Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học và lý luận của đề tài Cam quýt là cây ăn quả lâu năm, quá trình sinh trưởng, ra hoa kết quả chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện khí hậu, thời tiết vùng miền. Mỗi vùng sinh thái trồng trọt khác nhau thì tập tính sinh trưởng, ra hoa, đậu quả khác nhau. Các nghiên cứu trên thế giới cũng chỉ ra rằng, năng suất chất lượng của cây trồng không chỉ phụ thuộc vào điều kiện sinh thái khí hậu mà còn phụ thuộc rất lớn vào các biện pháp kỹ thuật áp dụng, nhất là các biện pháp kỹ thuật quản lý dinh dưỡng, nước, cắt tỉa và phòng chống sâu, bệnh.
Theo Reitz H và cộng sự (1954), Naude C. Tùy theo nhu cầu dinh dưỡng của cây mà các nguyên tố này được chia thành các nguyên tố dinh dưỡng đa lượng, trung lượng hay vi lượng. Người ta đã chứng minh được rằng cây yêu cầu dinh dưỡng theo một tỷ lệ cân đối nhất định và lượng dinh dưỡng cây hút phụ thuộc vào giống cây trồng, năng suất thu hoạch và điều kiện sinh thái khí hậu, đất đai. Mỗi nguyên tố dinh dưỡng cây sử dụng đều có các giá trị tối ưu và tối đa [6].
Do vậy nghiên cứu tỷ lệ và liều lượng bón các nguyên tố đa lượng cho cây có múi là tìm ra lượng tối đa và tối ưu trong một điều kiện canh tác cụ thể nhằm đạt được hiệu quả cao nhất. Sâu bệnh luôn là mối nguy hại đối với cây trồng nói chung và đặc biệt đối với cây có múi nói riêng. Theo Vũ Khắc Nhượng [13] có tới 150 loài sâu bệnh gây hại trên cây có múi. Các loài nguy hiểm là sâu đục cành, ruồi vàng, ngài chích hút vv.
chúng có thể làm giảm tới 30 – 40% sản lượng quả. Những bệnh như greening, tristeza không những làm giảm năng suất mà còn là hủy n 5 diệt cả vườn cây. Do vậy việc nghiên cứu phòng chống sâu, bệnh là rất cần thiết để đảm bảo năng suất và chất lượng quả. Cây cam, quýt ở Bắc Kạn đã có cách đây khoảng 150 năm, từ những năm 1986 trở về trước chỉ trồng manh mún để ăn, từ sau năm 1986 mới được chú trọng dần và được trồng nhiều từ năm 1990 đến nay, trong đó Giống quýt Bắc Kạn với đặc điểm quả vàng, vỏ mỏng, mọng nước và vị thơm ngọt đặc biệt đã gây ấn tượng người tiêu dùng trong, ngoài tỉnh.
Những năm gần đây, quýt là một trong những loại cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao, được trồng tập trung ở một số huyện: Bạch Thông, Ba Bể, Chợ Đồn với diện tích toàn tỉnh vào khoảng 2. Với diện tích khoảng 1.200 ha quýt đang cho thu hoạch trung bình mỗi năm Bắc Kạn xuất ra thị trường từ 5000 đến 7.000 tấn quả loại 1, giá bán tại vườn từ 8.000 đồng/kg đã đem lại thu nhập đáng kể cho một bộ phận nông dân trong tỉnh. Nhưng diện tích này phần lớn là bà con nông dân tự trồng chưa áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật canh tác bền vững như: chủ yếu khai thác từ độ phì tự nhiên của đất, ít bón phân, kỹ thuật tỉa cành tạo tán cho cây, bảo vệ mẫu mã, chấy lượng quả còn chưa được chú trọng. do vậy mà tuổi thọ trung bình của cây quýt giảm đi rõ rệt, năng suất, chất lượng không ổn định, mã quả không đẹp, một số quả bị sâu bệnh nên giá bán không cao.
Trong thực tế sản xuất hiện nay để nâng cao năng suất chất lượng cam quýt tại địa phương ngoài việc áp dụng các biện pháp chăm sóc, làm cỏ .nhiều bà con nông dân đã biết sử dụng phân bón, tuy nhiên chưa có nghiên cứu về lượng, loại phân bón nào được công bố về sự phù hợp đối với năng suất chất lượng cam quýt tại Bắc Kạn, mặt khác trên thị trường hiện nay đòi hỏi mẫu mã quả đẹp, có nơi người dân trồng cây ăn quả khác đã thực hiện biện pháp kỹ thuật bọc quả trên cây nhằm hạn chế sâu bệnh gây hại và tạo cho quả có mẫu mã tốt nâng cao giá trị trên một đơn vị diện tích, song tại tỉnh Bắc Kạn việc bao quả quýt đối với bà con nông dân n 6 còn chưa được thực hiện. Từ nhừng những lý do trên để xác định được công thức bón phân thích hợp, bao quả thời điểm nào đem lại hiệu quả cao ? Đây là vấn đề người trồng quýt cần quan tâm giải quyết. Với vấn đề nêu trên tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đến năng suất, chất lượng quả quýt Bắc Kạn” là có cơ sở khoa học và có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc. Lịch sử, nguồn gốc, phân loại cây cam quýt 1.
Lịch sử, nguồn gốc và phân bố Cam quýt nói riêng, cây có múi nói chung là những loại cây phân bố rất rộng, gần như có mặt ở hầu hết các lục địa và ở mỗi vùng tùy theo điều kiện tự nhiên mà có những giống thích hợp, những đặc tính riêng. Cam quýt có sự phân bố rộng là do khả năng dễ thích nghi với nhiều môi trường sống khác nhau, do khả năng dễ lai tạo giữa các chủng để tạo ra những chủng mới có khả năng thích nghi cao hơn [7]. Nhiều kết quả nghiên cứu cho rằng cam quýt đang được trồng hiện nay đều có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Đông Nam châu Á. Tanaka (1979) đã vạch đường ranh giới xuất xứ của giống thuộc chi citrus từ phía Đông Ấn Độ (chân dãy Himalaya) qua Úc, miền Nam Trung Quốc, Nhật Bản.
Theo Trần Thế Tục (1980) nghề trồng cam quýt ở Trung Quốc đã có từ 3000 - 4000 năm trước. Hán Ngữ Trực đời Tống trong “Quýt lục” đã ghi chép về phân loại và các giống quýt ở Trung Quốc. Điều này cũng khẳng định thêm về nguồn gốc các giống cam, chanh (Citrus sinensis Obeck) và các giống quýt ở Trung Quốc theo đường danh giới gấp khúc Tanaka [11]. Việt Nam, cam quýt được trồng khắp các tỉnh từ Bắc chí Nam.
Người có đất rộng thì trồng thành vườn, còn dân vùng đất chật nhà nào cũng có trồng một vài gốc quýt. Các vùng cam quýt nổi tiếng thường là vùng đất phù sa cũ, cao, đất tương đối nhẹ, ven sông. Có nơi dân còn vực đất phù sa lên đắp vào các chân n 7 ruộng để trồng cam quýt. Miền Bắc Việt Nam có vùng trồng cam nổi tiếng ven sông Thương, sông Sỏi, sông Hồng, sông Lô, sông Ngàn Phố, sông Châu Giang, sông Thái Bình [7].
Nhiều tác giả cho rằng quýt Kinh (Citrus nobilis Lour) là ở miền Nam Việt Nam. Thực tế ở Việt Nam ta từ Bắc chí Nam địa phương nào cũng có 1. Phân loại cây ăn quả có múi Cây có múi (Citrus) thuộc họ Rutaceae, họ phụ Aurantioideae, nhóm Citreae và nhóm phụ Citrineae. Việc phân loài Citrus đến nay vẫn còn là vấn đề khá khó khăn và phức tạp, có nhiều quan điểm khác nhau, chẳng hạn Swingle chia chi citrus thành 16 loài, gồm 2 chi phụ: Eucitrus 10 loài và Papeda 6 loài.
Tanaka lại chia thành 144 loài, cũng gồm 2 chi phụ: Archicitrus 98 loài, gồm 5 loài: Papeda 12 loài, Limonellus 16 loài, Citrophorum 21 loài, Aruntium 28 loài và Cephaiocitrus 21 loài; chi phụ Metacitrus 46 loài, gồm 3 loài: Osmocitrus 9 loài, Acrumen 36 loài và Pseudofortunella 1 loài. Trong khi đó Hodgson lại nhóm thành 4 nhóm: Nhóm 1, những loài chua, gồm 6 loài: C. Nhóm 2, nhóm cam, gồm 2 loài: C. Nhóm 3, nhóm quýt, gồm 3 loài: C.
nobilis (quýt King/cam sành, lai giữa C. Nhóm 4, nhóm bưởi, gồm 2 loài: C. Chi Citrus chỉ gồm 3 loài cơ bản là: chanh yên (citron), quýt (mandarin) và bưởi (pummelo). Loài quýt bao gồm tất cả các loài quýt hiện có và các loài khác như: C.
Loài bưởi gồm: C. Tuy nhiên nghiên cứu n 8 này chỉ có ý nghĩa lớn đối với việc xác định phả hệ của cây có múi, còn trong công tác điều tra, thu thập, đánh giá đa dạng nguồn gen vẫn phải dựa vào đặc điểm hình thái trên cơ sở các khóa phân loại. [35] Quýt (Citrus recticula) loài cây cao 2,5m, lá xanh sẫm, nhỏ, cuống lá có cánh hẹp, quả dẹt màu da cam, nhiều múi (9 -13 múi), vỏ dễ bóc, múi dễ chia, chua hay ngọt tuỳ giống. Hạt nhỏ, phôi màu xanh lục, có thể chia thành 4 nhóm phụ Quýt Ponkan: Gồm các loại quýt trồng nhiều ở Đông Nam Á.
Ở mỗi nước có tên gọi khác nhau. Việt Nam gọi là cam đường (cam quả to), nhưng hương vị lại của quýt, cam Giàng, quýt bộp Bố Hạ. Việt Nam còn có giống quýt Hôi trồng ở miền núi, cây to khỏe, quả màu vàng tái, bóng, bóc ra có mùi hắc, không thơm, ruột chua. Được sử dụng làm gốc ghép các loại qủa chất lượng cao Quýt Satsuma: Chịu rét tốt, trồng nhiều ở Nam Nhật Bản, Trung Quốc và một số nước khác.
Giống quýt này không hạt, ngon, chín sớm và có rất nhiều loại phụ. Quýt Dancy: Vỏ đỏ tươi, rất đẹp, là loại quýt Tiều vì nguồn gốc ở tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc). Quýt Tiều vị ngọt thấp nhưng vỏ đỏ , rất được ưa chuộng để cúng giỗ Tết, trang trí. Quýt Tangrin: có vỏ vàng cam, trồng nhiều ở Maroc Bắc Phi.
Quýt Kinh: quả to, vỏ dầy, hơi khó bóc. Thịt qủa khi chín màu đỏ vàng rất đẹp, nước quả làm nước giải khát có màu rất đẹp. Quýt Kinh được trồng nhiều ở Việt Nam, Campuchia, Thái Lan. ở nước ta, Quýt Kinh là giống Cam sành phổ biến rộng rãi cả nước.
Các nhà khoa học thế giới cho rằng Quýt Kinh (Cam sành) là cây lai giữa cam và quýt nên quả có cả đặc tính của cam, quýt. họ xếp là quýt nhưng ở ta lại gọi là cam. Quýt rất ngon, ngọt, thơm, n 9 được nhiều người ưa thích, là quả tốt để ăn tráng miệng, để làm nước giải khát, làm mứt. Tình hình sản xuất tiêu thụ quả có múi trên thế giới và trong nước 1.
Tình hình sản xuất tiêu thụ quả có múi trên thế giới Năm 2009 diện tích cam quýt toàn thế giới là 4.436 ha, năng suất trung bình đạt 169,8 tạ /ha sản lượng đạt 67. Đến năm 2013, các chỉ tiêu đều tăng và đạt diện tích là 4.981,8 ha, năng suất tăng đạt 175,1 tạ/ha và sản lượng 71. Tình hình sản xuất cam quýt trên thế giới Các châu lục trên thế giới Chỉ Châu Năm Thế giới tiêu Châu Phi Châu Mỹ Châu Á Châu Âu Đại Dương 2009 386.