CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan nghiên cứu trên thế giới 1.1 Nghiên cứu về thuế thu nhập doanh nghiệp Nghiên cứu của Hanlon (2005): nghiên cứu phân tích sự khác biệt giữa thu nhập chịu thuế và lợi nhuận kế toán trong giai đoạn 1994-2000. Kết quả cho thấy các công ty có lợi nhuận kế toán luôn lớn hơn so với thu nhập chịu thuế. Nghiên cứu cho rằng lợi nhuận kế toán luôn cao hơn thu nhập chịu thuế trong khoảng thời gian dài, tuy nhiên tác giả không giải quyết sự tồn tại của một số loại tích lũy nhất định (ví dụ các khoản dồn tích dài hạn) liên quan đến chênh lệch sổ sách - thuế có thể cung cấp những hiểu biết bổ sung về sự khác biệt giữa sổ sách và thuế cung cấp. Nghiên cứu của K.Muthupandian (2008): Nghiên cứu hướng đến mục tiêu tìm hiểu sâu hơn IAS 12 - thuế thu nhập doanh nghiệp.
Tác giả đã nêu ra mục tiêu, các định nghĩa chính và cách ghi nhận các loại thuế thu nhập. Kết quả nghiên cứu cho thấy IAS 12 là một thỏa thuận tiêu chuẩn được thiết lập tốt về cả thuế hiện hành và thuế thu nhập hoãn lại. Nhưng thuế thu nhập hoãn lại vẫn là lĩnh vực khó và phức tạp đối với một số công ty. Các tiêu chuẩn liên quan đến thuế thu nhập có thể thay đổi ngay cả sau khi những công ty áp dụng sớm ở Hoa Kỳ chuyển sang IFRS.
Nghiên cứu của Ahmad Adel Jamil Abdallah (2017) đã đo lường mức độ phù hợp của kế toán thuế thu nhập ở Jordan với các yêu cầu của chuẩn mực kế toán quốc tế. Kết quả nghiên cứu cho thấy không có sự công nhận của chênh lệch tạm thời và khấu trừ chênh lệch tạm thời (sự khác biệt giữa lợi nhuận kế toán và lợi nhuận chịu thuế) trong kế toán thuế thu nhập ở Jordan theo tiêu chuẩn kế toán quốc tế. Nghiên cứu của Julian Atanassov và Xiaoding Liu (2019): tác giả đặt ra câu hỏi: Việc cắt giảm thuế thu nhập doanh nghiệp có thể kích thích sự đổi mới không? Nghiên cứu này đưa ra bằng chứng mới về tác động của thuế thu nhập doanh nghiệp đối với lượng và chất lượng của sự đổi mới. Nhóm tác giả ghi nhận rằng việc cắt giảm thuế đáng kể dẫn đến đầu ra sáng tạo.
Qua phân tích, nhóm tác giả thấy rằng việc cắt giảm thuế có tác động lớn hơn đến sự đổi mới đối với các công ty bị hạn chế về tài chính hơn, có tài sản thế chấp nhỏ hơn, có quản trị doanh nghiệp, và tránh thuế nhiều hơn. Những phát hiện này cho thấy rằng, bằng cách ảnh hưởng đến thu nhập cam kết của doanh nghiệp, chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp có thể ảnh hưởng đáng kể đến động lực đổi mới của doanh nghiệp và do đó có tác động mạnh mẽ đến hoạt động dài hạn của công ty và tăng trưởng kinh tế.2 Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng chuẩn mực kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp Nghiên cứu của Dumontier & Raffournier (1998), Street & Gray (2002): Dumontier và Raffournier (1998), trong một nghiên cứu về việc sử dụng IFRS / IAS ở Thụy Sĩ đưa ra giả thuyết rằng việc áp dụng IFRS sẽ dẫn đến tiết lộ thông tin tốt hơn. Nghiên cứu của họ cho thấy một ảnh hưởng tích cực của quy mô, tính quốc tế, tình trạng niêm yết, loại kiểm toán viên và khuếch tán quyền sở hữu đối với việc sử dụng IFRS / IAS. Street and Gray (2002), đã kiểm tra yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ IFRS / IAS.
Sử dụng mẫu quốc tế của 279 công ty, họ đã thử nghiệm một số biến như tình trạng niêm yết, quy mô công ty, ngành nghề kinh doanh, kiểm toán viên, lợi nhuận, và quy mô của thị trường chứng khoán. Nghiên cứu của Al-Basteki (1995), Prem Lal Joshi và Sayel Ramadhan (2002): Al-Basteki (1995) đã kiểm tra các đặc điểm của 26 công ty ở Bahrain được liệt kê và chọn tiết lộ thông tin theo IAS. Các đặc điểm là danh tiếng của kiểm toán viên bên ngoài, quy mô công ty, mức độ hoạt động nước ngoài, lĩnh vực công nghiệp và mức độ phụ thuộc vào tài chính bên ngoài. Kết quả cho thấy quyết định áp dụng IFRS bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi loại kiểm toán viên bên ngoài (Big 4).
(2002) đã tiến hành nghiên cứu việc áp dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế của các công ty nhỏ và vừa ở Bahrain. Kết quả cho thấy 31/36 công ty trả lời bảng hỏi áp dụng IASs và họ coi IAS rất phù hợp với họ. Khoảng 84% những người chấp nhận IASs đồng ý mạnh mẽ rằng việc sử dụng IASs cải thiện khả năng hỗ trợ tài chính của tổ chức từ lĩnh vực ngân hàng. Ngoài ra, khoảng 90% số người được hỏi hoàn toàn đồng ý rằng IASs giúp đạt được các mục tiêu và cải thiện hiệu quả của báo cáo tài chính.
Nghiên cứu cho thấy kiểm toán viên bên ngoài có ảnh hưởng lớn nhất đến việc các công ty áp dụng IASs ở Bahrain. Nghiên cứu của Zeghal, D. (2006): nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả áp dụng IAS ở 64 quốc gia đang phát triển bằng phương pháp nghiên cứu định lượng logistic. Những nhân tố được dự đoán ảnh hưởng đến hiệu quả áp dụng IAS là: tăng trưởng kinh tế, trình độ học vấn, mức độ mở cửa kinh tế bên ngoài, văn hóa trong một nhóm các quốc gia và sự tồn tại của thị trường vốn.
Nghiên cứu chỉ ra rằng các nước đang phát triển có tỷ lệ biết chữ cao nhất, có thị trường vốn và có văn hóa Anh-Mỹ là lý do lớn nhất để áp dụng các tiêu chuẩn kế toán quốc tế. 6 Các biến số mở cửa kinh tế bên ngoài và tăng trưởng kinh tế là không đáng kể về mặt thống kê. Những kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng việc áp dụng một hệ thống kế toán cụ thể bị ảnh hưởng bởi trình độ học vấn (Doupnik &Salter, 1995; Hongjiang Xu, 2003), thành viên văn hóa trong một nhóm các quốc gia (Abdelsalem &Weetman, 2003) và sự tồn tại của một thị trường vốn (Adhikari & Tondkar, 1992). Tuy nhiên các nghiên cứu này tập trung nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng IAS nói chung mà không đề cập đến nhân tố ảnh hưởng chính đến việc áp dụng IAS 12 cụ thể như thế nào.
Nghiên cứu của Kolsi và Zehri (2013): nghiên cứu đã xác định và khám phá mức độ các yếu tố môi trường ảnh hưởng việc áp dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế ở 74 quốc gia mới nổi và 700 công ty. Nghiên cứu đã đưa ra các biến số kinh tế vĩ mô và kinh tế vi mô ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS. Các biến số kinh tế vĩ mô bao gồm: văn hóa, hệ thống pháp luật, hệ thống giáo dục, hệ thống chính trị, hoạt động nước ngoài, tăng trưởng kinh tế và thị trường vốn. Các biến số kinh tế vi mô là quy mô của công ty, tỷ lệ đòn bẩy, hiệu suất của công ty, tính quốc tế của công ty và chất lượng kiểm toán.
Kết quả nghiên cứu cho thấy các nước đang phát triển không dựa trên quyết định của họ để thông qua IFRS về văn hóa, chính trị, kinh tế và sự tồn tại của thị trường vốn. Quyết định áp dụng IFRS của các nước đang phát triển bị ảnh hưởng bởi mức độ hoạt động bên ngoài, trình độ học vấn và hệ thống pháp luật. Đây cũng là kết quả nghiên cứu của Jamel Chouaibib & cộng sự (2013). Các biến số kinh tế vi mô như tỷ lệ đòn bẩy, hiệu suất và tính quốc tế không tác động đáng kể đến quyết định áp dụng IFRS nhưng chất lượng kiểm toán và quy mô công ty có tác động đáng kể đến quyết định áp dụng IFRS của các nước đang phát triển.
Điều này phù hợp với các nghiên cứu Chow và Wong-Boren (1987), Cooke (1989), Meek và cộng sự (1995) khi cho rằng quy mô doanh nghiệp ảnh hưởng đến mức độ áp dụng chuẩn mực kế toán. Nghiên cứu của Ahmed Ebrahim (2014): tác giả đã tiến hành nghiên cứu việc tuân thủ và thực thi Các tiêu chuẩn báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) ở các nước đang phát triển, cụ thể là kế toán thuế thu nhập (IAS 12) ở Ai Cập. Sử dụng một mẫu các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Ai Cập vào năm 2007, tác giả kiểm tra việc tuân thủ các yêu cầu công nhận và công bố thông tin về kế toán thuế thu nhập sau khi Ai Cập áp dụng đầy đủ IFRS vào năm 2006. Kết quả cho thấy bằng chứng về việc không tuân thủ các yêu cầu của IFRS đối với kế toán thuế thu nhập và việc tuân thủ các yêu cầu công nhận và công bố thông tin có liên quan đáng kể đến việc được kiểm toán bởi một công ty kiểm toán có liên kết quốc tế.
Để kiểm tra ảnh hưởng của chất lượng kiểm toán đối với việc tuân thủ kế toán thuế thu nhập, nghiên cứu cũng kiểm 7 soát ảnh hưởng tiềm năng của lợi nhuận, quy mô và hiệu ứng ngành của công ty. Để kiểm soát hiệu ứng lợi nhuận, nghiên cứu sử dụng biến lợi nhuận được đo bằng thu nhập ròng chia cho doanh thu thuần. Để kiểm soát hiệu ứng kích thước, nghiên cứu sử dụng biến quy mô được đo bằng logarit tự nhiên của doanh thu thuần của công ty. Nghiên cứu sử dụng phân tích hồi quy để kiểm tra tác động của chất lượng kiểm toán đối với việc tuân thủ cả yêu cầu công nhận thuế thu nhập hoãn lại và công bố thông tin.
Sử dụng kế toán cho tiêu chuẩn thuế thu nhập hoãn lại, nghiên cứu đã tìm thấy bằng chứng cho thấy các công ty được kiểm toán bởi các kiểm toán viên độc lập có liên kết quốc tế có nhiều khả năng phù hợp với các yêu cầu công nhận và công bố của các chuẩn mực kế toán quốc tế được thông qua. Kết quả của nghiên cứu này bị hạn chế khi sử dụng dữ liệu chỉ từ một năm sau khi áp dụng IFRS chính thức ở Ai Cập. Tuy nhiên, Ai Cập như một ví dụ về một nền kinh tế đang phát triển đã áp dụng IFRS, kết quả của nghiên cứu này sẽ có lợi để làm nổi bật cách các yếu tố môi trường báo cáo tài chính và quy định khác nhau xác định cách IFRS được áp dụng ở các quốc gia khác. Nghiên cứu của Ebrahim và Fattah (2015): nghiên cứu đã xem xét các yếu tố quản trị công ty và chất lượng kiểm toán độc lập có ảnh hưởng đến việc tuân thủ IFRS ở Ai Cập.