Tổng quan nghiên cứu

Khu vực duyên hải tỉnh Bình Định sở hữu chiều dài bờ biển lên tới 134 km với tổng diện tích tự nhiên khoảng 6.025 km2, giữ vị trí then chốt trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Trong đó, cửa biển Đề Gi cùng hệ thống đầm Nước Ngọt rộng khoảng 16,5 km2 (chiều rộng trung bình 2,8 km và chiều dài 5,8 km) thuộc địa phận hai huyện Phù Cát và Phù Mỹ là ngư trường và luồng giao thông thủy đặc biệt quan trọng. Vấn đề cấp bách đặt ra là hiện tượng bồi lấp diễn biến phức tạp làm luồng tàu cửa biển bị thu hẹp chỉ còn khoảng 110 m, bãi cạn chắn cửa duy trì độ sâu rất thấp chỉ từ 2,2 m đến 2,5 m. Tình trạng bồi lắng nghiêm trọng này cản trở trực tiếp hoạt động đánh bắt của hơn 1.000 tàu cá công suất lớn, đồng thời làm suy giảm nghiêm trọng năng lực tiêu thoát lũ của lưu vực sông La Tinh (diện tích lưu vực 719 km2), gây ngập úng diện rộng và xói sạt bờ cát ven biển.

Mặc dù địa phương đã đầu tư xây dựng tuyến kè chắn sóng và ngăn cát dài 400 m, tuy nhiên khu vực đầu kè vẫn liên tục bị bồi lắng, cho thấy sự thiếu đồng bộ trong việc đánh giá động lực học thủy thạch. Đề tài tập trung làm sáng tỏ hiện trạng, cơ chế tương tác giữa các yếu tố nội sinh - ngoại sinh và nhân sinh, định lượng cán cân bồi tích bùn cát, đồng thời dự báo biến động đường bờ dưới tác động của biến đổi khí hậu trong phạm vi tọa độ từ 109°08’ đến 109°14’ kinh độ Đông và 14°07’ đến 14°11’ vĩ độ Bắc. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học xác thực nhằm thiết lập các giải pháp công trình và phi công trình tối ưu, bảo vệ tài nguyên đất ven biển, đảm bảo an toàn luồng tàu và phục vụ phát triển kinh tế biển bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận tiếp cận hệ thống Địa chất công trình, xem xét quá trình xói lở - bồi tụ đới ven biển là một hệ thống mở phát triển động, hình thành từ sự tương tác phức hợp giữa ba phân hệ chính: đặc điểm địa chất - địa mạo thềm bờ, các quá trình ngoại sinh thủy quyển (sóng, thủy triều, dòng chảy, bão lũ) và hoạt động kinh tế kỹ thuật của con người. Về mặt động lực học bờ biển, nghiên cứu áp dụng lý thuyết cân bằng bùn cát tổng quát theo mô hình của Đỗ Minh Đức (2004) dựa trên hai biến trạng thái chủ đạo là lưu lượng bùn cát bồi tụ đến (Qin) và lưu lượng bùn cát bị bóc mòn mang đi (Qout).

Bên cạnh đó, đề tài tích hợp nguyên lý biến đổi đường bờ ven biển dưới tác động của mực nước biển dâng theo mô hình Bruun (1962), Dean và Maurmeyer (1983), kết hợp mô hình xói lở do sóng bão cực đoan của Kriebel và Dean (1993) cùng công thức tính toán lượng vận chuyển cát dọc bờ của Tổ chức CERC (2002). Hệ thống lý thuyết này làm rõ 4 khái niệm trung tâm bao gồm: dòng bùn cát dọc bờ (longshore sediment transport), cán cân bồi tích, chế độ sóng đổ và vùng nước nông chuyển tiếp.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa dạng bao gồm bản đồ địa hình tỷ lệ 1:50.000 năm 2002, ảnh viễn thám vệ tinh độ phân giải cao năm 2010 và chuỗi số liệu khảo sát thực địa toàn diện vào tháng 10/2012. Phương pháp chọn mẫu được tiến hành theo nguyên tắc phân tầng ngẫu nhiên dọc theo 18 tuyến trắc diện địa hình đáy cắt ngang qua cửa Đề Gi và đầm Nước Ngọt, kết hợp thu thập 35 mẫu trầm tích tầng đáy đại diện cho các vùng cửa sông, bãi triều và vùng biển nông ven bờ cách mép nước đến 10 hải lý. Cỡ mẫu này đảm bảo tính đại diện thống kê cao cho toàn bộ cấu trúc địa mạo lòng dẫn.

Các thiết bị đo đạc chuyên dụng tiên tiến được triển khai tại hiện trường gồm máy đo sâu địa hình hồi âm Z-Max kết hợp hệ thống định vị vi sai GPS vệ tinh, thiết bị đo lưu tốc và hướng dòng chảy tầng nước bằng sóng âm ADCP (Acoustic Doppler Current Profiler), cùng thiết bị ghi nhận sóng và dòng chảy ven bờ AWOAT. Lý do lựa chọn hệ phương pháp kết hợp giữa viễn thám, GIS và mô hình toán học thay vì mô hình vật lý thu nhỏ là nhằm khắc phục triệt để các sai số do tỷ lệ hình học, cho phép xử lý không gian đa chiều, liên kết dữ liệu trường sóng - dòng chảy thực tế với cấu trúc địa tầng Holocen để mô phỏng chính xác cơ chế bồi lắng phức tạp của cửa biển.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu xác định trường động lực sóng và dòng triều là nhân tố quyết định quá trình dịch chuyển trầm tích tại cửa Đề Gi. Vào mùa khô, dòng chảy mang tính chất bán nhật triều lưu với vận tốc tầng mặt trung bình đạt 28,6 cm/s, tầng giữa 25,7 cm/s và tầng đáy 19,4 cm/s (vận tốc cực đại đạt 76 cm/s). Đến mùa mưa lũ, dòng chảy mặt gần như một chiều hướng thẳng ra biển với vận tốc trung bình tăng lên 41,3 cm/s và cực đại đạt tới 96 cm/s tại pha triều rút. Sóng hướng Đông Bắc và Đông Nam chiếm ưu thế với chiều cao cực đại ngoài khơi quan trắc được lên tới 12 m; đặc biệt trong phạm vi 10 hải lý ven bờ, sóng lừng có chiều cao trung bình từ 2,2 m đến 2,3 m, lớn gấp 4,6 lần chiều cao sóng gió trong mùa hè và gấp 2,2 lần trong mùa đông, tạo động lực cực mạnh đẩy bùn cát vào sâu trong lòng cửa.

Thứ hai, thành phần thạch học và chất đáy phân bố tại cửa biển có tính chọn lọc cao. Trầm tích biển Holocen trung - thượng (mQ22-3) chiếm ưu thế với hàm lượng khoáng vật thạch anh đạt tới 91%, độ hạt chủ yếu là cát thô (chiếm 37% đến 66%) và cát trung (30% đến 52%), đường kính hạt trung bình dao động từ 0,520 mm đến 1,343 mm. Điều này chứng minh nguồn gốc bùn cát bồi lấp chủ yếu xuất phát từ nguồn vật liệu bãi biển do sóng biển vận chuyển dọc bờ chứ không phải từ bồi tích phù sa mịn của sông La Tinh đưa ra.

Thứ ba, phân tích không gian trên ảnh vệ tinh giai đoạn 2002 - 2010 và số liệu đo đạc 2012 chỉ rõ sự hình thành của hai doi cát bồi lấp ngầm chắn ngang cửa biển với độ cao đáy nâng lên từ -11,2 m trong lòng đầm thành bãi cạn chỉ còn sâu -2,2 m đến -2,5 m ở cửa ngoài. Mặc dù công trình kè mỏ hàn 400 m đã xây dựng, hiện tượng nhiễu xạ sóng ở đầu kè đã cuốn cát vòng qua mũi kè, làm gia tăng tốc độ sa bồi bãi ngầm xung quanh đầu kè lên hơn 15% so với giai đoạn trước khi xây dựng công trình.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi gây bồi lấp cửa Đề Gi bắt nguồn từ sự mất cân bằng động lực giữa dòng chảy sông và năng lượng biển. Lưu lượng dòng chảy sông La Tinh mang tính thời vụ rõ rệt, chỉ tập trung trong mùa mưa lũ ngắn ngủi (lượng mưa 4 tháng cuối năm đạt 1.404,1 mm, chiếm 72,1% lượng mưa cả năm), trong khi quá trình sóng biển và dòng chảy dọc bờ vận chuyển bùn cát hoạt động liên tục suốt 8 tháng mùa khô (lượng mưa chỉ đạt 565,9 mm, chiếm 28,9%). Phía Bắc cửa Đề Gi có dãy núi đá granit phức hệ Đèo Cả che chắn gió Đông Bắc, khiến trường sóng hướng Đông và Đông Nam tác động trực tiếp đẩy dòng bồi tích ven bờ từ phía Nam (xã Cát Khánh) dịch chuyển mạnh lên phía Bắc và bồi tụ ngay tại cửa đầm.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu của Trịnh Việt An (2012) tại các cửa biển miền Trung như cửa Tam Quan, Sa Huỳnh và Mỹ Á, nơi các công trình kè chắn sóng đơn lẻ chưa đủ chiều dài vươn ra ngoài đới sóng đổ thường vô tình tạo ra các bẫy cát ngầm. Dữ liệu nghiên cứu về sự tương quan giữa lưu tốc dòng chảy theo các tầng nước và tốc độ bồi lắng bãi cát được thể hiện sinh động qua hệ thống biểu đồ mặt cắt phân bố độ sâu trắc diện luồng dẫn và bảng ma trận cân bằng thể tích bồi tích Qin - Qout. Mô hình dự báo theo kịch bản biến đổi khí hậu chỉ ra rằng khi mực nước biển dâng từ 50 cm đến 75 cm và triều cường dâng do bão đạt 1,7 m, tốc độ sạt lở bờ biển sẽ gia tăng từ 10% đến 30%, đồng thời lượng cát bồi vào lòng cửa trong các cơn bão mạnh có thể tăng đột biến gấp 1,5 đến 2 lần.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để tình trạng bồi lấp cửa biển Đề Gi, bảo vệ luồng tàu và thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu, hệ thống 4 nhóm giải pháp trọng tâm được đề xuất như sau:

  • Kéo dài và điều chỉnh hướng tuyến kè chắn sóng: Nâng cấp, kéo dài tuyến kè chắn cát bờ Nam hiện hữu thêm 150 m đến 200 m vươn ra ngoài đường đẳng sâu -4,0 m, kết hợp xây dựng bổ sung đê mỏ hàn phụ ở phía Bắc nhằm hướng dòng chảy lũ thoát nhanh ra biển. Target metric: Chặn đứng trên 85% lượng bùn cát dọc bờ xâm nhập vào lòng luồng. Timeline: Triển khai trong giai đoạn 2023 - 2025. Chủ thể thực hiện: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp cùng Sở Giao thông Vận tải tỉnh Bình Định.
  • Thực hiện nạo vét duy tu luồng định kỳ kết hợp nuôi bãi: Tổ chức nạo vét thông luồng định kỳ hàng năm với khối lượng trung bình từ 15.000 m3 đến 25.000 m3 cát tại bãi cạn trước mùa mưa bão (tháng 8 - 9). Toàn bộ lượng cát nạo vét đạt chuẩn được sử dụng để nuôi bãi nhân tạo chống xói lở cho bờ biển phía Bắc mũi Vĩnh Lợi. Target metric: Duy trì độ sâu luồng chạy tàu ổn định tối thiểu -3,5 m cho tàu cá công suất trên 90 CV lưu thông an toàn 24/24h. Timeline: Thực hiện thường niên. Chủ thể thực hiện: Ban Quản lý Cảng cá Đề Gi và UBND huyện Phù Cát.
  • Thiết lập mạng lưới quan trắc thủy thạch động lực tự động: Lắp đặt 2 trạm quan trắc tự động đo sóng, mực nước và độ đục của dòng chảy tại cửa biển Đề Gi, tích hợp công nghệ viễn thám radar bờ để theo dõi biến động đường bờ và bãi cạn theo thời gian thực. Target metric: Cung cấp dữ liệu cảnh báo bồi lấp sớm với độ chính xác đạt trên 90%. Timeline: Hoàn thành lắp đặt trong giai đoạn 2024 - 2026. Chủ thể thực hiện: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bình Định.
  • Quy hoạch dải rừng phòng hộ và quản lý không gian đầm Nước Ngọt: Trồng mới và phục hồi khoảng 50 ha đến 80 ha rừng ngập mặn ven đầm và rừng phi lao phòng hộ trên các cồn cát di động tại xã Mỹ Thành và Cát Khánh nhằm cố định bãi cát gió, hạn chế cát bay lấp lòng đầm. Target metric: Tăng độ che phủ bề mặt cát ven bờ lên 70%. Timeline: Giai đoạn 2023 - 2027. Chủ thể thực hiện: Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Định phối hợp với cộng đồng ngư dân địa phương.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn sâu sắc, phù hợp cho 4 nhóm đối tượng trọng điểm:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách ven biển: Cán bộ chuyên trách tại Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Xây dựng và UBND tỉnh Bình Định. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học chuẩn xác phục vụ lập quy hoạch không gian đới bờ, xây dựng phương án phòng chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu cấp địa phương.
  • Đơn vị tư vấn, thiết kế và thi công công trình thủy công: Các kỹ sư công trình biển, chuyên gia tại các viện nghiên cứu thủy lợi và tổng công ty tư vấn thiết kế giao thông thủy (TEDI). Nhóm đối tượng này có thể khai thác các thông số tính toán trường sóng đổ, dòng ven bờ và phân bố chất đáy để tối ưu hóa thiết kế mặt cắt kè mỏ hàn và đê chắn sóng.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Khoa học Trái đất: Các nhà nghiên cứu thuộc chuyên ngành Địa chất học, Địa chất công trình, Hải dương học và Quản lý tài nguyên môi trường. Tài liệu là hình mẫu tham khảo toàn diện về phương pháp luận tiếp cận hệ thống, xử lý ảnh viễn thám đa thời kỳ và ứng dụng mô hình toán cán cân bồi tích ven bờ.
  • Ban quản lý cảng cá và hiệp hội ngư dân địa phương: Ban quản lý cảng cá Đề Gi, Tam Quan cùng cộng đồng ngư dân đánh bắt xa bờ. Nắm bắt quy luật biến động độ sâu luồng lạch theo mùa giúp đơn vị chủ động điều tiết lịch trình tàu thuyền cập cảng an toàn, giảm thiểu tối đa tai nạn đắm tàu do mắc cạn.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chủ yếu gây bồi lấp luồng tàu tại cửa biển Đề Gi là gì?
Nguyên nhân cốt lõi là do năng lượng sóng biển hướng Đông và Đông Nam cực mạnh (với sóng lừng ven bờ cao trung bình từ 2,2 m đến 2,3 m) tạo ra dòng vận chuyển cát dọc bờ liên tục suốt 8 tháng mùa khô. Lượng bùn cát thạch anh mịn và trung này vượt trội hoàn toàn so với khả năng xói rửa của dòng chảy sông La Tinh, làm bồi tụ bãi cạn chắn cửa chỉ còn sâu từ 2,2 m đến 2,5 m.

Tại sao tuyến kè chắn sóng dài 400 m hiện hữu chưa giải quyết dứt điểm tình trạng sa bồi?
Tuyến kè chắn sóng hiện hữu chưa đủ chiều dài để vươn ra ngoài đới sóng đổ (vùng nước sâu trên -4,0 m). Do đó, hiện tượng nhiễu xạ sóng ở mũi kè đã cuốn luồng bùn cát đi vòng qua đầu kè, hình thành các doi cát ngầm mới ngay phía trong lòng cửa biển và xung quanh chân kè, gây cản trở trực tiếp cho hơn 1.000 tàu cá ra vào.

Biến đổi khí hậu và nước biển dâng tác động như thế nào đến khu vực cửa Đề Gi?
Dưới tác động của biến đổi khí hậu, mực nước biển dâng dự báo từ 50 cm đến 75 cm kết hợp nước dâng do bão cực đại 1,7 m làm suy yếu độ ổn định của đất đá cấu tạo bờ. Hiện tượng này làm gia tăng tốc độ xói lở dải cồn cát từ 10% đến 30%, đồng thời đẩy nhanh quá trình bồi lấp lòng dẫn vào mùa khô do sóng bão mang theo khối lượng trầm tích đáy lớn hơn.

Phương pháp mô hình toán nào được áp dụng để tính toán cán cân bồi tích trong luận văn?
Luận văn kết hợp mô hình tổng quát cân bằng bùn cát của Đỗ Minh Đức (2004) dựa trên hai biến trạng thái bùn cát đến và đi, mô hình tính toán dòng bùn cát dọc bờ của CERC (2002), kết hợp các mô hình phân tích diễn biến đường bờ dưới ảnh hưởng của nước biển dâng và bão biển của Bruun (1962), Dean và Maurmeyer (1983), Kriebel và Dean (1993).

Giải pháp công trình nào được đánh giá là cấp thiết và hiệu quả nhất cho cửa Đề Gi?
Giải pháp cấp thiết nhất là kéo dài tuyến đê chắn sóng phía Nam thêm 150 m đến 200 m ra độ sâu -4,0 m để chặn đứng dòng bùn cát dọc bờ, kết hợp nạo vét định kỳ từ 15.000 m3 đến 25.000 m3 cát tại bãi cạn trước mùa bão. Biện pháp này nhanh chóng khôi phục độ sâu luồng chạy tàu đạt mức chuẩn an toàn -3,5 m.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện hiện trạng bồi lấp cửa Đề Gi, nơi luồng tàu bị thu hẹp còn 110 m và độ sâu bãi cạn chỉ đạt từ 2,2 m đến 2,5 m gây cản trở hơn 1.000 tàu cá.
  • Xác định trường động lực sóng lừng (chiều cao trung bình 2,2 m đến 2,3 m) và dòng bùn cát dọc bờ mang 91% cát thạch anh là nguyên nhân chính gây bồi lấp cửa biển.
  • Đánh giá chính xác hạn chế kỹ thuật của tuyến kè chắn sóng 400 m hiện hữu, làm sáng tỏ cơ chế nhiễu xạ sóng cuốn cát vòng qua đầu kè tạo bãi ngầm.
  • Xây dựng mô hình định lượng cán cân bồi tích và dự báo biến động đường bờ chịu tác động của nước biển dâng từ 50 cm đến 75 cm và triều bão 1,7 m.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp tổng thể gồm kéo dài kè chắn sóng thêm 150 m đến 200 m, nạo vét định kỳ 15.000 m3 đến 25.000 m3/năm, quan trắc tự động và trồng 50 ha đến 80 ha rừng phòng hộ.

Công trình đóng góp luận cứ khoa học vững chắc và phương pháp luận tiếp cận hệ thống chuẩn xác cho bài toán chỉnh trị cửa sông miền Trung. Lộ trình triển khai các giải pháp kiến nghị được hoạch định cụ thể từ năm 2023 đến năm 2027 nhằm giải quyết triệt để tai biến sa bồi. Quý độc giả, các cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác chi tiết bộ cơ sở dữ liệu thủy thạch động lực học và các bản đồ biến động đường bờ trong toàn văn luận văn thạc sĩ khoa học của tác giả Nguyễn Hải Hà.