CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Lý do thực hiện đề tài Trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay, nhiều thành phần kinh tế với sự hoạt động, mức độ cạnh tranh ngày càng cao hơn, bên cạnh xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, toàn cầu hóa về kinh tế, tính độc lập và tự chủ trong các doanh nghiệp ngày càng cao hơn đã buộc các doanh nghiệp tại Việt Nam phải tự thay đổi để thích nghi với xu thể mới. Để đạt được điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải tự xây dựng cho mình một tổ chức và phương hướng, phương thức hoạt động linh hoạt, xác định thành quả và trách nhiệm trên từng bộ phận/phòng ban của doanh nghiệp; đồng thời, phải cụ thể hóa trách nhiệm đến từng bộ phận/phòng ban và từng cá nhân trong doanh nghiệp. Tại Việt Nam, Kế toán quản trị (KTQT) đã được áp dụng, phát triển gắn liền với các chính sách, chế độ kế toán áp dụng tại các doanh nghiệp.
Theo dòng thời gian phát triển, KTQT chỉ mới được đề cập một cách có hệ thống vào đầu những năm 1990 và đã phát triển thành yêu cầu cấp bách trong xây dựng hệ thống thông tin kế toán vào đầu những năm 2000 đến nay khi các doanh nghiệp cần nâng cao chất lượng quản lý để tăng năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước và thị trường quốc tế. Về phương diện luật pháp, thuật ngữ “Kế toán quản trị” chỉ được ghi nhận chính thức trong Luật Kế toán Việt Nam ban hành ngày 17 tháng 05 năm 2003 và được hướng dẫn áp dụng trong các doanh nghiệp tại Thông tư số 53/2006/TT- BTC, ban hành ngày 12 tháng 06 năm 2006 của Bộ Tài chính. Kể từ đó cho tới những năm gần đây, các nhà quản lý doanh nghiệp đã chú trọng nhiều hơn đến KTQT để nâng cao chất lượng quản lý, tăng cường năng lực thích ứng và cạnh tranh trong môi trường kinh doanh nhiều biến động; đồng thời, tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn hay cụ thể hơn là ra những quyết định đúng đắn, kịp thời cả về mặt chiến lược và chiến thuật trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Trong khi đó, Doanh nghiệp thương mại (DNTM) là một loại hình doanh nghiệp được quy định bởi pháp luật, chuyên về cung cấp các loại hình hoạt động kinh doanh thương mại, tổ chức mua bán hàng hóa nhằm tạo ra lợi nhuận.
Về bản 1 chất, hoạt động kinh doanh thương mại được chia thành ba loại: dịch vụ thương mại, mua bán hàng hóa và xúc tiến thương mại. Có thể nói, DNTM là cầu nói trung gian giữa doanh nghiệp sản xuất với thị trường tiêu thụ. Tuy nhiên, sau đại dịch Covid 19, các doanh nghiệp nói chung đã hoạt động trở lại ổn định, hoạt động của các DNTM theo đó cũng đang phục hồi và tăng trưởng, nhưng đâu đó vẫn còn nhiều khó khăn do ảnh hưởng bởi đứt gãy chuỗi cung ứng từ cuộc chính Nga – Ucraina, hiện tượng suy thoái toàn cầu nên nhu cầu tiêu thụ sản phẩm giảm, …., hoạt động thông quan hàng hóa gặp nhiều khó khan, làm cho các DNTM tại Bình Dương gặp nhiều khó khăn, thách thức. Là một tỉnh có nền công nghiệp phát triển, theo đó cơ cấu thương mại - dịch vụ trong nền kinh tế tỉnh Bình Dương đang tăng dần đều theo từng năm; trong đó, năm 2022 cơ cấu thương mại – dịch vụ chiếm hơn 22%, đến năm 2023 nâng lên hơn 23,5%.
Chỉ tính riêng trong 7 tháng của năm 2023, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ toàn tỉnh đạt 174.820 tỷ đồng, tăng 12,4% so với cùng kỳ; trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 120.346 tỷ đồng, chiếm 68,8%, tăng 14,1% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành đạt 16.986 tỷ đồng, tăng 9,3% so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, UBND tỉnh Bình Dương cũng đã ban hành kế hoạch triển khai chiến lược phát triển thương mại nội địa tỉnh giai đoạn 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Theo đó, xác định phát triển thương mại đồng bộ, đa dạng, hạ tầng thương mại được hiện đại hóa, số hóa trong quản lý, khai thác, vận hành; hạ tầng thiết yếu khu vực nông thôn được phát triển đầy đủ, phục vụ hiệu quả cho hoạt động kinh doanh và nhu cầu sinh hoạt của người dân (UBND tỉnh Bình Dương, 2023). Đồng thời, một số DNTM trên địa bàn tỉnh còn phát triển theo hướng tự phát, việc quản lý tài chính còn hạn chế nên làm hạn chế khả năng phát triển của các doanh nghiệp.
Vì vậy, cần thiết phải có một công cụ kiểm soát quản lý hữu hiệu là KTTN, để qua đó kiểm soát được các thành quả của các bộ phận/trung tâm trách nhiệm như trung tâm tạo doanh thu, trung tâm sử dụng chi phí, trung tâm đầu tư,…. Tuy nhiên, qua khảo sát tại các DNTM trên địa bàn tỉnh hiện nay, hệ thống thông tin KTTN của phần lớn các doanh nghiệp chưa thoả mãn được nhu cầu cung 2 cấp thông tin cho nhà quản trị trong việc điều hành và quản lý doanh nghiệp, một số doanh nghiệp có quy mô nhỏ chưa phân định rõ chức năng cho các phòng ban/bộ phận/trung tâm về nhiệm vụ, chức năng, trách nhiệm,…, chưa có các đánh giá trách nhiệm trong quá trình vận hành. Qua nhận thức được các điều này, xuất phát từ ý nghĩa quan trọng của vấn đề KTTN nêu trên, tác giả đã quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến kế toán trách nhiệm tại các doanh nghiệp thương mại trên địa bàn tỉnh Bình Dương” để làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan Về cơ bản, qua tổng quan các tài liệu nghiên cứu cho thấy các nhà nghiên cứu trong nước cũng như ngoài nước đã đề cập đến KTTN theo ba hướng chính, cụ thể: hướng thứ nhất, các công trình tập trung nghiên cứu về các yếu tố của KTTN; hướng thứ hai, các công trình tập trung nghiên cứu về mối quan hệ giữa KTTN với thành quả hoạt động của doanh nghiệp; và hướng thứ ba, các công trình tập trung nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến KTTN.
Các nghiên cứu ngoài nước Hướng nghiên cứu thứ nhất: liên quan đến các yếu tố của KTTN, tiêu biểu như các nghiên cứu sau: Higgins (1952) đã nghiên cứu KTTN theo hướng mang tính kiểm soát; ông cho rằng hế thống KTTN về bản chất là một hệ thống kiểm soát hoạt động của các trung tâm hoạt động trong một tổ chức và được tất cả các cấp quản lý thiết lập nhằm kiểm soát các hoạt động và chi phí phát sinh. Như vậy, theo quan điểm này, KTTN như một công cụ để kiểm soát các hoạt động và chi phí. Vogel (1962) khi đề cập đến việc xây dựng và thiết lập KTTN trong các doanh nghiệp, ông cho rằng tùy thuộc vào quy mô hoạt động của các doanh nghiệp mà KTTN được thiết kế phù hợp với cơ cấu tổ chức và phân cấp quản lý của từng doanh nghiệp. Theo đó, KTTN phải được thiết kế và xây dựng trên cơ sở phân cấp quản lý nhằm thu thập thông tin để kiểm soát hoạt động kinh doanh tại các bộ phận, phòng/ban; từ đó cung cấp thông tin cho nhà quản trị ra quyết định một cách có hiệu quả.
3 Gordon (1963) nghiên cứu về lý thuyết KTTN, ông nhận định rằng cơ sở của KTTN là lý thuyết kinh tế về tổ chức; bởi vì, theo ông KTTN chỉ phát huy hiệu quả khi doanh nghiệp có sự phân cấp quản lý và hoạt động có tổ chức. Từ đó, ông đề xuất mô hình các yếu tố của KTTN gắn với mối quan hệ về mức độ phân quyền cho các bộ phận trong doanh nghiệp. Garrison và Noreen (2008) nghiên cứu về các trung tâm trách nhiệm trong các tổ chức tài chính gồm có: trung tâm đầu tư (Centers of Investment), trung tâm doanh thu (Centers of Revenues), trung tâm chi phí (Centers of Costs) và trung tâm lợi nhuận (Centers of Profits). Trong các trung tâm này, theo ông mặc dù các trung tâm có mối quan hệ biện chứng với nhau nhưng trung tâm đầu tư đóng vai trò nòng cốt vì nếu trung tâm đầu tư hoạt động tốt, các quyết định đầu tư thực hiện đúng đắn sẽ ảnh hưởng đáng kể đến các trung tâm doanh thu, chi phí và lợi nhuận.
Jooda và cộng sự (2009) đã thực hiện nghiên cứu về mức độ ứng dụng của KTTN tại các khách sạn ở Jordan nhằm đánh giá tầm quan trọng và các mức độ ứng dụng của việc áp dụng KTTN tại các khách sạn ở Jordan. Nghiên cứu cho thấy, các khách sạn ở Jordan đã xác định các trung tâm trách nhiệm và thực hiện lập dự toán một cách rõ ràng, có sự ghi nhận và so sánh thành quả đã lập kế hoạch với thực tế để xác định mức độ áp dụng KTTN. Từ đó, nghiên cứu cũng cho thấy có mối quan hệ giữa mức độ áp dụng các trung tâm KTTN với việc khuyến khích các nhân viên làm việc hiệu quả. Mojgan Safa (2012) đã thực hiện nghiên cứu về vai trò của KTTN trong cấu trúc tổ chức, nghiên cứu cho thấy KTTN được thiết kế để báo cáo và tập hợp chi phí, thể hiện cấp độ cá nhân của nhà quản trị.
Theo nghiên cứu, chi phí tính cho mỗi bộ phận với trách nhiệm và nhiệm vụ kiểm soát tương ứng. Nghiên cứu cũng cho rằng KTTN có ba loại trung tâm trách nhiệm cơ bản là: trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu và trung tâm đầu tư. Trái ngược với nghiên cứu của Mojgan Safa, nghiên cứu của Horngren (2012) lại cho rằng KTTN bao gồm năm trung tâm trách nhiệm là: trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu, trung tâm lợi nhuận, trung tâm đầu tư và trung tâm lợi nhuận gộp. Theo đó, trung tâm lợi nhuận gộp là trung tâm trách nhiệm do nhà quản 4 trị chịu trách nhiệm về lợi nhuận gộp của trung tâm đó và lợi nhuận gộp được tính bằng cách lấy doanh thu trừ (-) biến phí.
Khajehpour, Saboohi và Tsatsaroni (2017) nghiên cứu về sự cần thiết và ứng dụng một khái niệm mới trong KTTN môi trường. Nghiên cứu cho thấy rằng trách nhiệm môi trường bắt nguồn là đại diện cho vai trò của các đơn vị trong tổng lượng phát thải và đóng góp tương ứng vào việc quản lý môi trường. So sánh kết quả cho thấy trách nhiệm của các đơn vị sử dụng dịch vụ cao hơn so với các đơn vị cung cấp dịch vụ trong việc kiểm soát phát thải. Sự khác biệt giữa trách nhiệm và giấy phép có thể thể hiện chi phí thiệt hại bên ngoài không được tính vào quá trình hoạt động.