Chương 1: Giới thiệu vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về cảng biển thông minh Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả và đánh giá Chương 5: Kết luận và khuyến nghị 22 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẢNG BIỂN THÔNG MINH 2. Tổng quan về cảng biển 2. Khái niệm cảng biển Về khái niệm “Cảng biển”, mỗi một quốc gia với những hệ thống pháp luật riêng biệt sẽ có những cách thức định nghĩa và lý giải khác nhau.
Cảng biển là khu vực giáp biển, có các trang thiết bị phục vụ cho việc bốc dỡ hàng hóa hoặc nơi đón hoặc đưa hành khách đi lại bằng đường thủy. Cảng có thể là cảng tự nhiên hoặc cảng nhân tạo. Theo thuật ngữ pháp lý thì cảng biển được quy định tại khoản 1 Điều 7 Bộ luật hàng hải Việt Nam 2015. Cảng biển được hiểu là khu vực bao gồm vùng đất cảng và vùng nước cảng, được xây dựng kết cấu hạ tầng, lắp đặt trang thiết bị cho tàu thuyền đến, rời để bốc dỡ hàng hóa, đón trả hành khách và thực hiện dịch vụ khác.
Cảng biển là một trong những khái niệm được quan tâm nhiều trong lĩnh vực vận tải biển. Có thể liệt kê một số định nghĩa tiêu biểu như sau: Theo Khoản 1, Điều 73, Bộ luật hàng hải Việt Nam 2015, cảng biển là khu vực bao gồm vùng đất cảng và vùng nước cảng, được xây dựng kết cấu hạ tầng, lắp đặt trang thiết bị cho tàu thuyền đến, rời để bốc dỡ hàng hóa, đón trả hành khách và thực hiện dịch vụ khác. Cảng biển có một hoặc nhiều bến cảng. Bến cảng có một hoặc nhiều cầu cảng.Smirnop có định nghĩa kinh điển về cảng biển: “Thương cảng hiện đại là một đầu mối giao thông lớn, bao gồm nhiều công trình và kiến trúc, bảo đảm cho tàu thuyền neo đậu yên ổn, nhanh chóng và thuận lợi để thực hiện công việc chuyển giao hàng hóa, hành khách từ các phương tiện giao thông trên đất liền sang các tàu biển hoặc ngược lại, bảo quản, gia công hàng hóa và phục vụ tất cả các nhu cầu cần thiết của tàu neo đậu trong cảng.” Theo quan điểm truyền thống thì cảng biển là tập hợp các công trình xây dựng, phương tiện nhằm đảm bảo cho tàu neo đậu an toàn và bốc dỡ hàng hóa một cách nhanh chóng, thuận tiện nhất.
Theo quan điểm này thì cảng biển là đầu mối giao thông, là nơi thực hiện các thao tác xếp dỡ hàng hóa từ phương thức vận tải biển sang các phương thức vận tải khác và ngược lại. 23 Theo quan điểm hiện đại thì cảng biển được xem là nơi thu hút các hoạt động kinh tế, là điểm đầu mối của hoạt động vận tải. Theo quan điểm này thì cảng biển là khu vực tiếp nối giữa đất liền và biển, được phát triển thành một trung tâm công nghiệp và logistics, đóng vai trò quan trọng trong mạng lưới công nghiệp và logistics toàn cầu. Về bản chất cảng là nơi thực hiện việc dịch chuyển hàng hóa giữa các dạng vận tải khác nhau.
Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa các cảng đã phát triển nhanh chóng từ các cảng truyền thống kết nối vận tải biển với vận tải nội địa để trở thành nơi cung cấp mạng lưới logistics hoàn chỉnh. Điều này có nghĩa là cảng phải đối mặt với rất nhiều thách thức về những thay đổi và khuynh hướng không lường trước được của môi trường ngành hàng hải, cảng biển và logistics. Theo quan điểm truyền thống thì cảng biển là tập hợp các công trình xây dựng và phương tiện nhằm đảm bảo cho tàu neo đậu an tòan và bốc dỡ hàng hóa một cách nhanh chóng và thuận tiện nhất. Theo quan điểm này thì cảng biển là đầu mối giao thông, là nơi thực hiện các thao tác xếp dỡ hàng hoá từ phương thức vận tải biển sang các phương thức vận tải khác và ngược lại.
Theo quan điểm hiện đại thì cảng biển được xem là nơi thu hút các hoạt động kinh tế, là điểm đầu mối của hoạt độvng vận tải. Theo quan điểm này thì cảng biển là khu vực tiếp nối giữa đất liền và biển, được phát triển thành một trung tâm công nghiệp và logistics, đóng vai trò quan trọng trong mạng lưới công nghiệp và logistics toàn cầu. Theo điều 59 của Bộ luật Hàng Hải năm 2005 thì Cảng biển là khu vực bao gồm vùng đất cảng và vùng nước cảng, được xây dựng kết cấu hạ tầng và lắp đặt trang thiết bị cho tàu biển ra, vào họat động để bốc dỡ hàng hóa, đón trả hành khách và thực hiện các dịch vụ khác. Vùng đất cảng là vùng đất được giới hạn để xây dựng cầu cảng, kho, bãi, nhà xưởng, trụ sở, cơ sở dịch vụ, hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, điện nước, các công trình phụ trợ khác và lắp đặt trang thiết bị.
Vùng nước cảng là vùng nước được giới hạn để thiết lập vùng nước trước cầu cảng, vùng quay trở tàu, khu neo đậu, khu chuyển tải, khu tránh bão, vùng đón trả hoa 24 tiêu, vùng kiểm dịch; vùng để xây dựng luồng cảng biển và các công trình phụ trợ khác. Trong một khu vực cảng biển có thể sẽ có một hoặc nhiều bến cảng; trong một bến cảng sẽ có một hoặc nhiều cầu cảng. Bến cảng thông thường sẽ bao gồm cầu cảng, kho, bãi, nhà xưởng, trụ sở, cơ sở dịch vụ, hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, điện, nước, luồng vào bến cảng và các công trình phụ trợ khác. Cầu cảng là kết cấu cố định thuộc bến cảng, được sử dụng cho tàu biển neo, đậu, bốc dỡ hàng hóa, đón trả hành khách và thực hiện các dịch vụ khác.
Theo Notteboom (2002) thì cảng biển được định nghĩa là “một trung tâm công nghiệp và logistics hàng hải, đóng vai trò tích cực trong hệ thống vận tải toàn cầu, nó được mô tả bằng một tập hợp các hoạt động mang tính chức năng và không gian, có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến quá trình thông tin và vận chuyển trong chuỗi sản xuất” Như vậy, từ các khái niệm và cách hiểu trên có thể tóm lại, cảng biển ngày nay không chỉ đơn thuần là nơi thực hiện các thao tác xếp dỡ mà còn là đầu mối thực hiện việc trung chuyển hàng hoá từ phương tiện vận tải này sang phương tiện vận tải khác, tại đây hàng hoá có thể được tồn trữ, phân lọai, đóng gói, lưu kho, lưu bãi, bao bì, nhãn mác để gửi đi hay phân phối.Nói cách khác tại đây có thể tạo ra giá trị gia tăng cho hàng hóa. Vì vậy nếu đứng trên quan điểm về logistics, có thể nói cảng biển là mắt xích trong chuỗi cung ứng tòan cầu. Chức năng của cảng biển Cảng biển hiện có 2 chức năng cơ bản chính đó là phục vụ tàu bè và phục vụ hàng hoá. Cảng biển thực hiện các chức năng như đảm bảo an toàn cho tàu ra vào cảng và trong quá trình khai thác tại cảng, cung cấp các cơ sở vật chất và máy móc trang thiết bị cho tàu ra vào neo đậu, xếp dỡ và đón trả hành khách, cung cấp dịch vụ vận chuyển, cung cấp nơi lánh nạn an toàn cho ngườii và phương tiện khi có thời tiết xấu, sửa chữa và bảo dưỡng và cung cấp các dịch vụ khác cho tàu, người và hàng hóa.
Tổng quan về cảng biển thông minh 2. Khái niệm cảng biển thông minh Dong Xisong và cộng sự (2013) định nghĩa cảng thông minh là một hệ thống dịch vụ vận chuyển cảng dựa trên công nghệ thông tin điện tử hiện đại, có tính năng 25 cung cấp dịch vụ thông tin đa dạng cho những bên tham gia dựa trên việc thu thập, xử lý, giải phóng, trao đổi, phân tích và sử dụng thông tin liên quan. Cảng thông minh rất cần được tích hợp chặt chẽ với IoT nhằm đạt được sự chia sẻ dữ liệu hiệu quả và tính ổn định của các dịch vụ cổng. Nói cách khác, cảng thông minh là cảng thế hệ mới, có cơ sở hạ tầng cảng mới, thông minh và dịch vụ và quản lý tích hợp, thông minh.
Theo Sakty (2016), cảng biển thông minh bao gồm ba hoạt động chính bao gồm hoạt động khai thác cảng, năng lượng và môi trường với sự thiết lập hệ thống thông tin và tự động hóa dựa trên dữ liệu thời gian thực kết hợp công nghệ thông tin. Theo Douaioui và cộng sự (2018), cảng thông minh bao gồm hai trụ cột: kết nối liên thông và tự động hóa cảng. Thứ nhất, trụ cột kết nối cần có 3 công nghệ gồm hệ thống thông tin thông minh, trung tâm dữ liệu và an ninh mạng. Và thứ hai, trụ cột tự động hóa cảng yêu cầu cảng phải sử dụng các thiết bị và vận hành tự động hóa.
Một cảng thông minh dựa vào sự kết nối giữa các bên liên quan trong chuỗi hậu cần cảng và tự động hóa thiết bị cũng như hoạt động của bến cảng để cải thiện tính lưu loát, độ tin cậy và tính bảo mật của việc trao đổi thông tin và ra quyết định theo thời gian thực. Theo Yu và Fu (2018), cảng biển thông minh là một cảng tự động hoá hoàn toàn bởi thiết bị không người lái (automated guided vehicle -AGV), tất cả các thiết bị được kết nối thông qua internet vạn vật bao gồm hệ thống cảm biến (quan trắc công trình, cảm biến đo lường khoảng cách, định vị) và các công nghệ truyền thông tin không dây (Zigbee, wifi, RFID, internet, giải pháp 4G và 5G). Các cảm biến khác nhau như cảm biến quán tính, cảm biến siêu âm, cảm biến dòng điện xoáy, radar, lidar, cảm biến hình ảnh, đầu đọc và thẻ RFID được sử dụng để thu thập dữ liệu cần thiết nhằm biến “cảng” thành “cảng thông minh”. Rajabi và cộng sự (2018), cảng thông minh là cổng được gia cố đúng cách bằng công nghệ và thuật ngữ như cảm biến, điện toán đám mây, điện toán sương mù, Internet vạn vật (IoT), robot, tần số vô tuyến nhận dạng (RFID) và quản lý và phân tích dữ liệu lớn.
Một cổng thông minh có khả năng đối phó với những thách thức của các thế hệ cổng trước hiệu quả hơn. Nói chung, nó giúp chính quyền cảng và nhà khai thác cảng thích ứng tốt và nhanh chóng với các điều kiện thay đổi của cảng. Nó cũng có một số lợi thế cho các công ty vận chuyển vì họ có thể giảm chi phí của họ bằng cách giảm thời gian chờ đợi. Và cuối cùng, một cổng thông minh có tính đến môi 26 trường của nó tác động và giảm thiểu chúng bằng cách áp dụng nhận thức về năng lượng cách tiếp cận.