du lịch Nhóm này bao gồm năm thành phần: sự thu hút của điểm đến, tiện ích điểm đến, khả năng tiếp cận, hình ảnh, và giá cả.
Luật DL Việt Nam (2017) xác định: Sản phẩm DL là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị TNDL để thỏa mãn nhu cầu của khách DL. 12 Như vậy, sản phẩm DL bao gồm: dịch vụ DL và TNDL. Trong đó, dịch vụ DL là tập hợp của các nhóm dịch vụ lữ hành, dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú, ăn uống, vui chơi, giải trí, mua sắm, dịch vụ thể thao, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, dịch vụ liên quan khác phục vụ khách DL. Sản phẩm DL có thể được đánh giá ở mức độ hấp dẫn, khả năng tiếp cận và độ tiện nghi của nó.
Một sản phẩm DL lý tưởng sẽ phải đáp ứng nhu cầu của thị trường, có hiệu quả về kinh tế và dựa trên việc sử dụng khôn ngoan các tài nguyên thiên nhiên trên lãnh thổ. Phát triển du lịch Theo Harrison (1988) và Goulet (1992), phát triển bao gồm sự tiến bộ ở 5 hợp phần: về kinh tê, về xã hội, về chính trị, về văn hóa và về mô hình cuộc sống đầy đủ (dẫn theo Richard Sharpley, David J. Một số nghiên cứu bổ sung thêm hợp phần thứ 6 về để phản ánh sự nổi lên của tính bền vững về môi trường như một nguyên tắc chỉ đạo của tất cả các chính sách phát triển. Như vậy, phát triển là một khái niệm phức tạp, đa chiều bao gồm tăng trưởng kinh tế và các chỉ số chăm sóc sức khỏe, giáo dục, nhà ở; đồng thời cũng khẳng định sự toàn vẹn chính trị, văn hóa và tự do của mọi cá nhân trong xã hội.
Các khía cạnh này được phản ánh đầy đủ nhất trong Các mục tiêu phát triển Thiên niên kỉ do Liên Hợp Quốc đưa ra năm 2000.