Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngựa là loài gia súc gắn bó lâu đời với đời sống kinh tế, lao động sản xuất của đồng bào các tỉnh miền núi và trung du nước ta. Bên cạnh chức năng cung cấp sức kéo và vận chuyển hàng hóa, ngựa còn mang lại các sản phẩm có giá trị dinh dưỡng và y học như thịt, máu, huyết thanh và nội tạng. Đặc biệt, giống ngựa Bạch là nguồn gen vật nuôi quý hiếm; xương ngựa Bạch được dùng để nấu cao hỗ trợ điều trị các bệnh lý về xương khớp, cột sống, thắt lưng và hen phế quản, trong khi huyết thanh và máu ngựa Bạch được sử dụng để chiết tách nguyên liệu điều chế dược phẩm phục vụ y tế và thú y. Dù có giá trị kinh tế cao, công tác bảo tồn và phát triển đàn ngựa Bạch tại Việt Nam từng đối mặt với nguy cơ suy giảm số lượng do quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ, tầm vóc vật nuôi hạn chế và tác động tiêu cực của các hội chứng bệnh lý nội khoa, truyền nhiễm, ký sinh trùng.

Địa bàn xã Dương Thành, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên là một trong những địa phương có truyền thống phát triển chăn nuôi ngựa Bạch tập trung. Nhằm khôi phục và phát triển nguồn gen này, Hợp tác xã chăn nuôi ngựa Bạch làng Phẩm đã được thành lập vào ngày 09/03/2011. Tại thời điểm khảo sát, toàn xã có khoảng 200 - 250 con ngựa, trong đó đàn ngựa Bạch chiếm từ 150 - 180 con; bình quân mỗi hộ nuôi 2,3 con và số hộ nuôi từ 2 con trở lên chiếm tỷ lệ 70 - 80%. Tuy nhiên, phương thức chăn nuôi bán chăn thả kết hợp tận dụng phụ phẩm nông nghiệp, cùng với sự biến động thất thường của thời tiết trung du miền núi, đã khiến đàn ngựa thường xuyên đối mặt với các bệnh lý đường hô hấp và đường tiêu hóa. Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài khóa luận "Tình hình một số bệnh nội khoa trên đàn ngựa Bạch nuôi tại xã Dương Thành, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và biện pháp điều trị" được thực hiện bởi sinh viên Trần Quốc Bảo, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Quang Tuyên (Khoa Chăn nuôi - Thú y, Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên).

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể như sau:

  1. Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tổ chức mạng lưới thú y và kết quả thực hiện các công tác phục vụ sản xuất chăn nuôi thú y tại địa bàn xã Dương Thành.
  2. Nắm bắt biến động cơ cấu số lượng đàn ngựa Bạch nuôi tại địa phương qua các năm (giai đoạn 2011 - 2014).
  3. Xác định tỷ lệ mắc một số bệnh nội khoa phổ biến (viêm phổi, tiêu chảy, đau bụng) trên đàn ngựa Bạch nuôi tại địa bàn.
  4. Đánh giá triệu chứng lâm sàng và thử nghiệm các phác đồ dùng thuốc điều trị hiệu quả cho đàn ngựa Bạch mắc bệnh nội khoa.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn ngựa Bạch được nuôi tại các nông hộ thuộc Hợp tác xã chăn nuôi ngựa Bạch xã Dương Thành, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu tập trung tại 4 xóm làng Phẩm (Phẩm 1, Phẩm 2, Phẩm 3, Phẩm 4) thuộc xã Dương Thành, huyện Phú Bình.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài và đợt thực tập tốt nghiệp được triển khai trong thời gian từ ngày 09/12/2013 đến ngày 31/5/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở khoa học của khóa luận dựa trên các tài liệu chuyên ngành về phân loại học động vật, giải phẫu sinh lý và bệnh học lâm sàng gia súc:

  • Hệ thống phân loại động vật xác định ngựa thuộc giới Animalia, ngành Chordata, phân ngành Vertebrata, lớp Mammalia, bộ guốc lẻ Perissodactyla, họ Equidae, giống Equus, loài Equus caballus. Hệ cơ - xương của ngựa phát triển vững chắc với 200 bó cơ và 153 chiếc xương.
  • Các chỉ số sinh lý tiêu chuẩn ở ngựa khỏe mạnh được dẫn chiếu gồm: tần số hô hấp đạt 8 - 16 lần/phút; tần số mạch đập đạt 24 - 42 lần/phút (bắt tại động mạch đuôi, tỷ lệ nhịp thở và mạch đập sinh lý xấp xỉ 1:3); thân nhiệt đo tại trực tràng dao động từ 37,5°C - 38,0°C.
  • Đặc điểm giải phẫu và sinh lý tiêu hóa của ngựa: Ngựa là loài ăn cỏ có dạ dày đơn với dung tích nhỏ (15 - 20 lít), nằm lệch sang trái sau cơ hoành. Cơ vòng thượng vị của dạ dày luôn đóng chặt và chỉ mở khi nuốt, khiến thức ăn đã vào dạ dày không thể trào ngược ra thực quản, do đó ngựa không có hiện tượng ợ nhai lại và hầu như không nôn mửa; nếu ngựa đau bụng có triệu chứng nôn mửa thường là dấu hiệu vỡ dạ dày hoặc vỡ hoành cách mô. Ruột già phát triển mạnh, đặc biệt là manh tràng dài 100 - 110 cm, dung tích 35 - 40 lít, giữ vai trò chủ yếu trong việc lên men phân giải chất xơ nhờ hệ vi sinh vật; kết tràng (đại tràng) dài 6 - 6,5 m, dung tích 80 - 90 lít; gan không có túi mật, dịch mật được các tiểu thùy tiết thẳng vào tá tràng; lượng nước bọt tiết ra mỗi ngày đêm đạt 30 - 40 lít.
  • Cơ chế bệnh sinh của 3 hội chứng bệnh nội khoa nghiên cứu:
    • Hội chứng đau bụng (Colic): Do rối loạn cơ chế thần kinh điều hòa nhu động ruột và co thắt cơ trơn dạ dày - ruột, phát sinh khi gia súc lao tác nặng ngay sau khi ăn no, uống nước lạnh, thức ăn kém phẩm chất, bội thực, tích phân gây táo bón, dãn dạ dày cấp tính hoặc biến vị ruột (xoắn ruột, lồng ruột, sa ruột).
    • Bệnh viêm phổi: Bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp do liên cầu khuẩn phế viêm và song cầu khuẩn (vi khuẩn Gram dương) thường trực trong đường hô hấp bùng phát khi sức đề kháng giảm sút, đặc biệt vào giai đoạn giao mùa cuối thu chuyển sang mùa đông lạnh ẩm.
    • Hội chứng tiêu chảy: Quá trình bệnh lý phức tạp bắt nguồn từ sự phối hợp giữa tác nhân môi trường (thời tiết thay đổi đột ngột, thức ăn ôi thiu), sự suy giảm miễn dịch và các vi sinh vật đường ruột như vi khuẩn (Escherichia coli, Salmonella spp., Clostridium perfringens), virus (Rotavirus, Coronavirus), nấm mốc sinh độc tố Aflatoxin, cùng các loài ký sinh trùng đường tiêu hóa.

Phương pháp nghiên cứu thực tế đã áp dụng:

  • Phương pháp điều tra dịch tễ học: Thu thập số liệu thứ cấp từ sổ sách theo dõi của Ban thú y xã Dương Thành và Hợp tác xã chăn nuôi ngựa Bạch làng Phẩm; phỏng vấn trực tiếp chủ hộ chăn nuôi bằng phiếu điều tra về quy mô đàn, tiền sử dịch bệnh, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng và khẩu phần thức ăn; ghi nhận số ca ngựa mắc bệnh và tỷ lệ chết.
  • Phân nhóm điều tra dịch tễ:
    • Phân nhóm lứa tuổi: chia làm 4 nhóm gồm dưới 1 tuổi, 1 - 3 tuổi, trên 3 - 5 tuổi và trên 5 tuổi.
    • Phân loại điều kiện vệ sinh thú y nông hộ: Mức Tốt (chuồng trại cao ráo, thoáng mát mùa hè, ấm áp mùa đông, có rãnh thoát nước, máng ăn uống sạch sẽ); Mức Trung bình (không dọn phân hàng ngày, lưu phân vài ngày, máng ăn cọ rửa 1 - 2 lần/tuần); Mức Kém (chuồng trại lưu phân hàng tuần, không cọ rửa máng ăn uống, rau xanh không rửa trước khi cho ăn).
  • Phương pháp chẩn đoán lâm sàng: Khám lâm sàng toàn diện bằng các kỹ thuật quan sát triệu chứng đặc trưng (dáng đứng, phản xạ đau, trạng thái phân, dịch mũi, tính chất ho, tần số hô hấp, niêm mạc mắt, nhịp tim) kết hợp cố định gia súc trong gióng để đo thân nhiệt trực tràng, sờ nắn vùng bụng và thăm khám trực tràng.
  • Phương pháp theo dõi và đánh giá hiệu quả can thiệp: Ghi nhận số lượng gia súc tiếp nhận điều trị, theo dõi diễn biến triệu chứng qua các ngày và tính toán tỷ lệ khỏi bệnh (%) theo từng phác đồ thuốc thú y thực tế.

Nguồn dữ liệu của đề tài:

  • Số liệu sơ cấp từ quá trình trực tiếp theo dõi dịch tễ và điều trị trên đàn ngựa Bạch 130 con tại 4 xóm làng Phẩm.
  • Số liệu thống kê từ Báo cáo tổng kết công tác sản xuất nông nghiệp năm 2013 của Ủy ban nhân dân xã Dương Thành.
  • Dữ liệu chuyên khảo bệnh học nội khoa và dược lý thú y từ các công trình nghiên cứu của Đặng Đình Hanh, Cao Văn, Hồ Văn Nam, Trần Minh Châu, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Thị Kim Lan, Phạm Ngọc Thạch và các tác giả nước ngoài.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Công tác phục vụ sản xuất

Nội dung phần này phản ánh toàn diện hoạt động thực tập nghề nghiệp của sinh viên tại địa bàn xã Dương Thành trong 6 tháng:

  • Kết quả điều tra điều kiện cơ bản: Xã Dương Thành có diện tích tự nhiên 748,41 ha (đất sản xuất nông nghiệp chiếm 573,21 ha, đất lâm nghiệp 25,49 ha, đất nuôi trồng thủy sản 16,08 ha). Dân số toàn xã là 7.354 người gồm 4 dân tộc sinh sống (Kinh, Tày, Nùng, Dao), phân bố tại 20 xóm; trong đó hơn 78% số hộ tham gia sản xuất nông nghiệp. Năm 2013, tổng sản lượng lương thực cây có hạt của xã đạt 3.917,82 tấn (đạt 106,5% kế hoạch huyện giao), bình quân lương thực đạt 532 kg/người/năm. Tổng đàn gia súc, gia cầm tại địa phương gồm có khoảng 8.000 con lợn (lợn thịt chiếm 2/3), 1.300 con trâu bò (bò chiếm 2/3), 170.000 con gia cầm và 200 - 250 con ngựa (ngựa Bạch có 150 - 180 con).
  • Công tác tổ chức mạng lưới thú y: Ban thú y xã được thành lập từ năm 2000, cơ cấu gồm 8 cán bộ (1 trưởng ban và 7 thành viên trình độ trung cấp, sơ cấp), phụ trách mạng lưới thú y viên tại 20 xóm và quản lý 01 tủ thuốc thú y do Trạm thú y huyện Phú Bình trang bị.
  • Kết quả thực hiện công tác kỹ thuật chăn nuôi: Tham gia phối giống trực tiếp cho 2 cá thể ngựa Bạch cái động dục đạt kết quả an toàn; hướng dẫn kỹ thuật nuôi dưỡng ngựa Bạch với khẩu phần bổ sung 1 kg ngô bột trộn theo tỷ lệ 6 bột ngô / 2 thóc vào buổi chiều kết hợp chế độ chăn thả ngoài bãi 2 lần/ngày (sáng từ 7h00 đến 10h30, chiều từ 14h00 đến 17h30).
  • Kết quả công tác thú y lâm sàng và dịch tễ (Bảng 1.1 trong văn bản):
    • Công tác tiêm phòng: Tiêm vacxin tụ huyết trùng trâu bò cho 50 con (liều 2 ml/con); tiêm phòng ký sinh trùng đường máu bằng thuốc Azidin cho 40 con ngựa (liều 1 lọ 1,18 g pha 7 ml nước cất tiêm cho 300 kg thể trọng); tiêm vacxin keo phèn phòng tụ huyết trùng lợn cho 102 con (liều 2 ml/con); tiêm vacxin Newcastle cho 750 con gà sinh sản lúc 65 ngày tuổi; tẩy ký sinh trùng đường tiêu hóa bằng Hanmectin-25 cho 30 con trâu bò. Tất cả các ca tiêm phòng đạt tỷ lệ an toàn 100%.
    • Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh gia súc: Trực tiếp điều trị khỏi bệnh giun đũa lợn 32/32 con (bằng Levamisol 7,5% hoặc Hanmectin-25); điều trị viêm phổi lợn khỏi 15/17 con (đạt 88,2% bằng Lincomycin 10% kết hợp Complex); điều trị phân trắng lợn con do E. coli khỏi 32/32 con (bằng Marphamox LA kết hợp Gluco-K-C-Namin); chữa viêm tử cung lợn khỏi 6/6 con (thụt rửa Penicilline kết hợp tiêm Gentatylo); chữa ghẻ lợn do Sarcoptes suis khỏi 4/4 con (tiêm Hanmectin-25); chữa chướng hơi dạ cỏ ở bò khỏi 2/2 con (xoa bóp rơm, cho uống nước gừng tỏi, Magie sulfat 200 - 500 g, trợ tim bằng Cafein 10 - 15 ml).
    • Điều trị các bệnh trên đàn ngựa: Tiêu chảy ngựa khỏi 7/7 con (100% bằng Hamcolis liều 1 ml/10 kg thể trọng kết hợp B.complex 5 ml/con); tiên mao trùng ngựa khỏi 5/5 con (100% bằng tiêm tĩnh mạch Naganin liều 0,01 - 0,015 g/kg thể trọng sau khi trợ sức Cafein); viêm phổi ngựa khỏi 10/10 con (100% bằng HanGen-Tylo liều 15 ml/150 kg thể trọng kết hợp Complex); hội chứng đau bụng ngựa khỏi 2/2 con (100% bằng Atropin 0,1% liều 4 ml/100 kg thể trọng kết hợp Novocain 2% tiêm tĩnh mạch 15 ml/con và thuốc nhuận tràng - thông mật).
    • Hoạt động thủ thuật ngoại khoa: Thiến 35 lợn đực con an toàn 100%; tiêm bổ sung Dextran-Fe phòng thiếu máu cho 25 lợn con giai đoạn 3 - 10 ngày tuổi; đỡ đẻ thành công cho 3 đàn lợn và 3 ca ngựa Bạch sinh sản; thiến 2 mèo đực an toàn.

Phần 2: Chuyên đề nghiên cứu khoa học

Chương này tập trung giải quyết mục tiêu chuyên môn về tình hình bệnh nội khoa trên đàn ngựa Bạch tại địa bàn:

  • Khảo sát biến động đàn ngựa Bạch qua 4 năm (2011 - 2014) tại 4 xóm làng Phẩm (Bảng 2.5): Quy mô đàn ngựa Bạch tăng trưởng liên tục từ 105 con (năm 2011) lên 119 con (năm 2012), 125 con (năm 2013) và đạt 130 con vào năm 2014. Sự phân bố đàn ngựa giữa các thôn có sự chênh lệch rõ rệt nhưng giữ cơ cấu ổn định qua các năm: xóm Phẩm 1 luôn chiếm tỷ lệ cao nhất (năm 2014 đạt 38 con, chiếm 29,2%), tiếp đến là xóm Phẩm 2 (34 con, chiếm 26,2%), xóm Phẩm 3 (30 con, chiếm 23,1%) và thấp nhất là xóm Phẩm 4 (28 con, chiếm 21,5%).
  • Tỷ lệ mắc một số bệnh nội khoa trên tổng đàn 130 con ngựa Bạch theo dõi (Bảng 2.6):
    • Bệnh viêm phổi có tỷ lệ mắc cao nhất trong nhóm bệnh nội khoa, ghi nhận 10 con mắc trên 130 con theo dõi, chiếm tỷ lệ 7,7%. Bệnh thường bộc lộ rõ khi thời tiết thay đổi đột ngột, mưa rét kéo dài.
    • Bệnh tiêu chảy đứng thứ hai với 7 con mắc trên 130 con theo dõi, chiếm tỷ lệ 5,4%.
    • Hội chứng đau bụng có tỷ lệ mắc thấp nhất với 2 con mắc trên 130 con theo dõi, chiếm tỷ lệ 1,5%.
  • Triệu chứng lâm sàng ghi nhận trên đàn ngựa Bạch mắc bệnh:
    • Ngựa viêm phổi: Sốt cao, ho từng tiếng (ho nhiều vào ban đêm và sáng sớm), chảy dịch mũi (ban đầu dịch trong, sau chuyển sang dịch nhầy mủ trắng đục hoặc vàng dính quanh rìa lỗ mũi), niêm mạc mắt đỏ nhiều dử, con vật thở khó và mệt mỏi.
    • Ngựa tiêu chảy: Con vật kém ăn, giảm vận động, phân ban đầu sệt nhão không đóng viên, sau đó chuyển sang tháo lỏng vọt cần câu gây mất nước và gầy sút.
    • Ngựa đau bụng: Biểu hiện bồn chồn đứng ngồi không yên, cào đất bằng chân trước, quay đầu nhìn bụng, lấy chân sau đá vào bụng, nằm xuống duỗi thẳng chân rồi đứng dậy thận trọng, có cơn lăn lộn giãy giụa co giật cơ.
  • Biện pháp can thiệp và hiệu quả điều trị: Sử dụng kháng sinh kết hợp thuốc điều trị triệu chứng, trợ sức và điều chỉnh hộ lý chuồng trại đã mang lại hiệu quả khỏi bệnh 100% đối với cả 3 nhóm bệnh nội khoa được can thiệp lâm sàng trên đàn ngựa Bạch.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp các kết quả thực nghiệm và số liệu dịch tễ học cụ thể qua các bảng số liệu sau:

Bảng 1: Biến động số lượng đàn ngựa Bạch tại xã Dương Thành (2011 - 2014)

STT Địa bàn Năm 2011 (SL - con) Năm 2011 (TL - %) Năm 2012 (SL - con) Năm 2012 (TL - %) Năm 2013 (SL - con) Năm 2013 (TL - %) Năm 2014 (SL - con) Năm 2014 (TL - %)
1 Xóm Phẩm 1 31 29,52 34 28,57 37 29,60 38 29,20
2 Xóm Phẩm 2 28 26,66 30 25,21 33 26,40 34 26,20
3 Xóm Phẩm 3 24 22,86 29 24,37 28 22,40 30 23,10
4 Xóm Phẩm 4 22 20,95 26 21,85 27 21,60 28 21,50
Tổng Toàn xã 105 100,00 119 100,00 125 100,00 130 100,00

Bảng 2: Tỷ lệ mắc một số bệnh nội khoa trên đàn ngựa Bạch theo dõi (n = 130)

STT Tên bệnh nội khoa Số ngựa theo dõi (con) Số ngựa mắc bệnh (con) Tỷ lệ mắc (%)
1 Viêm phổi 130 10 7,70
2 Tiêu chảy 130 7 5,40
3 Đau bụng 130 2 1,50

Bảng 3: Kết quả điều trị các bệnh nội khoa trên đàn ngựa Bạch

STT Bệnh điều trị Thuốc và phác đồ sử dụng Số con điều trị Số con khỏi Tỷ lệ khỏi (%)
1 Viêm phổi HanGen-Tylo (15 ml/150 kg TT, tiêm bắp) phối hợp B.complex (5 ml/con) 10 10 100,00
2 Tiêu chảy Hamcolis (1 ml/10 kg TT, tiêm bắp 1 lần/ngày x 3 ngày) phối hợp B.complex (5 ml/con) 7 7 100,00
3 Đau bụng Atropin 0,1% (4 ml/100 kg TT) + Novocain 2% (15 ml/con tiêm tĩnh mạch) + Thuốc nhuận tràng - thông mật (10 g pha 15 g/lít nước uống) 2 2 100,00

Các giải pháp và kiến nghị được tác giả đề xuất:

  • Giải pháp kỹ thuật chăn nuôi: Hướng dẫn người dân cho ngựa ăn đúng giờ, định lượng khẩu phần thức ăn thô tinh hợp lý (không cho ăn quá no ngay trước hoặc sau khi làm việc nặng); không dùng thức ăn nấm mốc hoặc nguồn nước ao tù đọng; định kỳ xoa chải chăm sóc da lông và che chắn giữ ấm chuồng trại trong mùa đông nhằm giảm thiểu tác nhân gây viêm phổi và đau bụng.
  • Giải pháp thú y phòng bệnh: Triển khai tiêm phòng định kỳ ký sinh trùng đường máu bằng Azidin và tẩy ký sinh trùng đường tiêu hóa bằng Hanmectin-25; theo dõi sức khỏe thường xuyên nhằm phát hiện sớm các rối loạn tiêu hóa và hô hấp.
  • Kiến nghị với cơ sở địa phương:
    • Nâng cao năng lực và phát huy vai trò của mạng lưới cán bộ thú y cơ sở tại 20 xóm.
    • Vận động người chăn nuôi đầu tư trang thiết bị, cải tạo chuồng trại đúng quy chuẩn vệ sinh thú y, đảm bảo cao ráo và thoát nước tốt.
    • Thường xuyên mở các lớp tập huấn kỹ thuật chuyển giao tiến bộ khoa học về chăn nuôi và phòng trị bệnh cho nhân dân trong xã.
    • Khuyến khích các hộ chăn nuôi quy mô lớn xây dựng hầm khí sinh học (biogas) để xử lý chất thải, bảo vệ môi trường sinh thái.

Đóng góp của nghiên cứu:

  • Khóa luận cung cấp số liệu thực tế về cơ cấu đàn và thực trạng bệnh lý nội khoa trên đàn ngựa Bạch tại Hợp tác xã chăn nuôi ngựa Bạch làng Phẩm - vùng chăn nuôi ngựa Bạch trọng điểm của tỉnh Thái Nguyên.
  • Khẳng định tính hiệu quả và khả năng ứng dụng thực địa của các phác đồ điều trị nội khoa thông thường (Hamcolis, HanGen-Tylo, Atropin, Novocain) trong việc khống chế các bệnh viêm phổi, tiêu chảy và hội chứng đau bụng trên đàn ngựa Bạch, đạt tỷ lệ chữa khỏi 100% trong phạm vi khảo sát.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Phạm vi thời gian nghiên cứu thực tế kéo dài gần 6 tháng (từ tháng 12/2013 đến cuối tháng 5/2014), chưa bao quát trọn vẹn chu kỳ thời tiết 12 tháng trong năm, đặc biệt là giai đoạn cao điểm mùa mưa lũ (tháng 6, 7, 8) vốn có lượng mưa lớn nhất và ẩm độ không khí cao tại xã Dương Thành.
  • Địa bàn khảo sát thực nghiệm tập trung chủ yếu vào đàn ngựa Bạch của 4 xóm làng Phẩm, chưa mở rộng ra toàn bộ các hộ chăn nuôi phân tán ở 16 xóm còn lại trong xã.
  • Phương pháp chẩn đoán dựa hoàn toàn vào khám lâm sàng và điều tra dịch tễ học thực địa; đề tài chưa có điều kiện thực hiện các xét nghiệm vi sinh vật học chuyên sâu trong phòng thí nghiệm (như nuôi cấy phân lập vi khuẩn, giám định virus gây tiêu chảy hoặc kháng sinh đồ) để định danh chính xác chủng vi sinh vật gây bệnh.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Kéo dài thời gian theo dõi liên tục trong nhiều năm để đánh giá chính xác biến động dịch tễ học của các bệnh nội khoa theo mùa vụ và thời tiết giao mùa.
  • Thực hiện xét nghiệm vi sinh và ký sinh trùng học chuyên sâu nhằm xác định rõ căn nguyên phân tử của các chủng vi khuẩn phế viêm và vi khuẩn đường ruột gây bệnh trên đàn ngựa Bạch tại địa phương, làm cơ sở xây dựng quy trình phòng trị chuẩn hóa.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận là tài liệu tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y, Bác sĩ thú y thực hành tại các cơ sở đào tạo nông - lâm nghiệp khi nghiên cứu về đặc điểm giải phẫu, sinh lý gia súc dạ dày đơn ăn cỏ và phương pháp chẩn đoán lâm sàng trên đại gia súc.
  • Cán bộ thú y cơ sở, cán bộ khuyến nông và các chủ trang trại chăn nuôi ngựa Bạch tại các tỉnh miền núi, trung du phía Bắc có nhu cầu tra cứu về tập quán nuôi dưỡng, quy trình chăn thả và định lượng khẩu phần thức ăn bổ sung cho ngựa sinh sản.
  • Tài liệu cung cấp các thông tin cụ thể về liều lượng, đường dùng của các loại thuốc thú y phổ biến (Azidin, Hanmectin-25, Naganin, HanGen-Tylo, Hamcolis, Atropin, Novocain) đã được kiểm chứng lâm sàng trong điều kiện chăn nuôi nông hộ.

Câu hỏi thường gặp

1. Quy mô đàn ngựa Bạch tại xã Dương Thành biến động như thế nào trong giai đoạn 2011 - 2014? Theo số liệu điều tra tại 4 xóm làng Phẩm, đàn ngựa Bạch tăng trưởng liên tục qua các năm: năm 2011 có 105 con, năm 2012 tăng lên 119 con, năm 2013 đạt 125 con và đến năm 2014 đạt 130 con (tăng 25 con so với năm 2011). Trong đó, xóm Phẩm 1 luôn có số lượng ngựa Bạch lớn nhất (38 con năm 2014, chiếm 29,2%), xóm Phẩm 4 có số lượng ít nhất (28 con năm 2014, chiếm 21,5%).

2. Trong số các bệnh nội khoa khảo sát trên đàn ngựa Bạch, bệnh nào có tỷ lệ mắc cao nhất? Trên tổng số 130 con ngựa Bạch được theo dõi, bệnh viêm phổi có tỷ lệ mắc cao nhất với 10 con mắc, chiếm tỷ lệ 7,7%. Tiếp theo là bệnh tiêu chảy với 7 con mắc (5,4%) và thấp nhất là hội chứng đau bụng với 2 con mắc (1,5%).

3. Tác giả đã sử dụng phác đồ điều trị cụ thể nào cho bệnh viêm phổi và tiêu chảy trên đàn ngựa Bạch?

  • Đối với bệnh viêm phổi: Tiêm bắp HanGen-Tylo với liều lượng 15 ml/150 kg thể trọng, kết hợp tiêm trợ sức bằng Complex liều 5 ml/con. Kết quả điều trị khỏi 10/10 con (đạt 100%).
  • Đối với bệnh tiêu chảy: Tiêm bắp Hamcolis liều 1 ml/10 kg thể trọng (ngày tiêm 1 lần, liên tục trong 3 ngày) kết hợp tiêm trợ lực B.complex liều 5 ml/con/lần. Kết quả điều trị khỏi 7/7 con (đạt 100%).

4. Tại sao cấu tạo giải phẫu đường tiêu hóa của ngựa khiến chúng dễ mắc hội chứng đau bụng và nguy cơ tử vong cao? Ngựa có dạ dày đơn dung tích tương đối nhỏ (15 - 20 lít) nhưng cơ vòng thượng vị co thắt rất chặt, thức ăn vào dạ dày không thể ợ lên nhai lại và ngựa hầu như không thể nôn mửa; manh tràng và kết tràng có thể tích rất lớn (manh tràng 35 - 40 lít, kết tràng 80 - 90 lít) với nhiều khúc gấp. Khi thức ăn lên men sinh hơi, ứ đọng hoặc ruột bị xoắn vặn, áp lực xoang bụng tăng mạnh ép lên cơ hoành và các cơ quan nội tạng khác gây rối loạn tuần hoàn, ngạt thở hoặc dẫn đến vỡ dạ dày gây tử vong nhanh chóng.

5. Trong công tác phục vụ sản xuất tại địa phương, sinh viên đã thực hiện những hoạt động chuyên môn thú y nào khác? Sinh viên đã tham gia tiêm phòng vacxin tụ huyết trùng trâu bò (50 con), tụ huyết trùng lợn (102 con), tiêm phòng Newcastle gà (750 con), tiêm phòng ký sinh trùng máu cho ngựa bằng Azidin (40 con); điều trị thành công các bệnh giun đũa lợn (32 con), phân trắng lợn con (32 con), viêm tử cung lợn (6 con), ghẻ lợn (4 con), chướng hơi dạ cỏ ở bò (2 con), tiên mao trùng ngựa bằng Naganin (5 con); thực hiện thiến 35 lợn đực, tiêm Dextran-Fe cho 25 lợn con và đỡ đẻ an toàn cho 3 ca ngựa Bạch sinh sản.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Quốc Bảo đã phản ánh chi tiết thực trạng dịch tễ học và bệnh lý lâm sàng của 3 bệnh nội khoa thường gặp (viêm phổi, tiêu chảy, đau bụng) trên đàn ngựa Bạch tại Hợp tác xã chăn nuôi ngựa Bạch làng Phẩm, xã Dương Thành, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Công trình cung cấp số liệu thực tế về sự gia tăng quy mô đàn ngựa Bạch địa phương từ 105 con (năm 2011) lên 130 con (năm 2014) và xác định tỷ lệ mắc bệnh nội khoa dao động từ 1,5% đến 7,7%. Đồng thời, nghiên cứu đã kiểm chứng thành công các phác đồ điều trị nội khoa kết hợp nâng cao hộ lý chăm sóc, đạt tỷ lệ chữa khỏi 100% trên các ca bệnh thực nghiệm, đóng góp dữ liệu thực tiễn cho công tác chăn nuôi và bảo tồn đàn ngựa Bạch tại địa phương.