Mở đầu: Nêu lý do chọn đề tài, mục tiêu chung và những mục tiêu cụ thê cần nghiên cứu. Các giới hạn về phạm vi nghiên cứu, không gian, thời gian, nội dung. Giới thiệu sơ lược câu trúc bải khóa luận. Chương 2: Tổng Quan: Trình bày về tổng quan về những nghiên cứu trong nước và trên thế giới về lựa chọn nghề nghiệp.
Bên cạnh đó là Tổng quan về lựa chọn nghề tại Việt Nam. Bên cạnh đó, nêu một cách khái quát về Trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM gồm giới thiệu, tổ chức nhà trường, đào tạo, hoạt động hợp tác và nghiên cứu khoa học. Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu: Trình bày cơ sở lí luận khái niệm về nghề nghiệp. Tiếp theo sẽ trình bày về mô hình nghiên cứu gồm mô hình nghiên cứu tham khảo và mô hình nghiên cứu đề xuất của tác giả.
Cuối cùng là trình bày về phương pháp nghiên cứu gồm phương pháp thu thập số liệu, phương pháp phân tích và xử lý số liệu, quy trình nghiên cứu, thang đo và các khái niệm nghiên cứu mà tác giả đã đề ra. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận: Đây là chương quan trọng nhất của đề tài nêu lên kết quả của quá trình nghiên cứu về những yếu tố ảnh hưởng đến ý định lựa chọn nghề nghiệp của sinh viên tại Trường Đại Học Nông Lâm TP. Chương 5: Kết luận và kiến nghị: Chương này rút ra được kết luận từ kết quả thu được ở bài nghiên cứu nhằm đưa ra những kiến nghị về việc lựa chọn nghề nghiệp được tốt hơn. Từ đó đề xuất một số giải pháp khuyến khích sinh viên tìm kiếm và lựa chọn nghề nghiệp chất lượng hơn.
WwW CHƯƠNG 2 TỎNG QUAN 2. Tổng quan tài liệu 2. Giới thiệu về nghề nghiệp Nghề nghiệp: Theo Từ điển Tiếng Việt, nghề là công việc chuyên làm theo sự phân công lao động của xã hội (Hoàng Phê (Chủ biên), 1994). Theo UNESCO, nghề là những công việc trí óc hoặc chân tay mà người lao động có thê thực hiện dé kiếm sống (Tô Xuân Dân - Lê Thị Thu Thủy (Đồng chủ biên, 2013).
Nghề nghiệp là thuật ngữ dé chỉ một hình thức lao động trong xã hội theo sự phân công lao động dé tạo ra sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội. Cụ thé, nghề nghiệp là tập hợp một nhóm công việc chuyên môn cùng loại, gần giống nhau và dựa trên cơ sở chung với sự tương đồng nhất định nào đó. Nghề nghiệp là phan tất yéu va quan trong của mỗi người vì có nghề là có thu nhập dé trang trải cuộc sống. Nghề nghiệp chính là sự nghiệp theo đuổi, là nền tang dé mỗi người có cuộc sống bình đẳng và được xã hội tôn trọng.
Nghề nghiệp gắn bó với mỗi người, tạo nên hình ảnh của mỗi người đối với những người xung quanh. Nếu như nghề nghiệp quan trọng bao nhiêu thì sự lựa chọn nghề nghiệp lại càng cần thiết bấy nhiêu. Kỹ năng lựa chọn nghề nghiệp: Là khả năng của cá nhân biết lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân (Nguyễn Thanh Bình, 2007). Việc lựa chọn nghề nghiệp cần dựa trên một tầm nhìn tong quan va hé thong cac loai nghé trong diéu kién hién nay.
Theo Thông cáo báo chi tình hình lao động việc làm quý III và 9 tháng năm 2022 của Tổng cục thống kê Việt Nam đã viết trong quý III năm 2022, tình hình kinh tế- xã hội nói chung và tình hình lao động việc làm nói riêng tiếp tục có nhiều chuyên biến tích cực. Số người từ 15 tuổi trở lên có việc làm là 50,8 triệu người, tăng 255,2 nghìn người so với quý trước va tăng 3,5 triệu người so với quý HII năm 2021 (quý chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi địch Covid-19). Trong đó, tăng chủ yếu ở khu vực thành thị và ở nam giới (tương ứng là tăng 1,78 triệu người va 1,85 triệu người so với cùng kỳ năm trước). Bên cạnh số người có việc làm tăng lên so với quý trước và cùng kỳ năm trước, thì số thiếu việc làm đã giảm đi so với quý trước và cùng kỳ năm trước.
Cụ thé, số người thiếu việc làm trong độ tuổi quý III năm 2022 là khoảng 871,6 nghìn người, giảm 10,1 nghìn người so với quý trước và đặc biệt giảm 993,6 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuôi quý nay là 1,92%, giảm 0,04 điểm phan trăm so với quý trước và giảm 2,54 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Ty lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi ở khu vực thành thị thấp hơn so với khu vực nông thôn (tương ứng là 1,48% và 2,20%). Như vậy, tình hình thiếu việc làm của người lao động tiếp tục được cải thiện, tuy nhiên vẫn còn cao hơn cùng kỳ trước khi dịch Covid- 19 xuất hiện (tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động quý III năm 2019 là 1,32%).
Lực lượng lao động theo quý, 2020-2022 Đơn vị tính: Triệu người Quy | Quýll Quylll QuýWý Quý! Quýll Quylll QuýWV Quý! Quýl| Quý Ill năm năm năm nảm nam nam nam nam nam nam nam 2020 2020 2020 2020 2021 2021 2021 2021 2022 2022 2022 Nguồn: Tổng cục thống kê, 2022 Đây không phải lần đầu tiên các số liệu thống kê cho thấy thực trạng việc làm “rất có vấn đề” của những lao động trẻ, có trình độ học vấn cao. Đồng thời, những “con số biết nói” trên cũng một lần nữa gióng lên hồi chuông cảnh báo về ý định lựa chọn nghề nghiệp cho giới trẻ ở Việt Nam hiện nay. Vị trí vai trò của việc lựa chọn nghề nghiệp đối với bản thân Khi đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời, mỗi chúng ta đều có những ước mơ, hoài bão về một nghề nghiệp cho tương lai. Và việc lựa chọn nghề dé thỏa mãn những khát vọng, đúng với tâm nguyện, khả năng và điều kiện của bản thân sẽ tạo niềm đam mê, yêu thích với nghề mình đã chọn.
Không chỉ vậy, nó còn tạo động lực thôi thúc bản thân tích cực học tập, nghiên cứu, nỗ lực phan đấu trên con đường minh đã chọn. Có thé thay rang đối với mỗi người, việc lựa chọn đúng ngành nghề phù hợp với khả năng và điều kiện của mình sẽ là động lực to lớn thúc đây bản thân học tập, làm việc và nó cũng tác động rất lớn đến quá trình công tác sau này vì khi có sự lựa chọn đúng đắn thì bản thân mỗi người sẽ nhiều tâm huyết hơn, hiệu quả công việc sẽ cao hơn. Bên cạnh đó vẫn còn những sinh viên lựa chọn ngành nghề chưa đúng, chưa thật sự phù hợp với bản thân tức là sự lựa chọn chỉ dựa theo cảm tính chứ không thật sự tìm hiểu kỹ về những gì mình mong muốn cho công việc sau này. Chính vì những sai lầm đó sẽ khiến họ gặp nhiều khó khăn ngay trong quá trình nghiên cứu học tập từ đó dẫn đến sự nản chí học hành, kém hăng say lao động làm ảnh hướng rất lớn đến kết quả học tập và hiệu quả lao động.
Như vậy, việc lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với bản thân là rat quan trọng bởi vì điều đó không chỉ tác động đến bản thân người đó mà còn tác động đến toàn xã hội. Vị trí vai trò của việc lựa chọn nghề nghiệp đối với toàn xã hội Trong sự nghiệp công nghiệp hóa ngày nay vấn đề việc làm luôn là nỗi băn khoăn của toàn xã hội đặt biệt là đối với thế hệ sinh viên, việc làm có ảnh hưởng rất nhiều tới đời sống con người, ảnh hưởng không chỉ vì thu nhập mà còn ảnh hưởng không nhỏ tới sự lựa chọn nghề nghiệp của mỗi người nó quyết định và chi phối tới sự lựa chọn đó. Hơn nữa với thời đại bùng né thông tin như hiện nay yêu cầu mỗi người phải có năng lực trình độ mới thích ứng được với nhịp sống nhanh của xã hội hiện giờ. Do đó, mỗi sinh viên phải biết lựa chọn nghề nghiệp không những phù hợp với bản thân mà còn phải phù hợp với điều kiện khách quan của xã hội thì cơ hội việc làm luôn chờ đón, luôn tạo điều kiện để thế hệ trẻ tham gia vào ngành nghề đúng khả năng của mình từ đó sẽ thúc đây họ lao động và công hiến cho xã hội, giúp xã hội ngày càng phát triển và vững mạnh hơn nữa.
Ngược lại với những sinh viên thiếu hiểu biết về việc lựa chọn nghề nghiệp đã dẫn đến những sai lầm không phù hợp với cơ chế thị trường làm việc kém hiệu quả ảnh hướng tới năng suất của toàn xã hội và ngay cả bản thân họ cũng gặp khó khăn trong vấn đề tìm việc làm phù hợp với bản thân mình. Vậy một lần nữa có thế khẳng định rằng việc lựa chọn cho mình một hướng đi thích hợp không chỉ rất quan trọng với bản thân như đã nêu ở trên mà còn đóng góp một phần rất quan trọng trong nền kinh tế và sự phát triển của đất nước. Chính vì vậy yêu cầu đặt ra đối với mỗi sinh viên là phải biết chọn cho mình một nghề nghiệp sao cho phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa bởi rằng mỗi thế hệ trẻ của chúng ta đều góp phần không nhỏ trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước và đưa đất nước hội nhập với toản thế giới. Tổng quan về nghiên cứu trên thé giới và nghiên cứu trong nước về ý định lựa chọn nghề nghiệp.
Nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu của Bromley, trên cơ sở khảo sát 384 thanh thiếu niên (trong đó có 174 nam và 174 nữ) từ 14 đến 18 tuổi đã đã đưa ra kết luận: cả nhà trường và gia đình đều có thể cung cấp những thông tin và hướng dẫn trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghề nghiệp của thanh niên. Giáo viên có thể xác định những năng khiếu va khả năng qua đó khuyến khích học sinh tham gia các hoạt động ngoại khoá, tham gia lao động hướng nghiệp hoặc tham quan những cơ sở sản xuất. Phụ huynh học sinh có ảnh hưởng rất lớn đến việc cung cấp những hỗ trợ thích hợp nhất định cho sự lựa chọn nghề nghiệp, ngoài ra còn có sự tác động của anh chị em trong gia đình, bạn bè. Mei Tang, Wei Pan, Mark D., 2008, "Factors influencing High School student'scareer aspriations” tam dich là “Các yếu tố anh hưởng đến nguyện vọng nghề nghiệp của học sinh trung học”, Working paper, University of Cincinnati, USA.
Mei Tang, Wei Pan va Mark D.