Tổng quan nghiên cứu

Tỉnh Cà Mau có diện tích tự nhiên 5.241 km2 cùng dân số hơn 1,22 triệu người, nằm tại cực Nam của Đồng bằng sông Cửu Long với ba mặt tiếp giáp biển. Địa bàn này đang phải đối mặt với áp lực an ninh nguồn nước vô cùng gay gắt do toàn bộ hệ thống nước mặt đều bị nhiễm mặn trong mùa khô dưới tác động của chế độ bán nhật triều Biển Đông và nhật triều Biển Tây. Nguồn nước dưới đất trở thành nguồn cấp nước sinh hoạt và sản xuất duy nhất, dẫn đến sự bùng nổ của 137.988 công trình giếng khoan với tổng lưu lượng khai thác lên đến 373.332 m3/ngày. Trong đó, các giếng khoan nhỏ lẻ nông thôn của hộ gia đình chiếm tới 137.590 giếng (tương đương 99,7% tổng số công trình) với lưu lượng 275.180 m3/ngày. Tình trạng khai thác quá mức và thiếu kiểm soát đã khiến mực nước ngầm suy giảm nghiêm trọng từ 0,80 đến 1,0 m/năm, gây biến dạng trường thủy động lực học và đẩy nhanh tốc độ xâm nhập mặn vào các tầng chứa nước ngọt.

Trước thực trạng cấp bách đó, luận văn tập trung nghiên cứu và đánh giá biến động ranh giới mặn tại tầng chứa nước Pleistocen giữa-trên (qp2-3) trên phạm vi toàn tỉnh Cà Mau qua hai giai đoạn: giai đoạn lịch sử 2004-2009 và giai đoạn hiện trạng năm 2017. Mục tiêu trọng tâm là lượng hóa sự thay đổi hàm lượng tổng chất rắn hòa tan (TDS), xác lập bản đồ dịch chuyển ranh giới mặn ở ngưỡng 1 g/l và đề xuất các giải pháp quy hoạch khả thi. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp bộ dữ liệu không gian định lượng chính xác, hỗ trợ các cơ quan quản lý nhà nước kiểm soát tốc độ gia tăng độ mặn trên 2.016 km2 diện tích bị ảnh hưởng, hướng tới mục tiêu quản lý và khai thác bền vững tài nguyên nước dưới đất của địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết thủy địa hóa kết hợp với mô hình lan truyền chất tan trong môi trường lỗ hổng bão hòa. Quá trình phân định ranh giới mặn-nhạt dựa trên chỉ số tổng độ khoáng hóa (TDS) theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống (QCVN 01:2009/BYT do Bộ Y tế ban hành), quy định ngưỡng tối đa cho phép của nước ngọt là 1.000 mg/l (tương đương 1 g/l). Môi trường nước dưới đất được chia làm 3 đới rõ rệt: đới nước ngọt (TDS dưới 1 g/l), đới nước lợ (TDS từ 1 đến 3 g/l) và đới nước mặn (TDS trên 3 g/l).

Bên cạnh đó, lý thuyết động lực học dòng ngầm giải thích cơ chế hình thành phễu hạ thấp mực nước khi lưu lượng bơm hút vượt quá khả năng bổ cập tự nhiên. Tầng chứa nước Pleistocen giữa-trên (qp2-3) là đối tượng nghiên cứu cốt lõi, có chiều sâu bắt gặp mái biến đổi từ 60,0 đến 115,0 m (trung bình 89,04 m), chiều sâu đáy từ 80,0 đến 146,0 m (trung bình 103,67 m) và bề dày chứa nước thực tế trung bình đạt 13,3 m. Tầng này được che phủ phía trên bởi thể địa chất rất nghèo nước Pleistocen giữa-trên và Holocen (Q12-3-Q2) dày từ 60,0 đến 117,5 m, đóng vai trò như lớp cách nước tự nhiên nhưng đang bị đe dọa bởi hàng trăm nghìn lỗ khoan nhân tạo.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng quy trình tích hợp giữa phương pháp điều tra thực địa, phân tích trong phòng thí nghiệm và công nghệ địa thống kê không gian GIS. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 172 mẫu nước lịch sử giai đoạn 2004-2009 thu thập từ báo cáo của tác giả Tống Đức Liêm (năm 2004) và tác giả Nguyễn Kim Quyên (năm 2009). Để đánh giá hiện trạng năm 2017, tác giả đã tiến hành lấy mẫu trực tiếp tại 203 giếng khoan khai thác có chiều sâu từ 50 m trở lên tập trung quanh khu vực ranh giới mặn, đồng thời tích hợp thêm 30 mẫu nước bổ sung từ dự án Quy hoạch tài nguyên nước dưới đất của Liên đoàn Địa chất Thủy văn - Địa chất Công trình miền Nam, nâng tổng số mẫu hiện trạng lên 233 mẫu.

Phương pháp chọn mẫu theo cụm không gian được ưu tiên tại các khu vực có mật độ giếng khoan dày đặc như Thành phố Cà Mau và các huyện giáp biển. Mẫu nước sau khi thu thập được phân tích chỉ tiêu TDS bằng phương pháp sấy khô ở nhiệt độ 180 ± 2 °C đến khối lượng không đổi, kết hợp đo độ dẫn điện EC tại hiện trường để kiểm chứng sai số. Toàn bộ dữ liệu được chuẩn hóa và xử lý trên nền tảng phần mềm ArcGIS 10.3 và MapInfo 15.0. Phương pháp nội suy Ordinary Kriging được lựa chọn thay vì các phương pháp xác định như IDW hay Spline bởi khả năng ước lượng không thiên lệch và tối thiểu hóa phương sai sai số. Dữ liệu TDS có phân bố lệch trái được chuyển đổi sang dạng LogTDS đạt phân bố chuẩn (giá trị trung bình -0,0608; phương sai 0,0497), khớp với mô hình Semi-variogram dạng cầu (Spherical) tại góc phương vị 45 độ với giá trị Sill đạt 0,05.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích số liệu lịch sử giai đoạn 2004-2009 cho thấy có đến 40% tổng số mẫu nước khảo sát có hàm lượng TDS vượt quá ngưỡng 1 g/l. Vùng nước mặn và nước lợ (TDS lớn hơn 1 g/l) phân bố trên diện tích 2.016 km2, chiếm 37,8% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Cà Mau, tập trung chủ yếu tại các huyện Năm Căn, Ngọc Hiển, phía Bắc huyện U Minh và Thới Bình. Điểm có độ mặn cực đại ghi nhận được đạt mức 4,19 g/l tại khu vực phía Bắc huyện U Minh.

Đến năm 2017, kết quả phân tích 233 mẫu nước hiện trạng chỉ ra sự biến động mạnh mẽ của ranh giới mặn-nhạt. Ranh giới đẳng trị TDS = 1 g/l đã dịch chuyển sâu vào các khu vực nước ngọt trước đây, làm diện tích vùng nước ngọt bị thu hẹp đáng kể. Tốc độ xâm nhập mặn diễn ra nhanh nhất tại các khu vực chuyển tiếp thuộc huyện Trần Văn Thời, huyện Cái Nước và vùng ven Thành phố Cà Mau, nơi tập trung 10.166 giếng khoan khai thác tầng qp2-3 với tổng lưu lượng 21.180 m3/ngày.

Đồng thời, chuỗi dữ liệu quan trắc mực nước tại các công trình đại diện ghi nhận sự sụt giảm liên tục của áp lực nước ngầm. Tại trạm quan trắc quốc gia Q177020 (Thành phố Cà Mau), mực nước tầng Pleistocen giữa-trên từ tháng 4/1995 đến tháng 12/2008 đã sụt giảm tổng cộng 6,50 m với tốc độ bình quân 0,80 m/năm. Tương tự, tại trạm Q188030 thuộc tầng Pleistocen dưới, mực nước giảm tới 13,78 m trong giai đoạn 1991-2008 với tốc độ 1,0 m/năm, tạo ra các phễu suy giảm có cao độ mực nước tĩnh hạ sâu từ -3,5 đến -18,79 m.

Thảo luận kết quả

Sự dịch chuyển và mở rộng của ranh giới mặn bắt nguồn trực tiếp từ hiện tượng mất cân bằng thủy văn cục bộ. Khi tổng lưu lượng khai thác toàn tỉnh đạt 373.332 m3/ngày mà nguồn bổ cập tự nhiên qua lớp sét dày 60-117,5 m diễn ra vô cùng chậm chạp, áp lực nước ngọt suy giảm tạo điều kiện cho các thấu kính nước mặn trầm tích cổ và nước mặn ven biển thâm nhập theo cả phương ngang lẫn phương thẳng đứng. Đáng chú ý, sự hiện diện của hơn 137.590 giếng khoan nhỏ lẻ không được trám cách ly kỹ thuật đóng vai trò như những cầu nối thủy lực nhân tạo, dẫn truyền nước mặt và nước ngầm tầng nông bị nhiễm mặn thẩm thấu trực tiếp xuống tầng qp2-3.

Kết quả nghiên cứu này có sự tương đồng sâu sắc với các công trình khoa học của Đào Hồng Hải và cộng sự (năm 2016) khi đánh giá chỉ số chất lượng nước WQI tại bán đảo Cà Mau, trong đó các ion mặn như Cl- và SO42- có tỷ lệ vượt chuẩn từ 20% đến 21%. Hiện tượng này cũng phản ánh quy luật xâm nhập mặn do khai thác nước ngầm quá mức từng được ghi nhận tại đồng bằng Burdekin (Úc) với 1.800 giếng bơm tưới tiêu, hay khu vực Venice (Ý). Toàn bộ diễn biến xâm nhập mặn đã được minh họa trực quan thông qua bản đồ chồng lớp không gian GIS, biểu đồ tần suất LogTDS và bảng thống kê diện tích biến động ranh giới mặn, tạo cơ sở thực chứng vững chắc cho các đánh giá môi trường.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm ngăn chặn đà mở rộng của ranh giới mặn và bảo vệ tầng chứa nước Pleistocen giữa-trên (qp2-3), luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  • Ban hành quy chế phân vùng cấm và hạn chế khai thác nước dưới đất: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Cà Mau cần phối hợp với Ủy ban nhân dân các huyện tiến hành khoanh định các khu vực có tốc độ hạ thấp mực nước vượt quá 0,80 m/năm hoặc độ mặn tiệm cận ngưỡng 1 g/l như Thành phố Cà Mau, huyện Trần Văn Thời và Cái Nước; đặt mục tiêu giảm 25% tổng lưu lượng khai thác trong giai đoạn 2019-2025.
  • Thực hiện chiến dịch trám lấp giếng khoan không sử dụng và hư hỏng: Ủy ban nhân dân cấp huyện và xã chủ trì rà soát, xử lý kỹ thuật triệt để đối với hơn 137.000 giếng khoan hộ gia đình bị bỏ hoang hoặc khai thác sai kỹ thuật trước năm 2024, nhằm xóa bỏ các lỗ thủng địa chất thủy văn gây thông tầng ô nhiễm mặn.
  • Thiết lập hệ thống quan trắc tự động và cảnh báo sớm xâm nhập mặn: Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia cùng Sở Tài nguyên và Môi trường đầu tư lắp đặt bổ sung 10 đến 15 trạm quan trắc tự động liên tục cả về áp lực mực nước và chỉ số TDS tại các tầng chứa nước qp2-3 và qp1, hoàn thành mạng lưới trong giai đoạn 2020-2023.
  • Phát triển hạ tầng cấp nước mặt tập trung thay thế nước ngầm: Ban Quản lý dự án ngành nước tỉnh Cà Mau đẩy nhanh tiến độ xây dựng các nhà máy xử lý nước mặt quy mô liên huyện, kết hợp hồ trữ nước mưa dung tích lớn; phấn đấu nâng tỷ lệ hộ dân nông thôn tiếp cận hệ thống cấp nước tập trung đạt trên 80% vào năm 2030 để giảm tải khai thác ngầm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường: Cán bộ chuyên trách tại Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Cà Mau và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long có thể sử dụng trực tiếp bản đồ phân vùng mặn và cơ sở dữ liệu GIS để cấp phép khai thác, xây dựng quy hoạch tài nguyên nước giai đoạn 2025-2045.
  • Doanh nghiệp cấp thoát nước và đơn vị tư vấn địa kỹ thuật: Các kỹ sư công nghệ môi trường tại Công ty Cấp thoát nước đô thị Cà Mau và Trung tâm Nước sạch nông thôn có thể dựa vào thông số chiều sâu mái (89,04 m), đáy (103,67 m) và biến động TDS để thiết kế mạng lưới giếng khoan khai thác an toàn, tránh đới nước lợ.
  • Chuyên gia, nghiên cứu sinh và nhà khoa học chuyên ngành: Giảng viên và học viên cao học thuộc các ngành Khoa học Môi trường, Địa chất Thủy văn, Quản lý Tài nguyên khai thác quy trình ứng dụng thuật toán Ordinary Kriging và chuẩn hóa LogTDS phục vụ mô hình hóa không gian chất lượng nước.
  • Các tổ chức phi chính phủ và dự án thích ứng biến đổi khí hậu: Các tổ chức phát triển quốc tế hoạt động tại Đồng bằng sông Cửu Long sử dụng số liệu thực chứng về suy thoái mực nước từ 0,80 đến 1,0 m/năm để xây dựng các dự án viện trợ sinh kế, trữ nước ngọt và nâng cao khả năng chống chịu khí hậu cho cộng đồng ven biển.

Câu hỏi thường gặp

  • Tại sao tầng chứa nước Pleistocen giữa-trên (qp2-3) lại là đối tượng nghiên cứu ưu tiên của đề tài? Tầng qp2-3 có diện phân bố rộng trên toàn tỉnh với chiều sâu khai thác thuận lợi từ 60 đến 115 m. Đây là tầng chịu tải khai thác lớn nhất với 137.590 giếng khoan nhỏ lẻ, đồng thời có tốc độ suy giảm mực nước lên tới 0,80 m/năm, khiến nguy cơ nhiễm mặn diễn ra nhanh và phức tạp nhất so với các tầng nước sâu khác.

  • Phương pháp Kriging mang lại ưu điểm vượt trội gì trong việc thành lập bản đồ phân bố mặn? Kriging là công cụ địa thống kê tối ưu không thiên lệch. Bằng cách chuẩn hóa dữ liệu sang dạng LogTDS với phương sai 0,0497 và xây dựng mô hình Semi-variogram hình cầu ở góc phương vị 45 độ, Kriging phân tích chính xác mối tương quan không gian giữa các điểm đo, cho ra sai số nội suy nhỏ nhất khi khoanh định ranh giới TDS = 1 g/l.

  • Ngưỡng nồng độ nào được sử dụng để phân định ranh giới giữa nước ngọt và nước mặn trong luận văn? Luận văn áp dụng tiêu chuẩn QCVN 01:2009/BYT của Bộ Y tế, lấy chỉ tiêu tổng chất rắn hòa tan TDS = 1 g/l (1.000 mg/l) làm ranh giới mặn-nhạt. Nguồn nước được phân chia thành nước ngọt (TDS dưới 1 g/l), nước lợ (TDS từ 1 đến 3 g/l) và nước mặn (TDS vượt quá 3 g/l).

  • Tác nhân chính nào thúc đẩy ranh giới mặn mở rộng vào các huyện nội đồng của Cà Mau? Nguyên nhân cốt lõi là việc khai thác quá mức 373.332 m3/ngày làm hạ thấp mực nước tĩnh từ -3,5 đến -18,79 m. Sự xuất hiện của hàng trăm nghìn giếng khoan dân sinh không trám lấp cách ly đã biến thành các đường dẫn đưa nước mặn từ tầng mặt thẩm thấu trực tiếp xuống tầng chứa nước ngầm.

  • Luận văn đề xuất giải pháp cấp bách nào cần thực hiện ngay tại tỉnh Cà Mau? Giải pháp cấp bách nhất là khoanh định vùng cấm khai thác tầng qp2-3 tại các đô thị tập trung như Thành phố Cà Mau, đồng thời khẩn trương tổ chức kiểm tra và trám lấp kỹ thuật 100% các giếng khoan hư hỏng nhằm chặn đứng nguy cơ ô nhiễm thông tầng.

Kết luận

  • Luận văn đã xây dựng thành công bản đồ phân bố độ mặn giai đoạn lịch sử 2004-2009, xác định diện tích đới mặn và lợ chiếm 2.016 km2 (tương đương 37,8% diện tích toàn tỉnh) với giá trị TDS cao nhất 4,19 g/l.
  • Xác lập bộ bản đồ hiện trạng phân bố TDS năm 2017 từ 233 điểm dữ liệu thực tế, chứng minh sự dịch chuyển sâu của ranh giới mặn 1 g/l vào các vùng nước ngọt tại huyện Cái Nước, Trần Văn Thời và Thành phố Cà Mau.
  • Khẳng định mối tương quan chặt chẽ giữa sự suy thoái mực nước ngầm với tốc độ giảm từ 0,80 đến 1,0 m/năm và tiến trình xâm nhập mặn do hoạt động khai thác 373.332 m3/ngày từ 137.988 giếng khoan.
  • Hoàn thiện quy trình ứng dụng địa thống kê Ordinary Kriging và chuẩn hóa LogTDS trong xử lý dữ liệu địa chất thủy văn có độ biến thiên phức tạp tại vùng ven biển.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về quy hoạch, công nghệ quan trắc, trám lấp giếng và chuyển đổi nguồn nước cấp giai đoạn 2019-2030.

Công trình là đóng góp học thuật và thực tiễn quan trọng, cung cấp luận cứ khoa học định lượng cho việc điều chỉnh Quy hoạch tài nguyên nước dưới đất tỉnh Cà Mau tầm nhìn 2045. Các đơn vị quản lý và giới nghiên cứu hãy chủ động khai thác kho dữ liệu bản đồ số của luận văn để triển khai ngay các hành động bảo vệ nguồn nước ngầm quý giá trước áp lực biến đổi khí hậu.