Tổng quan nghiên cứu
Khu vực miền núi phía Tây tỉnh Quảng Nam là địa bàn cư trú lâu đời của đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó người Cơ Tu chiếm hơn 92% dân số huyện Tây Giang (tương đương 16.052 người trên tổng số 17.541 dân). Theo số liệu thống kê năm 2014, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo toàn huyện Tây Giang lên tới 58,26%, với mức thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt khoảng 12 triệu đồng/năm. Tại xã Bhalee – địa bàn giáp ranh trực tiếp với Khu bảo tồn loài Sao La (Saola Nature Reserve - SNR), tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo chiếm xấp xỉ 57% trên tổng số 556 hộ dân (2.603 nhân khẩu). Đặc biệt, tại ba thôn vùng đệm khảo sát gồm A tép 1, A tép 2 và Tà Lăng, tỷ lệ nghèo và cận nghèo trung bình lên tới 63,16%.
Vấn đề nghiên cứu cốt lõi nảy sinh từ tháng 7 năm 2012, khi Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam ban hành Quyết định số 2265/QĐ-UBND chính thức thành lập Khu bảo tồn loài Sao La với diện tích hàng nghìn hecta rừng đặc dụng. Việc thực thi nghiêm ngặt các quy định bảo tồn theo Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg và Nghị định số 117/2010/NĐ-CP đã cấm hoàn toàn các hoạt động canh tác nương rẫy, săn bắt động vật hoang dã và khai thác lâm sản phụ trong vùng lõi. Điều này tạo ra một cú sốc sinh kế trực diện đối với người Cơ Tu – cộng đồng vốn có tập quán sống dựa vào rừng từ bao đời.
Mục tiêu của nghiên cứu nhằm phân tích bối cảnh dễ bị tổn thương, đánh giá thực trạng năm nguồn vốn sinh kế (tự nhiên, con người, vật chất, tài chính, xã hội), đo lường tác động của các chính sách bảo tồn đến đời sống cộng đồng, và đề xuất giải pháp hài hòa giữa phát triển sinh kế bền vững với bảo tồn đa dạng sinh học. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng và định tính chuẩn xác cho các nhà hoạch định chính sách công trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế vùng đệm rừng đặc dụng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn ứng dụng Khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework - SLF) do Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID, 1999) ban hành làm nền tảng lý thuyết chủ đạo. Khung SLF tiếp cận đời sống người nghèo thông qua mối quan hệ tương tác giữa bối cảnh dễ bị tổn thương (vulnerability context), ngũ giác vốn sinh kế (livelihood assets), cấu trúc và quy trình chuyển đổi (transforming structures and processes), chiến lược sinh kế (livelihood strategies) và kết quả sinh kế (livelihood outcomes).
Nghiên cứu tập trung giải phẫu 5 nguồn vốn sinh kế cốt lõi:
- Vốn con người (Human capital): Trình độ học vấn, kỹ năng canh tác, năng lực lao động và tình trạng sức khỏe của các thành viên trong hộ gia đình.
- Vốn tự nhiên (Natural capital): Quỹ đất sản xuất nông nghiệp, đất nương rẫy và quyền tiếp cận tài nguyên rừng tự nhiên.
- Vốn vật chất (Physical capital): Nhà ở, tư liệu sản xuất, phương tiện sinh hoạt và cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi, điện sinh hoạt.
- Vốn tài chính (Financial capital): Thu nhập bình quân hàng năm, nguồn thu từ lâm sản, tích lũy tiền mặt và khả năng tiếp cận vốn vay tín dụng chính sách.
- Vốn xã hội (Social capital): Mạng lưới quan hệ họ hàng, sự gắn kết làng bản truyền thống và mức độ tham gia vào các đoàn thể chính trị - xã hội địa phương.
Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp Lý thuyết quản trị tài nguyên chung (Common-Pool Resource Governance) của Elinor Ostrom nhằm luận giải cơ chế đồng quản lý rừng giữa cộng đồng bản địa và cơ quan kiểm lâm.
Phương pháp nghiên cứu
Để thu thập dữ liệu sơ cấp, tác giả triển khai nghiên cứu thực địa trong thời gian 3 tuần tại 3 thôn vùng đệm (A tép 1, A tép 2, Tà Lăng). Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích (purposive stratified sampling) được áp dụng trên tổng thể 171 hộ gia đình. Cỡ mẫu khảo sát gồm 35 hộ (chiếm tỷ lệ 20,47% tổng số hộ), bao gồm 20 hộ nghèo, 3 hộ cận nghèo và 12 hộ không nghèo, đảm bảo tính đại diện cao cho các tầng lớp dân cư.
Công cụ thu thập dữ liệu đa dạng bao gồm:
- Khảo sát bảng hỏi hộ gia đình (Household surveys): Thực hiện phỏng vấn sâu 35 chủ hộ với bộ câu hỏi chuẩn hóa về tài sản, thu nhập, chi tiêu và lịch thời vụ.
- Thảo luận nhóm tập trung (Focus Group Discussions - FGDs): Tổ chức 3 phiên thảo luận chuyên sâu với nhóm lao động nam giới – đối tượng chịu tác động nặng nề nhất khi các hoạt động lâm nghiệp truyền thống bị cấm.
- Phỏng vấn bán cấu trúc (Semi-structured interviews): Tiến hành phỏng vấn lãnh đạo Ban quản lý Khu bảo tồn loài Sao La, Huyện ủy Tây Giang, UBND xã Bhalee, già làng và kiểm lâm viên địa bàn.
Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Niên giám thống kê huyện Tây Giang năm 2014, các báo cáo kinh tế - xã hội của xã Bhalee và các văn bản chính sách lâm nghiệp như Nghị định 99/2011/NĐ-CP, Quyết định 24/2012/QĐ-TTg, Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel, kết hợp phương pháp thống kê mô tả (descriptive statistics) và thống kê so sánh (comparative statistics) để phân tích sự chênh lệch nguồn lực giữa các nhóm hộ.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Kết quả phân tích định lượng và định tính chỉ ra 4 phát hiện quan trọng về thực trạng sinh kế của người Cơ Tu vùng đệm Khu bảo tồn loài Sao La:
Thứ nhất, tồn tại sự thiếu hụt trầm trọng ở 4 trên 5 nguồn vốn sinh kế (con người, tự nhiên, vật chất, tài chính), trong khi vốn xã hội là điểm sáng duy nhất. Về vốn con người, tỷ lệ mù chữ ở nhóm nghèo và cận nghèo là 12,9%, tỷ lệ bỏ học lên tới 19% (gấp đôi nhóm không nghèo ở mức 10%), và chỉ có 12% thành viên nhóm nghèo đạt trình độ trung học phổ thông so với 35% ở nhóm không nghèo. 92% lao động từng được tập huấn kỹ thuật chăn nuôi nhưng có tới 80% không thể áp dụng do thiếu vốn đầu tư chuồng trại và thức ăn.
Thứ hai, việc thành lập Khu bảo tồn loài Sao La đã làm suy giảm nghiêm trọng vốn tự nhiên và làm đảo lộn cơ cấu thu nhập. Diện tích đất sản xuất nông nghiệp bình quân của nhóm nghèo giảm 18% (từ 3,33 ha xuống 2,73 ha) và nhóm không nghèo giảm 23% (từ 3,34 ha xuống 2,57 ha) do đất nương rẫy nằm trong ranh giới bảo tồn bị thu hồi. Tỷ trọng thu nhập từ việc khai thác lâm sản phụ và săn bắt động vật rừng đã sụt giảm mạnh mẽ từ mức 66% trước năm 2012 xuống chỉ còn 20% sau khi khu bảo tồn đi vào hoạt động.
Thứ ba, khoảng cách phân hóa giàu nghèo thể hiện rõ qua vốn tài chính và vật chất. Thu nhập bình quân hàng năm của nhóm hộ không nghèo đạt khoảng 60 triệu đồng/hộ, cao gấp 3 lần so với nhóm hộ nghèo và cận nghèo (chỉ đạt khoảng 18 - 20 triệu đồng/hộ). 100% hộ nghèo chỉ sở hữu nhà bán kiên cố (vách gỗ, mái tôn) và công cụ sản xuất thô sơ (dao, cuốc, gùi). Toàn bộ 3 thôn chỉ có duy nhất 1 máy tuốt lúa cơ giới trên mỗi thôn.
Thứ tư, hành vi sử dụng tín dụng chưa gắn liền với đầu tư sinh kế trực tiếp. Mặc dù 75% số hộ tiếp cận được nguồn vốn vay chính sách từ Ngân hàng Chính sách Xã hội (46%) và Agribank (37%), nhưng có tới 60% tổng nguồn vốn vay được sử dụng vào việc xây dựng nhà ở kiên cố, 17% mua bò giống, 14% trang trải chi phí học tập cho con cái và chỉ 3% đầu tư mở cửa hàng dịch vụ.
Thảo luận kết quả
Thực trạng suy giảm nguồn thu từ rừng đòi hỏi sự xuất hiện của các nguồn sinh kế thay thế. Số liệu khảo sát cho thấy sau khi thành lập khu bảo tồn, nguồn thu từ trồng cây cao su, keo lai (chiếm 35% cơ cấu thu nhập mới với 51% số hộ tham gia) và tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định số 99/2011/NĐ-CP (chiếm 25-30% thu nhập với 68% số hộ tham gia tổ bảo vệ rừng) đã từng bước bù đắp khoảng trống tài chính.
Khi biểu diễn các dữ liệu này trên đồ thị radar ngũ giác sinh kế, sự bất đối xứng giữa nhóm nghèo và không nghèo hiển hiện rõ nét: nhóm không nghèo vượt trội ở trục vốn con người và tài chính nhờ có thành viên làm cán bộ xã hoặc hưởng chế độ thương binh, trong khi nhóm nghèo bị thắt chặt ở mọi nguồn lực ngoại trừ vốn xã hội (65% hộ tham gia các đoàn thể nông dân, phụ nữ). Trên biểu đồ cột phân tầng cơ cấu thu nhập, sự dịch chuyển từ kinh tế hái lượm tự nhiên sang kinh tế trồng rừng sản xuất và nhận khoán khoanh nuôi bảo vệ rừng minh chứng cho khả năng thích ứng ban đầu của cộng đồng bản địa.
Kết quả nghiên cứu hoàn toàn tương đồng với các phát hiện của Nguyen Thi Minh Phuong (2012) khi nghiên cứu người Ê-đê tại Đắk Lắk về nút thắt vốn con người, cũng như củng cố nhận định của Nguyen Xuan Vinh (2014) tại Cà Mau về các cú sốc sinh kế khi áp dụng quy chế bảo tồn nghiêm ngặt. Đồng thời, nghiên cứu tái khẳng định kết luận của MacMillan & Nguyen (2013) rằng nếu không có giải pháp kinh tế thỏa đáng, áp lực khai thác rừng lén lút vẫn sẽ tiếp diễn do người dân không còn lựa chọn sinh kế nào khả dĩ hơn.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên các kết quả phân tích thực chứng, luận văn kiến nghị hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm đảm bảo sinh kế bền vững và nâng cao hiệu quả bảo tồn:
-
Thiết lập cơ chế đồng quản lý rừng (Forest Co-management) tại vùng đệm:
Ban quản lý Khu bảo tồn loài Sao La chủ trì phối hợp với UBND huyện Tây Giang và cộng đồng 3 thôn xây dựng quy chế cho phép người dân khai thác có kiểm soát 5 loại lâm sản phụ tái sinh nhanh (đót, mây gai, mật ong rừng, nấm hương, ba kích tím) theo mùa vụ. Mục tiêu nâng thu nhập từ lâm sản phụ hợp pháp lên 25% vào giai đoạn 2016-2018 mà không xâm hại đến cấu trúc rừng nguyên sinh.
-
Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi gắn với chuỗi giá trị:
Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Tây Giang cùng Trạm Khuyến nông triển khai mô hình thâm canh lúa nước, mở rộng diện tích trồng chuối bản địa và cây dược liệu ba kích dưới tán rừng sản xuất. Hỗ trợ 50% kinh phí con giống và vật liệu làm chuồng (dây kẽm B40, tôn lợp) cho 100% hộ nghèo đăng ký nuôi bò, heo đen lai thả vườn, hoàn thành chỉ tiêu chuyển đổi trong giai đoạn 2016-2017.
-
Cải cách cơ chế tín dụng chính sách và định hướng vốn sản xuất:
Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Tây Giang phối hợp với Hội Nông dân và Hội Phụ nữ xã Bhalee cơ cấu lại mục đích vay vốn. Đưa ra gói tín dụng ưu đãi lãi suất 0% cho phát triển sinh kế hộ gia đình, phấn đấu nâng tỷ trọng vốn vay phục vụ chăn nuôi và trồng trọt từ mức 20% hiện nay lên trên 55% tổng dư nợ trong giai đoạn 2016-2020.
-
Đẩy nhanh tiến độ chi trả dịch vụ môi trường rừng và đào tạo nghề phi nông nghiệp:
Quỹ Bảo vệ và Phát triển Rừng tỉnh Quảng Nam phối hợp với Ban quản lý Khu bảo tồn giải ngân đầy đủ, minh bạch tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định 99/2011/NĐ-CP, đảm bảo 100% hộ dân vùng đệm ký hợp đồng nhận khoán bảo vệ rừng với mức chi trả bình quân đạt trên 15 triệu đồng/hộ/năm trước năm 2018. Đồng thời, tổ chức các lớp đào tạo nghề tiểu thủ công nghiệp (dệt thổ cẩm Cơ Tu) và dịch vụ du lịch sinh thái cộng đồng.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị tham khảo thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:
- Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia: Cung cấp khung phương pháp đánh giá tác động sinh kế vùng đệm, giúp các nhà quản lý lâm nghiệp thiết kế các chương trình bảo tồn dựa vào cộng đồng và mô hình tuần tra rừng có sự tham gia của người dân bản địa.
- Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách địa phương: Giúp Sở Nông nghiệp & PTNT, Ban Dân tộc, UBND cấp huyện và xã tại các tỉnh miền núi xây dựng kế hoạch phân bổ nguồn lực thuộc Chương trình 30a, Chương trình 135 và Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới một cách hiệu quả, tránh đầu tư dàn trải vào hạ tầng cứng.
- Học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành: Cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực về ứng dụng Khung sinh kế bền vững (SLF) của DFID trong nghiên cứu định lượng - định tính đối với đồng bào dân tộc thiểu số tại Việt Nam.
- Các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và điều phối viên dự án phát triển: Hỗ trợ các tổ chức quốc tế như WWF, ADB, Malteser International trong việc thiết kế các can thiệp dự án về bảo tồn đa dạng sinh học, bình đẳng giới và phát triển sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu tại khu vực Trung Trường Sơn.
Câu hỏi thường gặp
Khung sinh kế bền vững DFID được vận dụng như thế nào trong nghiên cứu này?
Nghiên cứu sử dụng khung SLF để giải phẫu cấu trúc 5 nguồn vốn sinh kế của người Cơ Tu, phân tích bối cảnh dễ bị tổn thương khi thành lập Khu bảo tồn Sao La năm 2012, và đánh giá tác động của các chính sách chuyển đổi (Nghị định 99/2011/NĐ-CP, Quyết định 24/2012/QĐ-TTg) đến kết quả thoát nghèo của cộng đồng.
Việc thành lập Khu bảo tồn loài Sao La ảnh hưởng ra sao đến thu nhập của người Cơ Tu?
Quy chế bảo tồn nghiêm ngặt khiến nguồn thu từ việc khai thác lâm sản phụ và săn bắt của người Cơ Tu sụt giảm mạnh từ 66% xuống còn 20% tổng thu nhập. Tuy nhiên, sự xuất hiện của tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng và mô hình trồng cao su đã bước đầu bù đắp khoảng 35% thu nhập mới.
Vì sao người Cơ Tu tại xã Bhalee gặp nhiều khó khăn trong việc chuyển đổi nghề nghiệp?
Nguyên nhân xuất phát từ nút thắt vốn con người với tỷ lệ mù chữ 12,9%, tỷ lệ bỏ học 19% và thiếu hụt kỹ năng phi nông nghiệp. Thêm vào đó, địa bàn vùng sâu vùng xa hiểm trở khiến thị trường việc làm tại chỗ kém phát triển, khiến 91% lực lượng lao động vẫn phải phụ thuộc vào nông lâm nghiệp.
Mô hình đồng quản lý rừng đề xuất mang lại lợi ích cụ thể gì cho công tác bảo tồn?
Mô hình đồng quản lý cho phép người dân khai thác bền vững các loại lâm sản phụ có khả năng tái sinh (đót, mây, mật ong) dưới sự giám sát của kiểm lâm. Điều này vừa giúp cải thiện thu nhập cộng đồng lên 25%, vừa biến người dân thành lực lượng bảo vệ rừng tích cực, giảm thiểu xung đột xã hội.
Thực trạng tiếp cận và sử dụng nguồn vốn tín dụng chính sách tại địa phương như thế nào?
Khoảng 75% hộ dân khảo sát đã tiếp cận được vốn vay từ Ngân hàng Chính sách Xã hội và Agribank. Tuy nhiên, hiệu quả sinh kế chưa cao do 60% nguồn vốn vay bị dồn vào việc xây cất nhà ở thay vì đầu tư trực tiếp vào mở rộng sản xuất, mua con giống hoặc thâm canh cây trồng.
Kết luận
- Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng sinh kế của cộng đồng người Cơ Tu tại 3 thôn vùng đệm Khu bảo tồn loài Sao La, huyện Tây Giang thông qua khung lý thuyết SLF của DFID.
- Nghiên cứu chỉ ra sự thiếu hụt nghiêm trọng ở 4 nguồn vốn sinh kế (con người, tự nhiên, vật chất, tài chính), trong đó đất sản xuất nông nghiệp giảm từ 18% đến 23% và thu nhập từ rừng giảm từ 66% xuống 20%.
- Xác định nguyên nhân gốc rễ của tình trạng nghèo đói dai dẳng (tỷ lệ nghèo vùng đệm 63,16%) nằm ở trình độ học vấn thấp, thiếu kỹ năng sản xuất hiện đại và quy chế bảo tồn thiếu linh hoạt.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ giai đoạn 2016-2020 gồm thiết lập cơ chế đồng quản lý rừng, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, cải cách mục đích vay vốn tín dụng và đẩy mạnh chi trả dịch vụ môi trường rừng.
- Khẳng định bảo tồn thiên nhiên chỉ đạt hiệu quả bền vững khi quyền lợi sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số bản địa được tôn trọng, bảo đảm và kết hợp hài hòa trong mọi quyết sách phát triển kinh tế - xã hội.