Chương 1 Điều kiện tự nhiên xã hội huyện Vân Canh 1. Điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lý Hình 1. Vị trí địa lý của huyện Vân Canh, Tỉnh Bình Định Vân Canh là huyện có diện tích tự nhiên lớn nhất tỉnh với 80020,84ha, vị trí của huyện nằm ở tọa độ địa lý: Từ 13030’ đến 13050’ vĩ độ Bắc và từ 108050’ đến 109005’ kinh độ Đông.
Phía Bắc giáp huyện Tây Sơn và An Nhơn. Phía Nam giáp huyện Đồng Xuân của tỉnh Phú Yên.Phía Đông giáp huyện thành phố Quy Nhơn. Phía tây giáp huyện Koongchoro của tỉnh Gia Lai. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Địa hình Địa hình huyện Vân Canh có độ cao chênh lệch giữa các vùng trong huyện rất lớn.Độ cao lớn nhất đạt 700m, độ cao trung bình khoảng 200m so với mực nước biển, bị phân cắt mạnh, phần lớn là các sườn núi có độ dốc trên 250m.địa hình núi thấp và thung lung kiến tạo. Khí hậu Huyện Vân Canh nằm trong tiểu vùng khí hậu duyên hải Nam Trung Bộ là vùng khí hậu nhiệt đới ẩm.với nền nhiệt độ cao và ổn định.Có 2 mùa mưa và khô rõ rệt. Tổng lượng nước mưa lớn, và bắt đầu từ tháng 9 đến hết tháng 12, mùa khô bắt đầu từ tháng 1 đến cuối tháng 8 và lượng mưa phân bố không đồng đều. Mùa mưa ở đây thường hay có lũ quét và sạt lở.
Giao thông Phần lớn các xã của huyện Vân Canh nằm trên tuyến đường Diêu Trì - MụcThịnh mới được nâng cấp nên giao thông khá thuận lợi; trong những năm gần đây phong trào bê tông hóa giao thông nông thôn phát triển nên đường sá có phần được cải thiện đáng kể, trừ địa bàn xã Canh Liên giao thông còn khó khăn. Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có đường sắt Việt Nam đi qua với ga Vân Canh. Tài nguyên đất và khoáng sản Theo các kết quả điều tra của Hội khoa học đất Việt Nam, với phương pháp đánh giá đất của FAO-UNESCO, trên địa bàn huyện Vân Canh có nhóm đất sau: Đất cát (C) có diện tích 2367ha chiếm 2,96% diện tích tự nhiên, phân bố tập trung tại các xã: Canh Vinh, Canh Hiển, Canh Hiệp. Đất xám (X) có diện tích 76270ha chiếm 95,58% diện tích tự nhiên.
Khoáng sản trên địa bàn huyện phần lớn là granit, gabbro, bazan, có chất lượng tốt để sự dụng trong ngành cồng nghiệp xây dựng dân dụng và cơ sở hạ tầng giao 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thông, thủy lợi. Cát xây dựng phân bố trong các bãi bồi, doi cát và long song dọc theo song Hà Thanh với khối lượng đáp ứng nhu cầu sự dụng trong huyện. Kinh tế - xã hội 1. Kinh tế Trong thời kỳ 1995-2013 thì nền kinh tế của huyện Vân Canh có mức tăng trưởng khá với tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân khoảng 6.
Trong thời kỳ 1995-2000 tăng bình quân 4,83% và thời kỳ năm 2001-2008 thì tăng bình quân hơn 7,9% trên năm. Giai đoạn từ năm 2009- 2013 do nền kinh tế suy giảm nên tốc độc kinh tế có xu hướng giảm hơn so với thời kỳ 2001-2008. Nhìn chung cơ cấu kinh tế của huyện Vân Canh là về nông nghiệp chủ yếu, thời gian qua cơ cấu kinh tế đã có sự dịch chuyển, tỷ trọng ngành tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ tăng nhưng vẫn còn nhiều hạn chế.Hiện nay, nền kinh tế của huyện bước đầu đi vào ổn định và đang được quan tâm đầu tư để phát triển, đời sống nhân dân dần được cải thiện từng bước. Tuy nhiên so với mặt bằng chung tỉnh thì nền kinh tế của huyện Vân Canh còn phát triển rất chậm.
Dân số, lao động và việc làm Huyện Vân Canh có 7 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có thị trấn Vân Canh mới được thành lập và các xã Canh Hòa, Canh Thuận, Canh Hiệp, Canh Hiển, Canh Vinh và Canh Liên. Có 3 dân tộc cùng chung sống là dân tộc Kinh, dân tộc Chăm và dân tộc BaNa; trong đó dân tộc Chăm tập trung chủ yếu ở xã Canh Hoà, dân tộc Bana tập trung ở các xã Canh Liên, Canh Thuận, Canh Hiệp với dân số chiếm trên 40% so tổng dân số. Ngưòi Chăm (Chăm Hroi) ở Vân Canh có quan hệ mật thiết và có quá trình phát triển vừa chung vừa riêng rất đáng được chú ý trong cộng đồng người Chăm trong cả nước. Người Chăm ở Vân Canh sống xen với người Bana và người Kinh; họ có khá nhiều tên gọi khác nhau như Chăm Hroi, Hroi, Aroi, Chăm Đắc Rây, Chăm Hơđang, Chăm Đèo.Có thể gốc gác người Chăm ở Vân Canh vốn là người Chàm cổ.
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dân số từ năm 2001-2013, tăng trưởng khá nhanh, tăng 1,2 lần và tốc độ bình quân hang năm 1,88% (bình quân cả tỉnh 1,17%). Dân số trên địa bàn huyện năm 2008 là 25253 người với mật độ dân số 32 người trên km2, quá thấp so với cả tỉnh. Đến năm 2013 thì mật độ dân số tăng lên hơn 40 người trên km2. Năm 2013 toàn huyện gần 14000 người trong độ tuổi lao động, công nhân lành nghề và chất lượng lao động trong toàn huyện không đồng đều giữa các vùng.
Tuy nhiên trong 5 năm tới sẽ có hơn 3000 người trong độ tuổi lao động nên sẽ gây ra áp lực lớn về việc làm, vì vậy các cấp ban ngành quan tâm giải quyết công việc trong những năm tới. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương 2 Đặc điểm địa chất khu vực nghiên cứu 2. Hệ tầng Đacmi (PR1 đm) Trong diện tích tỉnh Bình Định chỉ lộ ra phụ hệ tầng Đacmi dưới (Pr1 đm) và còn tồn tại đôi dải hẹp vùng Nam Vân Canh. Hệ tầng được đặc trưng bởi các đá phiến kết tinh, xen kẽ plagio-gơnai, lớp mỏng amfibiolit- biotit, ở phần thấp phổ biến đá phiến thạch anh biotit.
Phần lớn các đá đều bị macmatit hóa. Hệ tầng Sa Thầy (PZ1 st) Các thành tạo Paleozoi dưới thuộc hệ tầng Sa Thầy chỉ còn tồn tại trong một vài diện tích hẹp nằm ở phía Nam Vân Canh và Đồng Sim - Tây Sơn, có chiều dày 800- 1. Các đá chủ yếu thuộc phụ hệ tầng trên (PZ1 st) bao gồm đá phiến thạch anh xerixit, quaczit, xen đá phiến mica, phần xuống dưới là đá quaczit hạt thô có andezit. Giới Mezozoi Các thành tạo Mezozoi được phân bố khá rộng rãi ở phía Nam đường 19, chủ yếu là các trầm tích lục nguyên xen kẽ phun trào axit thuộc hệ tầng Măng Giang (T2 mg) và Hệ tầng Đơn Dương (K đd).
Hệ tầng Măng Giang (T2 mg) Hệ tầng Măng Giang phân bố phần lớn ở vùng Vân Canh, Cù Mông. Phủ bất chỉnh hợp lên trên các thành tạo cổ; bao gồm các đá cát kết ackoz, xen fenzit, cuội kết, sạn kết và các đá phun trào riolit dacit, xen cát kết, bột kết, phiến silic màu vàng nâu đến xám xanh, dày 500 - 600 m 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phức hệ Chu Lai (PR3cl) Phức hệ được xác lập 1979 bao gồm nhiều thể xâm nhập như Chu Lai, Hòn Bà, Ngọc Gơleleng có kích thước vừa đến lớn dạng kéo dài, trùng với phương cấu trúc của đá biến chất tuổi Proterozoi. Thành phần thạch học của phức hệ gồm plagiogranit micmatit, granit micmatit, granitogneis biotit và các đai mạch pegmatit.
Các đá có cấu tạo gneis dạng vân dải, theo chúng có quan hệ chuyển tiếp từ các trầm tích biến chất tuổi Proterozoi vây quanh và là sản phẩm của quá trình granit hoá từ các đá này. Trong phạm vi khối gặp nhiều thể sót dạng thấu kính, hoặc dạng lớp không đều đều đặn của đá trầm tích biến chất còn bảo tồn cấu tạo vi uốn nếp, phân bố định hướng cùng phương cấu tạo gneis của vùng. Đá mạch phổ biến là pegmatit, aplit, mạch thạch anh-turmalin, chúng tạo thành những mạch nhỏ phân bố trong phạm vi khối hoặc ở các đới chuyển tiếp. Các thành tạo granitoit của phức hệ có đặc điểm như sau: SiO2=69-75%, Na2O=2-2,8%, K2O=3-6%, hàm lượng tổng kiềm dao động từ 5,5-8%, các đá của phức hệ thuộc loạt kiềm vôi trung bình kali, là sản phẩm của quá trình tái nóng chảy các đá magma và trầm tích vỏ lục địa trong điều kiện siêu biến chất.
Tuổi tuyệt đối của khối Chu Lai đã được Phan Trường Thị xác định bằng phương pháp Rb-Sr là 550 triệu năm. Phức hệ Phương Mai (T2 pm) Tại đây các đá xâm nhập nông phổ biến, có cùng nguồn gốc với phun trào axit hệ tầng Măng Giang (T2 mg) , như các khối Phương Mai (Quy Nhơn), có một diện tích tổng cộng khoảng 10km2, có hình dạngkéo dài theo hướng Bắc - Nam. ở Phía Đông và Tây Nam gặp quan hệ trực tiếp granitbiotit hạt lớn đến vừa màu hồng thuộc pha 2 phức hệ Vân Canh bị xâm nhập nông gabrodiorit pocfia phức hệ Cù Mông tuổiPaleogen xuyên cắt gây biến chất nhiệt. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Phức hệ Trà Bồng (-O-S tb) Các thành tạo xâm nhập trung tính ở khối Trà Bồng được liệt vào phức hệ Đại Lộc. Trong quá trình nghiên cứu đo vẽ thành lập bản đồ địa chất và khoáng sản tỉ lệ 1: 200.000 loạt Huế-Quảng Ngãi đã tách các đá kể trên ra và thành lập phức hệ Trà Bồng bao gồm các khối: Trà Bồng, Trà Mi, Núi Gò…chúng phân bố ở phần phía Nam của loạt tờ bản đồ và một số thể diorit thạch anh bị bắt tù trong granit sáng màu phức hệ Bà Nà và granodiorit phức hệ Quế Sơn ở vùng Tiên Phước. Các thể xâm nhập có kích thước khác nhau từ vài Km2 đến hàng chục Km2. Thành phần thạch học chủ yếu của phức hệ là diorit sẫm màu, diorit thạch anh, granodiorit bị ép có cấu tạo dạng gneis.
Các đá của phức hệ xuyên cắt, gây sừng hoá các trầm tích lục nguyên-núi lửa, lục nguyên-carbonat của hệ tầng A Vương và bị granit biotit dạng gneis phức hệ Đại Lộc xuyên cắt và gây felspat hoá. Huỳnh Trung và Nguyễn Xuân Bao (1980) xác định tuổi tuyệt đối bằng phương pháp K-Ar là 387-443 triệu năm. Phức hệ Bến Giằng-Quế Sơn (-P2-T1bg-qs) Quá trình thành lập bản đồ địa chất Việt nam tỉ lệ 1: 500.000, Huỳnh Trung và Nguyễn Xuân Bao xác lập lần đầu năm 1979 với tên gọi là “Phức hệ Quế Sơn”trong đó thành phần chủ yếu của phức hệ là granit màu hồng. Trong quá trình thành lập bản đồ địa chất và khoáng sản loạt tờ Huế-Quảng Ngãi đã xác lập phức hệ Quế Sơn, nhưng với quan niệm mới về phức hệ này là loạt phân dị dài từ magma trung tính gồm gabrodiorit, diorit, diorit thạch anh, granodiorit đến granit giống như phức hệ Bến Giằng-Quế Sơn trước đây.