mở đầu cho các công trình nghiên cứu khoa học về nhóm động vật này ở nước ta vào thế kỷ 19. Những nghiên cứu về Bò sát, Ếch nhái tiếp theo ở Bắc Bộ có J. Anderson (1878), ở Nam Bộ có J. Tuy nhiên các nghiên cứu ở thời kỳ này được các tác giả nước ngoài tiến hành chủ yếu điều tra khu hệ Bò sát, Ếch nhái, xây dựng danh lục Bò sát, Ếch nhái các vùng: Tirant (1985), Boulenger (1903), Smith (1921, 1923, 1924).
Trong đó đáng chú ý là các công trình của Bourret R. và các cộng sự trong khoảng thời gian từ 1924 đến 1944 đã thống kê, mô tả được 177 loài và loài phụ Thằn lằn, 245 loài và loài phụ Rắn, 44 loài và loài phụ Rùa trên toàn Đông Dương, trong đó có nhiều loài của miền Bắc Việt Nam (Bourret R. Đáng chú ý là những công trình nghiên cứu của Bourret R có nói nhiều đến Bò sát, Ếch nhái Bắc Trung Bộ. Ông công bố 7 và bổ sung nhiều loài cho danh lục Bò sát, Ếch nhái (Bourret R.
Từ năm 1954 Đào Văn Tiến (1960) nghiên cứu khu hệ động vật có xương sống ở Vĩnh Linh đã thống kê được nhóm Bò sát, Ếch nhái có 12 loài. Năm 1977, nghiên cứu xây dựng các đặc điểm định loại, khoá định loại Ếch nhái Việt Nam và công bố 87 loài Ếch nhái thuộc 3 bộ 12 họ. Năm 1979, nghiên cứu xây dựng khoá định loại thằn lằn Việt Nam và thống kê 77 loài thằn lằn trong đó có 6 loài lần đầu tiên phát hiện ở Việt Nam. Giai đoạn 1981-1982, nghiên cứu các đặc điểm phân loại, xây dựng khoá định loại và đã xác định ở Việt Nam có 167 loài rắn thuộc 9 họ 69 giống [18].
Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1981) nghiên cứu Bò sát, Ếch nhái từ năm 1956 - 1975 trên toàn Miền Bắc thống kê được 159 loài bò sát thuộc 2 bộ, 19 họ và 69 loài Ếch nhái thuộc 3 bộ, 9 họ, (1985) báo cáo danh lục khu hệ Bò sát, Ếch nhái Việt Nam gồm 160 loài Bò sát và 90 loài Ếch nhái. Các tác giả còn phân tích sự phân bố địa lý, theo sinh cảnh và ý nghĩa kinh tế của các loài [9]. Hoàng Xuân Quang (1993) điều tra thống kê danh lục Bò sát, Ếch nhái ở các tỉnh Bắc Trung Bộ gồm 94 loài Bò sát xếp trong 59 giống 17 họ và 34 loài Ếch nhái của 14 giống 7 họ. Tác giả đã bổ sung cho danh lục Bò sát, Ếch nhái Bắc Trung Bộ 23 loài, phát hiện bổ sung cho vùng phân bố 9 loài.
Bên cạnh đó tác giả còn phân tích sự phân bố các loài theo sinh cảnh và quan hệ với các khu phân bố Bò sát, Ếch nhái trong nước. Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1996) công bố danh lục Bò sát, Ếch nhái Việt Nam gồm 256 loài bò sát và 82 loài Ếch nhái [13]. 8 Lê Nguyên Ngật, Nguyễn Văn Sáng (1996) nghiên cứu ở Vườn quốc gia Cúc Phương có 17 loài Ếch nhái thuộc 5 họ, 1 bộ và 42 loài Bò sát thuộc 12 họ 2 bộ [11]. Đánh giá của Trung tâm giám sát bảo tồn thế giới (WCMC) (1992, 2003), và Danh lục đỏ IUCN (2012).
Việt Nam có đến 317 loài Bò sát, 167 loài Lưỡng cư, cũng trong tình trạng chung của toàn cầu là ĐDSH đã và đang bị đe dọa và có chiều hướng suy giảm mạnh [22]. Từ năm 2004 đến năm 2006 ở tỉnh Đồng Tháp có có công trình nghiên cứu của Ngô Đắc Chứng và Hoàng Thị Nghiệp. Năm 2007, viện khoa học công nghệ đã phối hợp với các cơ quan hữu quan xuất bản tập “Phân bộ Rắn” trong tập “Động vật chí Việt Nam”. Nhìn chung công tác nghiên cứu Bò sát - Ếch nhái từ năm 1954 đến nay ngày càng được quan tâm.
Trong những năm gần đây từ nghiên cứu khu hệ chuyển sang nghiên cứu sinh thái, sinh học một số loài có giá trị làm thực phẩm, làm dược liệu… cho con người (Lê Vũ Khôi, Động vật học có xương sống 2007, NXB Giáo Dục) đã chỉ ra rằng Bò sát - Ếch nhái có ý nghĩa quan trọng trong quần xã sinh vật, chúng bắt sâu bọ hại mùa màng, phá hại cây cối… bên cạnh đó chúng là nguồn thức ăn cho nhiều loài sinh vật khác như chim thú, Bò sát lớn… Công tác nghiên cứu về Bò sát, Ếch nhái của nước ta đang tiếp tục trên nhiều lĩnh vực như nghiên cứu đa dạng về thành phần loài, hình thái phân loại, phân bố địa lý và sinh thái học Ếch nhái bò sát. Phân bố các loài Bò sát, Ếch nhái ở Việt Nam Ở nước ta, Bò sát - Ếch nhái phân bố khắp các tỉnh từ Bắc vào Nam và ở các tỉnh miền núi sự đa dạng cao hơn các tỉnh ở đồng bằng. Do địa hình chiến 3/4 là đồi núi, diện tích bị chia cắt bởi các dãy núi lớn (dãy Trường Sơn, dãy Hoàng Liên Sơn); các con sông (sông Hồng, sông Mã, sông Cửu Long) đã tạo ra nhiều loài đặc hữu như (Cá Cóc Tam Đảo, Cóc Mày Phê. Ngoài 9 ra sự phân bố của các loài còn phải phụ thuộc cấu tạo của loài.
Những loài sống trên mặt đất thường có chi dài, đuôi nhỏ, chạy nhanh, leo trèo tốt (họ thằn lằn); những loài sống trong hang hốc, bụi rậm thì chi nhỏ hoặc không có, thân dài, chúng thường uốn mình để vận động (rắn, trăn); trong khi đó những loài sống trên cây thì chân có giác bám và những loài sống dưới nước thì chân có màng bơi [6, 16]. Điển hình cho môi trường sống khác nhau của 1 số họ như: Sống trong môi trường nước biển có họ Vích, Sống nước lợ có họ cá sấu hoa cải, sống trong môi trường nước ngọt với họ ba ba, sống trên cạn có họ thằn lằn bóng, sống trên cây có họ rắn lục, sống cả trên cạn cả dưới nước có họ rắn nước. Lƣợc sử nghiên cứu khu hệ Bò sát, Ếch nhái tại KBT Nam Động Tại Khu bảo tồn các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động, huyện Quan Hóa, cho đến nay mới chỉ có duy nhất một chương trình điều tra về Khu hệ động thực vật được thực hiện bởi Ngô Xuân Nam và cộng sự, 2013. Báo cáo kết quả của chương trình điều tra đã ghi nhận được 23 loài thú thuộc 11 họ, 5 bộ.
Trong đó có nhiều loài động vật quý hiếm như Khỉ vàng (Macaca mulatta), Gấu ngựa (Ursus thibetanus), Sơn dương (Capricornis milneedwardsii),… [10]. Tuy nhiên chưa có một cuộc điều tra nào về khu hệ bò sát, ếch nhái cũng như sự phân bố của loài được thực hiện. Vì vậy các thông tin về thành phần loài, phân bố cũng như các mối đe dọa đến loài chưa có. Do đó, nghiên cứu này s bổ sung và xây dựng cơ sở dữ liệu và đề xuất các giải pháp bảo tồn khu hệ bò sát, ếch nhái nói riêng và đa dạng sinh học tại Khu bảo tồn nói chung.
10 Chƣơng 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Mục tiêu nghiên cứu 2. Mục tiêu tổng quát Xác định được thành phần loài và các yếu tố tác động tới khu hệ Bò sát, ếch nhái làm cơ sở khoa học phục vụ công tác bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên này ở khu bảo tồn Nam Động. Mục tiêu cụ thể - Xác định được thành phần loài Bò sát, ếch nhái tại KBT Nam Động.
- Xác định được các loài bò sát, ếch nhái nguy cấp quý hiếm. - Xác định được phân bố của bò sát, ếch nhái tại khu vực nghiên cứu. - Xác định được các mối đe dọa đến khu hệ Bò sát ,ếch nhái tại KBT - Đề xuất được một số giải pháp quản lý và bảo tồn, phát triển khu hệ Bò sát - Ếch nhái tại khu vực nghiên cứu. Nội dung nghiên cứu - Nghiên cứu thành phần loài Bò sát, ếch nhái ở khu bảo tồn Nam Động - Nghiên cứu đặc điểm phân bố của các loài Bò sát, ếch nhái tại khu vực nghiên cứu.
- Nghiên cứu các yếu tố đe dọa đến khu hệ Bò sát, ếch nhái tại khu vực nghiên cứu. - Đề xuất các giải pháp quản lý và bảo tồn, phát triển khu hệ Bò sát, ếch nhái tại khu vực nghiên cứu. Đối tƣợng nghiên cứu Khu hệ Bò sát, ếch nhái hiện có trong khu bảo tồn các loài hạt trần quý hiếm Nam Động, tỉnh Thanh Hóa. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu đặc điểm khu hệ Bò sát, ếch nhái tại Khu bảo tồn các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động, tỉnh Thanh Hóa.
- Phạm vi về không gian: Đề tài được nghiên cứu tại Khu bảo tồn các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động, Thanh Hóa, vị trí địa lý: 20o16'30'' đến 20o39'30'' vĩ độ Bắc và 104o44' 00'' đến 105o11'30'' kinh độ Đông. Với diện tích 646,95 ha. - Phạm vi về thời gian: Thời gian nghiên cứu của đề tài từ tháng 5 năm 2016 đến tháng 5 năm 2017. Phƣơng pháp nghiên cứu 2.
Công tác chuẩn bị - Tham khảo tài liệu có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu. - Chuẩn bị dụng cụ cần thiết cho công việc nghiên cứu, bao gồm: Dụng cụ đựng mẫu (lọ và túi vải); cồn 700; đèn pin,… - Quan sát và nhận biết những mẫu vật đang lưu trữ tại phòng tiêu bản của trường. - Sơ bộ nghiên cứu khu vực điều tra thông qua bản đồ địa hình khu vực. Phƣơng pháp phỏng vấn Đối tượng phỏng vấn là những người có kinh nghiệm đi rừng, thợ săn và cán bộ KBT Nam Động, có hiểu biết tốt về các loài Bò sát, ếch nhái lựa chọn phỏng vấn để xác định sơ bộ về sự có mặt của các loài cũng như những vùng phân bố quan trọng, sinh cảnh ưa thích của chúng trong KBT.
Tổng số 40 phiếu phỏng vấn đã được phát cho người dân bản Bâu, bản Lở và cán bộ 12 Kiểm lâm trạm bản Bâu (xã Nam Động) để xác định loài cụ thể. Hình ảnh chuẩn về hình thái bên ngoài của các loài cũng s được đưa cho các đối tượng phỏng vấn xem và nhận diện sau khi họ cung cấp thông tin. Các thông tin thu thập được từ phỏng vấn là cơ sở cho quá trình thiết kế tuyến điều tra thực địa. Kết quả phỏng vấn người dân và cán bộ KBT được ghi vào bảng 1; bộ câu hỏi phỏng vấn được trình bày tại phụ lục 1.
Biểu phỏng vấn ngƣời dân Tên người được phỏng vấn ……………….Tuổi……………… Dân tộc ………………… Ngày điều tra……………………………………. Tên phổ Tên địa Số Sinh Địa điểm Giá Trị Ghi STT thông phƣơng lƣợng cảnh bắt gặp Sử dụng chú Kết quả điều tra phỏng vấn được xử lý theo phương pháp thống kê, tên các loài được hiệu chỉnh theo các tài liệu về nhận dạng động vật rừng.