Luận văn: Đặc điểm khu hệ bò sát ếch nhái tại KBT Nam Động (Thanh Hóa)

Luận văn nghiên cứu đặc điểm khu hệ bò sát ếch nhái tại Khu bảo tồn Nam Động, Thanh Hóa, cung cấp danh lục và đặc điểm phân bố các loài.

Trường đại học

Trường Đại học Lâm nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2017

92
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Phân loại Bò sát, Ếch nhái ở Việt Nam

1.2. Lược sử nghiên cứu Bò sát, Ếch nhái ở Việt Nam

1.2.1. Trước năm 1954

1.2.2. Từ năm 1954

1.3. Phân bố các loài Bò sát, Ếch nhái ở Việt Nam

1.4. Lược sử nghiên cứu khu hệ Bò sát, Ếch nhái tại KBT Nam Động

2. CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1. Mục tiêu tổng quát

2.1.2. Mục tiêu cụ thể

2.2. Nội dung nghiên cứu

2.3. Đối tượng nghiên cứu

2.4. Phạm vi nghiên cứu

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.5.1. Công tác chuẩn bị

2.5.2. Phương pháp phỏng vấn

2.5.3. Phương pháp điều tra theo tuyến

2.5.4. Phương pháp xác định và đánh giá các mối đe dọa

2.5.5. Phương pháp thu và xử lý mẫu Bò sát, ếch nhái

2.5.6. Phương pháp xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1. Điều kiện tự nhiên

3.1.1. Vị trí địa lý

3.1.2. Đặc điểm địa hình

3.1.3. Địa chất thổ nhưỡng

3.1.4. Khí hậu thủy văn

3.1.5. Tài nguyên động thực vật

3.2. Đánh giá hiện trạng về kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh

3.2.1. Dân số, dân tộc

3.2.2. Hoạt động sản xuất

3.3. Đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Thành phần loài Bò sát, ếch nhái tại KBT Nam Động

4.2. Các loài bò sát, ếch nhái nguy cấp, quý hiếm tại KBT Nam Động

4.3. Phân bố của các loài Bò sát, Ếch nhái tại khu bảo tồn Nam Động

4.3.1. Phân bố của các loài bò sát, ếch nhái theo sinh cảnh

4.3.2. Phân bố Bò sát, ếch nhái theo đai cao

4.4. Các mối đe dọa đến Khu hệ Bò sát, ếch nhái

4.5. Đánh giá các mối đe dọa

4.6. Đề xuất một số giải pháp bảo tồn

4.6.1. Bảo vệ loài và sinh cảnh sống

4.6.2. Nâng cao nhận thức cho cộng đồng

4.6.3. Giải pháp về kinh tế - xã hội

4.6.4. Giải pháp về cơ chế, chính sách và thu hút nguồn vốn đầu tư

4.6.5. Tăng cường công tác thực thi pháp luật

4.6.6. Tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Hé lộ kho báu bò sát ếch nhái tại KBT Nam Động Thanh Hóa

Khu bảo tồn (KBT) các loài hạt trần quý hiếm Nam Động, Thanh Hóa, là một trong những hệ sinh thái núi đá vôi điển hình và quan trọng bậc nhất miền Bắc Việt Nam. Nơi đây không chỉ là thành trì của các loài thực vật quý hiếm mà còn là ngôi nhà chung của một hệ động vật phong phú. Tuy nhiên, các dữ liệu khoa học về khu hệ bò sát, ếch nhái (herpetofauna) tại đây vẫn còn là một ẩn số lớn. Trước nghiên cứu của Trần Ngọc Thông (2017), chỉ có các khảo sát chung về động vật có vú, để lại một khoảng trống kiến thức quan trọng về nhóm lưỡng cư và bò sát. Việc thực hiện một nghiên cứu bò sát, ếch nhái KBT Nam Động, Thanh Hóa chuyên sâu là nhiệm vụ cấp thiết. Nghiên cứu này không chỉ nhằm mục tiêu xác định thành phần loài mà còn đánh giá giá trị bảo tồn và các mối đe dọa trực tiếp. Kết quả từ cuộc khảo sát thực địa này cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học nền tảng, giúp các nhà quản lý xây dựng chiến lược công tác bảo tồn hiệu quả. Việc hiểu rõ sự phân bố, đặc điểm sinh thái của các loài bò sát, ếch nhái tại khu bảo tồn thiên nhiên này là chìa khóa để bảo vệ đa dạng sinh học toàn vẹn của vùng Trường Sơn Bắc, một khu vực có giá trị toàn cầu. Các phát hiện mới về các loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam và danh lục IUCN càng nhấn mạnh tầm quan trọng của KBT Nam Động trong mạng lưới bảo tồn herpetofauna Việt Nam.

1.1. Giá trị đa dạng sinh học độc đáo của Khu bảo tồn Nam Động

Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Động có diện tích vùng lõi 646,95 ha, là đại diện tiêu biểu cho hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi của miền Bắc. Theo đánh giá của các nhà khoa học, đây là khu vực ưu tiên cho việc bảo tồn đa dạng sinh học trên núi đá vôi, nơi cư trú của nhiều loài động, thực vật quý hiếm và loài đặc hữu. Trước đây, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào hệ thực vật và các loài thú lớn. Một điều tra của Ngô Xuân Nam và cộng sự (2013) ghi nhận 23 loài thú, trong đó có nhiều loài quý hiếm như Voọc xám, Gấu ngựa, Sơn dương. Tuy nhiên, nhóm động vật bò sát và lưỡng cư, vốn có vai trò quan trọng trong chuỗi thức ăn và là chỉ thị sinh học cho sức khỏe của hệ sinh thái, lại chưa được quan tâm đúng mức. Sự độc đáo của địa hình núi đá vôi tạo ra nhiều môi trường sống vi khí hậu khác nhau, hứa hẹn một khu hệ herpetofauna Việt Nam phong phú và tiềm ẩn nhiều khám phá mới.

1.2. Khoảng trống nghiên cứu về herpetofauna Việt Nam tại khu vực

Cho đến trước năm 2017, không có một công bố khoa học chính thức nào về thành phần loài bò sát và ếch nhái tại KBT Nam Động. Các tài liệu về herpetofauna Việt Nam thường đề cập đến các vườn quốc gia lớn như Cúc Phương, Phong Nha - Kẻ Bàng, trong khi các khu bảo tồn nhỏ hơn như Nam Động bị bỏ ngỏ. Sự thiếu hụt dữ liệu này gây ra nhiều khó khăn cho công tác bảo tồn. Các nhà quản lý không thể đánh giá chính xác mức độ đa dạng, xác định các loài cần ưu tiên bảo vệ, hay khoanh vùng các sinh cảnh quan trọng. Đề tài “Nghiên cứu đặc điểm khu hệ Bò sát - Ếch nhái tại Khu bảo tồn các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động, tỉnh Thanh Hóa” ra đời chính để lấp đầy khoảng trống này, cung cấp những dẫn liệu khoa học đầu tiên và toàn diện về nhóm động vật này, làm tiền đề cho các hoạt động quản lý và bảo tồn bền vững trong tương lai.

II. Phân tích các mối đe dọa đến hệ bò sát ếch nhái KBT Nam Động

Nguồn tài nguyên động vật rừng nói chung và khu hệ bò sát, ếch nhái tại KBT Nam Động nói riêng đang phải đối mặt với sự suy giảm nghiêm trọng. Công tác bảo tồn gặp nhiều thách thức do các hoạt động của con người. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, nguyên nhân chính đến từ việc khai thác rừng bừa bãi làm mất đi môi trường sống tự nhiên của nhiều loài. Cùng với đó, hoạt động săn bắt động vật rừng vẫn diễn ra âm ỉ, tác động trực tiếp đến quần thể các loài có giá trị bảo tồn. Một nghiên cứu bò sát, ếch nhái KBT Nam Động, Thanh Hóa không chỉ dừng lại ở việc kiểm kê thành phần loài, mà còn phải xác định và đánh giá mức độ nghiêm trọng của từng mối đe dọa. Các hoạt động như canh tác nương rẫy, khai thác gỗ, chăn thả gia súc tự do đều góp phần làm suy thoái hệ sinh thái rừng. Việc nhận diện rõ ràng các mối đe dọa này là bước đi đầu tiên và quan trọng nhất để xây dựng các giải pháp can thiệp phù hợp, nhằm bảo vệ đa dạng sinh học và sự tồn tại lâu dài của hệ động vật nơi đây. Nếu không có biện pháp kịp thời, nhiều loài quý hiếm trong Sách Đỏ Việt Nam có nguy cơ biến mất vĩnh viễn khỏi khu vực này.

2.1. Tác động tiêu cực từ hoạt động săn bắt và khai thác rừng

Săn bắt và khai thác tài nguyên rừng là hai mối đe dọa lớn nhất đối với hệ động vật tại KBT Nam Động. Hoạt động săn bắt không chỉ nhắm vào các loài thú lớn mà còn cả bò sát, ếch nhái để làm thực phẩm, dược liệu hoặc vật nuôi. Nhiều loài như Rùa, Trăn, Rắn, Kỳ đà có giá trị kinh tế cao nên bị săn lùng ráo riết. Bên cạnh đó, việc khai thác gỗ trái phép và mở rộng diện tích canh tác nương rẫy đã làm thu hẹp và phân mảnh môi trường sống. Khi hệ sinh thái rừng bị phá vỡ, các loài mất đi nơi trú ẩn, nguồn thức ăn và khu vực sinh sản. Theo phương pháp đánh giá của Margoluis and Salafsky (2001) được áp dụng trong nghiên cứu, săn bắt và canh tác nương rẫy được xếp hạng là những mối đe dọa có cường độ và phạm vi ảnh hưởng lớn nhất, đòi hỏi sự ưu tiên trong công tác bảo tồn.

2.2. Nguy cơ suy giảm hệ động vật và giá trị bảo tồn cấp thiết

Sự suy giảm đa dạng sinh học không chỉ là mất mát về số lượng loài mà còn ảnh hưởng đến sự cân bằng của toàn bộ hệ sinh thái. Tại KBT Nam Động, việc nhiều loài bò sát, ếch nhái bị đe dọa ở cấp quốc gia và toàn cầu (theo Sách Đỏ Việt NamIUCN) cho thấy tính cấp thiết của vấn đề. Ví dụ, loài Rùa hộp trán vàng (Cuora galbinifrons) được xếp hạng Cực kỳ nguy cấp (CR) hay Rùa đầu to (Platysternon megacephalum) ở mức Nguy cấp (EN). Việc mất đi các loài này sẽ là một tổn thất không thể bù đắp cho herpetofauna Việt Nam. Do đó, việc xác định các loài có giá trị bảo tồn cao và các mối đe dọa trực tiếp đến chúng là cực kỳ quan trọng, giúp các nhà hoạch định chính sách và quản lý khu bảo tồn thiên nhiên tập trung nguồn lực vào những hành động hiệu quả nhất để ngăn chặn đà tuyệt chủng.

III. Phương pháp khảo sát bò sát ếch nhái KBT Nam Động hiệu quả

Để có được bức tranh toàn cảnh về khu hệ bò sát và ếch nhái, một phương pháp nghiên cứu khoa học và bài bản là yếu tố then chốt. Đề tài nghiên cứu bò sát, ếch nhái KBT Nam Động, Thanh Hóa đã áp dụng một cách tiếp cận tổng hợp, kết hợp giữa tri thức bản địa và các kỹ thuật khảo sát thực địa hiện đại. Công tác chuẩn bị kỹ lưỡng, từ việc tham khảo tài liệu, chuẩn bị dụng cụ đến nghiên cứu sơ bộ bản đồ, đã đảm bảo cho quá trình điều tra diễn ra suôn sẻ. Phương pháp phỏng vấn được sử dụng để khai thác kinh nghiệm của người dân địa phương và cán bộ kiểm lâm, giúp xác định sơ bộ sự hiện diện và các khu vực phân bố quan trọng của các loài. Đây là nguồn thông tin quý giá định hướng cho việc thiết kế các tuyến điều tra thực địa. Việc kết hợp nhiều phương pháp không chỉ nâng cao độ chính xác của kết quả về thành phần loài mà còn giúp hiểu sâu hơn về mối quan hệ giữa hệ động vậtmôi trường sống tại khu bảo tồn thiên nhiên Nam Động. Cách tiếp cận này đã chứng minh hiệu quả trong việc thu thập dữ liệu toàn diện, phục vụ trực tiếp cho công tác bảo tồn và quản lý tài nguyên đa dạng sinh học.

3.1. Kỹ thuật phỏng vấn cộng đồng và khảo sát thực địa theo tuyến

Nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn 40 đối tượng là người dân địa phương và cán bộ kiểm lâm có kinh nghiệm đi rừng. Thông qua các phiếu phỏng vấn có cấu trúc, các thông tin về tên địa phương, sinh cảnh, địa điểm bắt gặp của các loài bò sát, lưỡng cư đã được thu thập. Kết quả phỏng vấn là cơ sở để thiết kế 5 tuyến điều tra thực địa với tổng chiều dài khác nhau (từ 2,17 km đến 4,92 km). Các tuyến này được bố trí đi qua các dạng sinh cảnh và đai cao đa dạng trong KBT, từ rừng trồng, trảng cỏ đến hệ sinh thái rừng giàu ít bị tác động và các khe suối. Việc khảo sát thực địa được thực hiện cả ngày lẫn đêm để tối đa hóa khả năng phát hiện các loài có tập tính hoạt động khác nhau. Mọi quan sát đều được ghi chép cẩn thận vào phiếu điều tra chuẩn, bao gồm tọa độ GPS, thời gian, số lượng và đặc điểm sinh cảnh.

3.2. Quy trình thu thập xử lý và định loại mẫu vật khoa học

Đối với những loài khó nhận dạng tại thực địa, việc thu mẫu được tiến hành để phục vụ công tác định loại chính xác. Các phương pháp thu mẫu như bắt bằng tay hoặc dùng vợt được áp dụng tùy theo loài và địa hình. Quy trình xử lý mẫu vật tuân thủ nghiêm ngặt các bước khoa học: gây mê, tiêm cồn định hình, cố định mẫu ở tư thế tự nhiên và bảo quản trong cồn 70 độ. Mỗi mẫu vật đều được gắn phiếu ghi đầy đủ thông tin. Việc định loại được dựa trên các tài liệu chuyên ngành uy tín như khóa định loại của Đào Văn Tiến và danh lục của Nguyễn Văn Sáng và cộng sự. Quá trình này đảm bảo tính chính xác và khoa học cho danh lục thành phần loài, tạo ra một bộ dữ liệu đáng tin cậy cho các nghiên cứu sâu hơn về herpetofauna Việt Namcông tác bảo tồn tại KBT Nam Động.

IV. Kết quả nghiên cứu thành phần loài bò sát ếch nhái Nam Động

Kết quả từ các đợt khảo sát thực địa và phân tích mẫu vật đã mang lại những phát hiện đột phá, lần đầu tiên xây dựng được một danh lục khoa học về khu hệ bò sát, ếch nhái tại đây. Cuộc nghiên cứu bò sát, ếch nhái KBT Nam Động, Thanh Hóa đã ghi nhận tổng cộng 56 loài, một con số ấn tượng đối với một khu bảo tồn có diện tích không quá lớn. Trong đó, lớp Bò sát có 30 loài và lớp Lưỡng cư có 26 loài. Những phát hiện này không chỉ bổ sung dữ liệu quan trọng cho đa dạng sinh học của tỉnh Thanh Hóa mà còn đóng góp vào cơ sở dữ liệu chung về herpetofauna Việt Nam. So với các khu bảo tồn thiên nhiên lân cận, KBT Nam Động cho thấy sự đa dạng cao về cấp họ, phản ánh sự phong phú của các loại hình môi trường sống. Kết quả này khẳng định giá trị bảo tồn to lớn của KBT Nam Động và nhấn mạnh sự cần thiết phải tiếp tục đầu tư cho nghiên cứu và công tác bảo tồn tại khu vực núi đá vôi độc đáo này. Đây là bằng chứng khoa học vững chắc cho thấy tiềm năng khám phá các loài mới hoặc các ghi nhận phân bố mới trong tương lai.

4.1. Danh lục 56 loài bò sát và lưỡng cư được ghi nhận lần đầu

Nghiên cứu đã xác định được 56 loài bò sát và ếch nhái thuộc 22 họ và 4 bộ. Toàn bộ 56 loài này đều là những ghi nhận mới cho KBT Nam Động. Cụ thể, lớp Bò sát bao gồm 30 loài thuộc 14 họ và 2 bộ, với các họ đa dạng nhất là Rắn nước (Colubridae) và Nhông (Agamidae). Lớp Lưỡng cư có 26 loài thuộc 8 họ và 2 bộ, trong đó họ Ếch nhái (Ranidae) có số lượng loài đông đảo nhất (9 loài). Một số loài tiêu biểu được ghi nhận bao gồm Rồng đất (Physignathus cocincinus), Rùa sa nhân (Cuora mouhotii), và Ếch gáy dô (Limnonectes dabanus). Danh lục này cung cấp một cái nhìn tổng thể và chi tiết về thành phần loài, là tài liệu tham khảo cốt lõi cho mọi hoạt động quản lý và bảo tồn tại khu bảo tồn thiên nhiên Nam Động.

4.2. So sánh tính đa dạng herpetofauna với các khu vực lân cận

Khi so sánh với các khu vực khác trong tỉnh Thanh Hóa, KBT Nam Động thể hiện một bức tranh đa dạng độc đáo. Về số lượng họ, Nam Động (22 họ) có tính đa dạng cao hơn KBT Pù Hu (18 họ) và tương đương với VQG Bến En và KBT Pù Luông (21 họ). Tuy nhiên, về tổng số loài, Nam Động (56 loài) hiện ghi nhận thấp hơn so với Pù Luông (66 loài), Pù Hu (73 loài) và Bến En (113 loài). Sự khác biệt này có thể do diện tích nghiên cứu nhỏ hơn và thời gian khảo sát hạn chế. Mặc dù vậy, sự đa dạng về cấp họ cho thấy hệ sinh thái rừng tại Nam Động có nhiều ngách sinh thái khác nhau, tạo điều kiện cho nhiều nhóm loài cùng tồn tại. Điều này củng cố luận điểm rằng KBT Nam Động là một điểm nóng về đa dạng sinh học cần được bảo vệ nghiêm ngặt.

V. Nhận diện các loài bò sát ếch nhái quý hiếm ở KBT Nam Động

Một trong những kết quả quan trọng nhất của cuộc nghiên cứu bò sát, ếch nhái KBT Nam Động, Thanh Hóa là việc xác định được một danh sách dài các loài có giá trị bảo tồn cao. Những loài này không chỉ quý hiếm ở cấp quốc gia mà còn bị đe dọa trên phạm vi toàn cầu. Việc phát hiện sự hiện diện của chúng tại KBT Nam Động đã nâng cao đáng kể tầm quan trọng của khu vực này trong mạng lưới các khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam. Tổng cộng có 17 loài được xác định là bị đe dọa, chiếm tới hơn 30% tổng số loài ghi nhận được. Điều này cho thấy KBT Nam Động là một nơi trú ẩn quan trọng cho các quần thể bò sát và lưỡng cư đang bị suy giảm. Phân tích sự phân bố của các loài này theo sinh cảnh và đai cao cung cấp thông tin thiết yếu cho công tác bảo tồn. Các nhà quản lý có thể dựa vào đó để xác định các "vùng lõi" cần được bảo vệ nghiêm ngặt nhất, nơi tập trung nhiều loài nguy cấp, quý, hiếm, đảm bảo sự sống còn của những báu vật thuộc hệ động vật Việt Nam.

5.1. Thống kê các loài trong Sách Đỏ Việt Nam và danh lục IUCN

Trong số 56 loài được ghi nhận, có tới 17 loài nằm trong các danh mục bảo vệ. Cụ thể, Danh lục Đỏ IUCN (2016) ghi nhận 13 loài, với 1 loài Cực kỳ nguy cấp (CR) là Rùa hộp trán vàng (Cuora galbinifrons), 4 loài Nguy cấp (EN) như Rùa đầu to, Rắn ráo thường, Ba ba gai, và 2 loài Sẽ nguy cấp (VU). Sách Đỏ Việt Nam (2007) cũng liệt kê nhiều loài trong số này. Ngoài ra, Rùa đầu to được đưa vào Nghị định 160/2013/NĐ-CP là loài được ưu tiên bảo vệ. Có 7 loài nằm trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP và 8 loài nằm trong các phụ lục của Công ước CITES. Những con số này là minh chứng rõ ràng cho giá trị bảo tồn đặc biệt của hệ động vật tại KBT Nam Động.

5.2. Đặc điểm phân bố theo sinh cảnh và môi trường sống đặc thù

Nghiên cứu cho thấy sự phân bố của bò sát và ếch nhái không đồng đều. Các loài có xu hướng tập trung tại những khu vực rừng còn tốt, độ ẩm cao và ít bị tác động. Sinh cảnh rừng giàu ít bị tác động (SC5) và sinh cảnh khe suối, thủy vực (SC3) là hai nơi ghi nhận số lượng loài cao nhất. Các loài quý hiếm như Rùa đầu to, Rùa sa nhân thường được tìm thấy trong các khu rừng nguyên sinh, gần nguồn nước. Ngược lại, các khu vực nương rẫy, làng bản (SC4) có số loài ít nhất và chủ yếu là các loài phổ biến, có khả năng thích nghi cao. Về phân bố theo đai cao, sự đa dạng loài cao nhất được ghi nhận ở độ cao dưới 700m. Việc xác định các môi trường sống ưu thích này giúp khoanh vùng và ưu tiên các hoạt động tuần tra, bảo vệ tại những địa điểm trọng yếu.

05/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho các công trình nghiên cứu khoa học về nhóm động vật này ở nước ta vào thế kỷ 19. Những nghiên cứu về Bò sát, Ếch nhái tiếp theo ở Bắc Bộ có J. Anderson (1878), ở Nam Bộ có J. Tuy nhiên các nghiên cứu ở thời kỳ này được các tác giả nước ngoài tiến hành chủ yếu điều tra khu hệ Bò sát, Ếch nhái, xây dựng danh lục Bò sát, Ếch nhái các vùng: Tirant (1985), Boulenger (1903), Smith (1921, 1923, 1924).

Trong đó đáng chú ý là các công trình của Bourret R. và các cộng sự trong khoảng thời gian từ 1924 đến 1944 đã thống kê, mô tả được 177 loài và loài phụ Thằn lằn, 245 loài và loài phụ Rắn, 44 loài và loài phụ Rùa trên toàn Đông Dương, trong đó có nhiều loài của miền Bắc Việt Nam (Bourret R. Đáng chú ý là những công trình nghiên cứu của Bourret R có nói nhiều đến Bò sát, Ếch nhái Bắc Trung Bộ. Ông công bố 7 và bổ sung nhiều loài cho danh lục Bò sát, Ếch nhái (Bourret R.

Từ năm 1954 Đào Văn Tiến (1960) nghiên cứu khu hệ động vật có xương sống ở Vĩnh Linh đã thống kê được nhóm Bò sát, Ếch nhái có 12 loài. Năm 1977, nghiên cứu xây dựng các đặc điểm định loại, khoá định loại Ếch nhái Việt Nam và công bố 87 loài Ếch nhái thuộc 3 bộ 12 họ. Năm 1979, nghiên cứu xây dựng khoá định loại thằn lằn Việt Nam và thống kê 77 loài thằn lằn trong đó có 6 loài lần đầu tiên phát hiện ở Việt Nam. Giai đoạn 1981-1982, nghiên cứu các đặc điểm phân loại, xây dựng khoá định loại và đã xác định ở Việt Nam có 167 loài rắn thuộc 9 họ 69 giống [18].

Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1981) nghiên cứu Bò sát, Ếch nhái từ năm 1956 - 1975 trên toàn Miền Bắc thống kê được 159 loài bò sát thuộc 2 bộ, 19 họ và 69 loài Ếch nhái thuộc 3 bộ, 9 họ, (1985) báo cáo danh lục khu hệ Bò sát, Ếch nhái Việt Nam gồm 160 loài Bò sát và 90 loài Ếch nhái. Các tác giả còn phân tích sự phân bố địa lý, theo sinh cảnh và ý nghĩa kinh tế của các loài [9]. Hoàng Xuân Quang (1993) điều tra thống kê danh lục Bò sát, Ếch nhái ở các tỉnh Bắc Trung Bộ gồm 94 loài Bò sát xếp trong 59 giống 17 họ và 34 loài Ếch nhái của 14 giống 7 họ. Tác giả đã bổ sung cho danh lục Bò sát, Ếch nhái Bắc Trung Bộ 23 loài, phát hiện bổ sung cho vùng phân bố 9 loài.

Bên cạnh đó tác giả còn phân tích sự phân bố các loài theo sinh cảnh và quan hệ với các khu phân bố Bò sát, Ếch nhái trong nước. Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1996) công bố danh lục Bò sát, Ếch nhái Việt Nam gồm 256 loài bò sát và 82 loài Ếch nhái [13]. 8 Lê Nguyên Ngật, Nguyễn Văn Sáng (1996) nghiên cứu ở Vườn quốc gia Cúc Phương có 17 loài Ếch nhái thuộc 5 họ, 1 bộ và 42 loài Bò sát thuộc 12 họ 2 bộ [11]. Đánh giá của Trung tâm giám sát bảo tồn thế giới (WCMC) (1992, 2003), và Danh lục đỏ IUCN (2012).

Việt Nam có đến 317 loài Bò sát, 167 loài Lưỡng cư, cũng trong tình trạng chung của toàn cầu là ĐDSH đã và đang bị đe dọa và có chiều hướng suy giảm mạnh [22]. Từ năm 2004 đến năm 2006 ở tỉnh Đồng Tháp có có công trình nghiên cứu của Ngô Đắc Chứng và Hoàng Thị Nghiệp. Năm 2007, viện khoa học công nghệ đã phối hợp với các cơ quan hữu quan xuất bản tập “Phân bộ Rắn” trong tập “Động vật chí Việt Nam”. Nhìn chung công tác nghiên cứu Bò sát - Ếch nhái từ năm 1954 đến nay ngày càng được quan tâm.

Trong những năm gần đây từ nghiên cứu khu hệ chuyển sang nghiên cứu sinh thái, sinh học một số loài có giá trị làm thực phẩm, làm dược liệu… cho con người (Lê Vũ Khôi, Động vật học có xương sống 2007, NXB Giáo Dục) đã chỉ ra rằng Bò sát - Ếch nhái có ý nghĩa quan trọng trong quần xã sinh vật, chúng bắt sâu bọ hại mùa màng, phá hại cây cối… bên cạnh đó chúng là nguồn thức ăn cho nhiều loài sinh vật khác như chim thú, Bò sát lớn… Công tác nghiên cứu về Bò sát, Ếch nhái của nước ta đang tiếp tục trên nhiều lĩnh vực như nghiên cứu đa dạng về thành phần loài, hình thái phân loại, phân bố địa lý và sinh thái học Ếch nhái bò sát. Phân bố các loài Bò sát, Ếch nhái ở Việt Nam Ở nước ta, Bò sát - Ếch nhái phân bố khắp các tỉnh từ Bắc vào Nam và ở các tỉnh miền núi sự đa dạng cao hơn các tỉnh ở đồng bằng. Do địa hình chiến 3/4 là đồi núi, diện tích bị chia cắt bởi các dãy núi lớn (dãy Trường Sơn, dãy Hoàng Liên Sơn); các con sông (sông Hồng, sông Mã, sông Cửu Long) đã tạo ra nhiều loài đặc hữu như (Cá Cóc Tam Đảo, Cóc Mày Phê. Ngoài 9 ra sự phân bố của các loài còn phải phụ thuộc cấu tạo của loài.

Những loài sống trên mặt đất thường có chi dài, đuôi nhỏ, chạy nhanh, leo trèo tốt (họ thằn lằn); những loài sống trong hang hốc, bụi rậm thì chi nhỏ hoặc không có, thân dài, chúng thường uốn mình để vận động (rắn, trăn); trong khi đó những loài sống trên cây thì chân có giác bám và những loài sống dưới nước thì chân có màng bơi [6, 16]. Điển hình cho môi trường sống khác nhau của 1 số họ như: Sống trong môi trường nước biển có họ Vích, Sống nước lợ có họ cá sấu hoa cải, sống trong môi trường nước ngọt với họ ba ba, sống trên cạn có họ thằn lằn bóng, sống trên cây có họ rắn lục, sống cả trên cạn cả dưới nước có họ rắn nước. Lƣợc sử nghiên cứu khu hệ Bò sát, Ếch nhái tại KBT Nam Động Tại Khu bảo tồn các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động, huyện Quan Hóa, cho đến nay mới chỉ có duy nhất một chương trình điều tra về Khu hệ động thực vật được thực hiện bởi Ngô Xuân Nam và cộng sự, 2013. Báo cáo kết quả của chương trình điều tra đã ghi nhận được 23 loài thú thuộc 11 họ, 5 bộ.

Trong đó có nhiều loài động vật quý hiếm như Khỉ vàng (Macaca mulatta), Gấu ngựa (Ursus thibetanus), Sơn dương (Capricornis milneedwardsii),… [10]. Tuy nhiên chưa có một cuộc điều tra nào về khu hệ bò sát, ếch nhái cũng như sự phân bố của loài được thực hiện. Vì vậy các thông tin về thành phần loài, phân bố cũng như các mối đe dọa đến loài chưa có. Do đó, nghiên cứu này s bổ sung và xây dựng cơ sở dữ liệu và đề xuất các giải pháp bảo tồn khu hệ bò sát, ếch nhái nói riêng và đa dạng sinh học tại Khu bảo tồn nói chung.

10 Chƣơng 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Mục tiêu nghiên cứu 2. Mục tiêu tổng quát Xác định được thành phần loài và các yếu tố tác động tới khu hệ Bò sát, ếch nhái làm cơ sở khoa học phục vụ công tác bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên này ở khu bảo tồn Nam Động. Mục tiêu cụ thể - Xác định được thành phần loài Bò sát, ếch nhái tại KBT Nam Động.

- Xác định được các loài bò sát, ếch nhái nguy cấp quý hiếm. - Xác định được phân bố của bò sát, ếch nhái tại khu vực nghiên cứu. - Xác định được các mối đe dọa đến khu hệ Bò sát ,ếch nhái tại KBT - Đề xuất được một số giải pháp quản lý và bảo tồn, phát triển khu hệ Bò sát - Ếch nhái tại khu vực nghiên cứu. Nội dung nghiên cứu - Nghiên cứu thành phần loài Bò sát, ếch nhái ở khu bảo tồn Nam Động - Nghiên cứu đặc điểm phân bố của các loài Bò sát, ếch nhái tại khu vực nghiên cứu.

- Nghiên cứu các yếu tố đe dọa đến khu hệ Bò sát, ếch nhái tại khu vực nghiên cứu. - Đề xuất các giải pháp quản lý và bảo tồn, phát triển khu hệ Bò sát, ếch nhái tại khu vực nghiên cứu. Đối tƣợng nghiên cứu Khu hệ Bò sát, ếch nhái hiện có trong khu bảo tồn các loài hạt trần quý hiếm Nam Động, tỉnh Thanh Hóa. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu đặc điểm khu hệ Bò sát, ếch nhái tại Khu bảo tồn các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động, tỉnh Thanh Hóa.

- Phạm vi về không gian: Đề tài được nghiên cứu tại Khu bảo tồn các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động, Thanh Hóa, vị trí địa lý: 20o16'30'' đến 20o39'30'' vĩ độ Bắc và 104o44' 00'' đến 105o11'30'' kinh độ Đông. Với diện tích 646,95 ha. - Phạm vi về thời gian: Thời gian nghiên cứu của đề tài từ tháng 5 năm 2016 đến tháng 5 năm 2017. Phƣơng pháp nghiên cứu 2.

Công tác chuẩn bị - Tham khảo tài liệu có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu. - Chuẩn bị dụng cụ cần thiết cho công việc nghiên cứu, bao gồm: Dụng cụ đựng mẫu (lọ và túi vải); cồn 700; đèn pin,… - Quan sát và nhận biết những mẫu vật đang lưu trữ tại phòng tiêu bản của trường. - Sơ bộ nghiên cứu khu vực điều tra thông qua bản đồ địa hình khu vực. Phƣơng pháp phỏng vấn Đối tượng phỏng vấn là những người có kinh nghiệm đi rừng, thợ săn và cán bộ KBT Nam Động, có hiểu biết tốt về các loài Bò sát, ếch nhái lựa chọn phỏng vấn để xác định sơ bộ về sự có mặt của các loài cũng như những vùng phân bố quan trọng, sinh cảnh ưa thích của chúng trong KBT.

Tổng số 40 phiếu phỏng vấn đã được phát cho người dân bản Bâu, bản Lở và cán bộ 12 Kiểm lâm trạm bản Bâu (xã Nam Động) để xác định loài cụ thể. Hình ảnh chuẩn về hình thái bên ngoài của các loài cũng s được đưa cho các đối tượng phỏng vấn xem và nhận diện sau khi họ cung cấp thông tin. Các thông tin thu thập được từ phỏng vấn là cơ sở cho quá trình thiết kế tuyến điều tra thực địa. Kết quả phỏng vấn người dân và cán bộ KBT được ghi vào bảng 1; bộ câu hỏi phỏng vấn được trình bày tại phụ lục 1.

Biểu phỏng vấn ngƣời dân Tên người được phỏng vấn ……………….Tuổi……………… Dân tộc ………………… Ngày điều tra……………………………………. Tên phổ Tên địa Số Sinh Địa điểm Giá Trị Ghi STT thông phƣơng lƣợng cảnh bắt gặp Sử dụng chú Kết quả điều tra phỏng vấn được xử lý theo phương pháp thống kê, tên các loài được hiệu chỉnh theo các tài liệu về nhận dạng động vật rừng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ