MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề t i Đất nước đang trong thời kỳ hội nhập đòi hỏi các chủ thể kinh tế, các ngành, các thành phần kinh tế không ngừng phát triển để tạo chỗ đứng của mình trên thị trường trong nước và thị trường quốc tế. Trong xu thế chung đòi hỏi ngành chăn nuôi không ngừng vươn cao, để tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao cung cấp cho người tiêu dùng trong và ngoài nước. Đặc biệt khi Việt Nam gia nhập WTO đã mở ra cho nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành chăn nuôi Việt Nam nói riêng những mặt thuận lợi đ ng thời gặp không t những khó khăn.
Việt Nam đang trên đà phát triển nhưng với đặc thù là một nước đi lên từ sản xuất nông nghiệp, với hơn 80% dân số hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, với nhiều ngành nghề khác nhau. Trong đó đã và đang nâng dần tỉ trọng của ngành chăn nuôi trong nông nghiệp, ngành chăn nuôi đã cung cấp những sản phẩm cho người tiêu dùng như: thịt, trứng, sữa. Ngoài ra ngành chăn nuôi là ngu n nguyên liệu để sản xuất phân bón, thức ăn gia súc và các sản phẩm khác. Lợn là loài được nuôi nhiều nhất ở Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng Ninh nói riêng.
Theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Quảng Ninh về kết quả chăn nuôi giai đoạn 2010 - 2014 [7], Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Ninh (2014) [48], trong những năm gần đây, số lượng đàn lợn trong cả nước nói chung và tỉnh Quảng Ninh nói riêng có sự tăng lên đáng kể hàng năm. Năm 2010 tổng đàn lợn là 354.454 con thì đến năm 2014 là 374.916 con tốc độ tăng trưởng bình quân là 1,49% năm. Với vai trò cung cấp lượng thực phẩm lớn nhất cho con người, thịt lợn luôn chiếm tỷ lệ cao, cũng theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Quảng Ninh về kết quả chăn nuôi giai đoạn 2010 - 2014 [7], Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 2 Quảng Ninh (2014) [48], tổng sản phẩm thịt lợn các loại năm 2010 là 30.272 tấn thì đến năm 2014 là 68. Nhận thấy vai trò quan trọng của ngành chăn nuôi lợn đối với con người và xã hội, ộ Nông nghiệp và PTNT (2008) [2], đã định hướng phát triển đàn lợn ở Việt Nam như sau: “Phấn đấu đến năm 2015 tổng đàn lợn của Việt Nam đạt 32,9 triệu con và đến năm 2020 đạt 34,7 triệu con.
Tổng sản lượng thịt hơi xuất chu ng đến năm 2015 đạt 3,9 triệu tấn và con số này sẽ tăng lên 4,8 triệu tấn năm 2020” Mặc dù được coi là một trong những ngành chủ lực của sản xuất nông nghiệp nhưng chăn nuôi lợn vẫn gặp không t khó khăn, những khó khăn mà ngành chăn nuôi lợn gặp phải đó ch nh là việc quản lý chất lượng thức ăn, chất lượng thuốc thú y lưu thông trên thị trường cũng như quản lý con giống. Những hạn chế này ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển chăn nuôi lợn. Tuy nhiên, dịch bệnh vẫn là nỗi lo ngại lớn nhất của người chăn nuôi vì bệnh tật làm cho con vật giảm khả năng sinh trưởng, phát triển, giảm sức đề kháng và làm giảm hiệu quả kinh tế. Đứng trước vấn đề dịch bệnh, các trại chăn nuôi và nông hộ đã áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào công tác phòng và trị bệnh cho đàn vật nuôi, bệnh giun sán gây ra hầu như chưa được quan tâm đúng mức.
Việt Nam là một nước nằm trong khu vực kh hậu nhiệt đới nóng ẩm nên có khu hệ ký sinh trùng phong phú và đa dạng, gây nhiều bệnh ký sinh trùng cho đàn gia súc, gia cầm. Trong các bệnh ký sinh trùng ở lợn, bệnh giun đũa lợn là một bệnh khá phổ biến, gây thiệt hại đáng kể cho chăn nuôi lợn, tỷ lệ mắc bệnh của đàn có thể lên tới 80 - 90% (Bùi Quý Huy, 2006 [13]), giảm năng suất thịt đến 30% (Phan Địch Lân và cs, 2005 [35], Phạm Sỹ Lăng và cs, 2006 [31]). Mặt khác, sự truyền lây giun đũa lợn sang người đã được nhiều tác giả đề cập đến từ lâu, song, trong mấy năm trở lại đây người nhiễm ấu trùng giun đũa lợn thì khá phổ biến, gây lên hội chứng Loeffler và các phản ứng tăng dị ứng của cơ thể với các triệu chứng đặc trưng: thở khò khè, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 3 ho, sốt, tăng bạch cầu ưa eosin trong máu. Đây cũng là một vấn đề đáng quan tâm của bệnh ký sinh trùng truyền lây sang người nói chung và bệnh giun đũa lợn nói riêng trong giai đoạn hiện nay.
Lợn với nhiều hình thức chăn nuôi khác nhau (nuôi gia đình, nuôi tập trung), tuy nhiên trên thực tế chăn nuôi lợn còn gặp nhiều khó khăn, làm thế nào để đàn lợn khỏi bị bệnh, đặc biệt bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh giun đũa nói riêng? Hiện nay mạng lưới thú y cơ sở ngày càng được củng cố nhưng công tác khuyến nông tẩy giun sán cho lợn chưa được chú trọng do hình thức chăn nuôi nhỏ l , thiếu tập chung đã gây khó khăn cho công tác của cán bộ thú y cơ sở, ch nh vì vậy mà tỉ lệ nhiễm giun đũa ở lợn khá cao. Từ nhận thức trên, để góp phần hạn chế tác hại của bệnh giun đũa gây ra trên đàn lợn, xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn sản xuất trên cơ sở thừa kế kết quả của các tác giả trong và ngoài nước, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu bệnh giun đũa lợn (Ascariosis) tại một số địa phương của tỉnh Quảng Ninh và biện pháp phòng trị”. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, đặc điểm bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh giun đũa lợn (Ascariosis). Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ của bệnh giun đũa lợn tại một số địa phương thuộc tỉnh Quảng Ninh, về khả năng t n tại và phát triển của trứng giun đũa ở ngoại cảnh, về đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của bệnh, về biện pháp phòng trị bệnh có hiệu quả.
Ý nghĩa thực tiễn Đề ra những biện pháp phòng và điều trị bệnh giun đũa lợn có hiệu quả, hạn chế sự nhiễm giun đũa cho lợn, từ đó hạn chế những thiệt hại do bệnh gây ra. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 4 Chư ng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. C sở khoa học của đề t i 1. Đặc điểm sinh học của giun đũa Ascaris suum 1.
Vị trí của giun đũa Ascaris suum trong hệ thống phân loại động vật Giun đũa lợn là những giun tròn thuộc họ Ascarididae (bộ phụ Ascaridata), loài Ascaris suum. Chúng ký sinh và gây bệnh giun đũa ở lợn. Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [66], giun đũa lợn Ascaris suum có vị tr trong hệ thống phân loại động vật như sau: Lớp: Nematoda Rudolphi,1808 Phân lớp: Secernenea Linstow, 1905 ộ: Spirurida Chitwood,1933 Phân bộ: Ascaridata Skrjabin et Schulz, 1940 Họ: Ascarididae Baird, 1853 Phân họ: Ascaridoidea Railliet et Henry, 1915 Giống: Ascaris Linnaeus, 1758 Loài: Ascaris suum Goeze, 1782 1. Đặc điểm hình th i, kích thước, cấu tạo giun đũa lợn Ascaris suum a.
Đặc điểm hình th i, kích thước v cấu tạo giun đũa lợn Ascaris suum Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [28], giun đũa lợn thuộc họ Ascaridae, loài Ascaris suum ký sinh ở ruột non lợn: giun màu trắng sữa, hình ống, hai đầu hơi nhọn. Đầu giun đũa có 3 môi bao bọc quanh miệng (1 môi ở ph a lưng, 2 môi ở ph a bụng). Trên rìa môi có một hàng răng cưa rất rõ, cấu tạo của răng này rất khác nhau giữa hai loài giun đũa. Giun đực dài 12 - 22cm, đường k nh 2,7 - 3mm.
Đoạn đuôi cong về ph a bụng. Trên mặt bụng ở mỗi bên có từ 69 - 75 gai thịt, có 7 gai thịt sau hậu môn, những gai thịt xếp thành một hoặc hai hàng, một gai thịt l ở trước hậu môn. Con cái Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 5 dài từ 29 - 35cm, đường k nh 4 - 5mm, đoạn sau thẳng. Đuôi mang hậu môn về ph a bụng, hậu môn có hình dạng một cái khe ngang, bọc hai môi g lên, âm hộ có hình dáng một lỗ nhỏ, hình bầu dục ở về ph a bụng khoảng 1/3 đoạn trước thân.
Phân biệt giữa giun đực và giun cái là giun đực nhỏ, đuôi cong về mặt bụng, đuôi giun cái thẳng. Giun đực có hai gai giao hợp dài bằng nhau, khoảng cách 1,2 - 2mm, không có túi giao hợp. Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [20], Phan Địch Lân và cs (2005) [35], cấu tạo của răng cưa giữa hai loài giun đũa lợn và giun đũa người có sự khác nhau, hàng răng cưa của giun đũa người không rõ bằng răng cưa của giun đũa lợn. Giun đực dài 12 - 25 cm, đường k nh 3 mm.
Giun cái dài 30 - 35 cm, đường k nh 5 - 6 mm. Phân biệt giun đực và giun cái: giun đực nhỏ, đuôi cong về ph a bụng, đuôi giun cái thì thẳng. Giun đực có 2 gai giao hợp bằng nhau, dài khoảng 1,2 - 2 mm và không có túi giao hợp (Trịnh Văn Thịnh và cs, 1982 [60]) 1. Môi giun đũa lợn 2.
Đuôi giun đũa đực 3. Trứng Ascaris suum nh 1. nh th i giun đũa (Nguồn: Phạm Văn Khu , 1996 [20]) Theo Trịnh Văn Thịnh (1966) [55], Đào Trọng Đạt và cs (1996) [10] giun đũa lợn có hình thái, k ch thước như sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 6 Giun đũa thân dài, hình trụ, hai đầu thót mầu trắng sữa, thân cứng và đàn h i. Chóp đầu mang ba môi, bờ môi có răng cưa rất nhỏ, môi bọc lấy miệng, một môi ở ph a lưng, đáy môi có hai gai thịt; hai môi kia ở giữa ph a cạnh và bụng và chỉ có một gai thịt.
Con đực dài 15 đến 20 cm, đường k nh từ 3,2 đến 4,4 mm. Đoạn đuôi cong về ph a bụng mang hai gai giao hợp ngắn, bằng nhau, hơi cong. Trên mặt bụng ở mỗi bên có từ 69 đến 75 gai thịt, có 7 gai thịt sau hậu môn, những gai thịt xếp thành một hoặc hai hàng, một gai thịt l ở trước hậu môn. Con cái dài từ 20 đến 30 cm, đường k nh từ 5 đến 6 mm, đoạn sau thẳng.
Đuôi mang hậu môn về ph a bụng (ở gần chóp đuôi). Hậu môn có hình dạng một cái khe ngang, bọc hai môi g lên.