Tổng quan nghiên cứu

Khu dự trữ thiên nhiên Mường Nhé, tỉnh Điện Biên có tổng diện tích quy hoạch 46.730,51 ha, đóng vai trò xung yếu trong phòng hộ đầu nguồn sông Đà và bảo tồn nguồn gen sinh vật quý hiếm vùng Tây Bắc. Tuy nhiên, khu vực vùng đệm hiện là nơi sinh sống của 4.602 hộ gia đình với 37.028 nhân khẩu thuộc các dân tộc Hà Nhì, Mông, Thái, Cống, Dao, Sán Chỉ. Đời sống của cộng đồng địa phương còn nhiều khó khăn khi tỷ lệ hộ nghèo tại xã Mường Nhé chiếm trên 67%, tạo ra áp lực sinh kế rất lớn lên tài nguyên rừng tự nhiên thông qua các hoạt động khai thác lâm sản, săn bắt động vật hoang dã và nguy cơ cháy rừng trong mùa khô hanh.

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là làm rõ hiện trạng tài nguyên sinh vật và thực trạng công tác quản lý, bảo vệ rừng tại Ban Quản lý Khu dự trữ thiên nhiên Mường Nhé. Đồng thời, đề tài đi sâu phân tích các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến công tác bảo tồn, từ đó xác lập cơ sở khoa học để đề xuất hệ thống giải pháp quản lý rừng bền vững phù hợp với điều kiện địa phương.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào toàn bộ lâm phần do Ban quản lý phụ trách và khảo sát chuyên sâu tại 3 xã vùng đệm trọng điểm gồm Sín Thầu, Mường Nhé và Nậm Kè trong khung thời gian từ tháng 12/2024 đến tháng 5/2025. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc hỗ trợ bảo tồn 1.086 loài thực vật và 459 loài động vật có xương sống, đồng thời hoàn thiện cơ chế chi trả 36.108,38 ha dịch vụ môi trường rừng nhằm giảm thiểu trên 50% các vụ vi phạm lâm luật trong tương lai.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết Quản lý Rừng Bền Vững (SFM) theo khuyến nghị của Tổ chức Gỗ Nhiệt đới Quốc tế (ITTO) và hệ thống tiêu chuẩn quốc gia do Văn phòng Chứng nhận Rừng Việt Nam (VFCO) ban hành. Khung lý thuyết này khẳng định quản trị rừng phải đảm bảo hài hòa giữa bảo tồn đa dạng sinh học, duy trì trữ lượng carbon, cải thiện sinh kế cộng đồng và giữ vững an ninh quốc phòng tại khu vực biên giới.

Đồng thời, đề tài tích hợp lý thuyết Giải pháp Dựa vào Tự nhiên (NbS) theo chuẩn của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN 2020) và mô hình Dự án Phát triển Bảo tồn Tích hợp (ICDPs). Các khái niệm then chốt được áp dụng xuyên suốt bao gồm: Quản lý rừng tự nhiên (NFM) với 7 nguyên tắc lâm sinh duy trì cây sinh cảnh và gỗ mục, Rừng đặc dụng (SUF), Phục hồi sinh thái (PHST) và Chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES). Theo báo cáo của các tổ chức quốc tế, nhu cầu đầu tư toàn cầu cho NbS cần đạt 384 tỷ USD mỗi năm vào năm 2025 và thị trường tín chỉ carbon rừng có tiềm năng đạt mốc 100 tỷ USD vào năm 2030, mở ra triển vọng tài chính bền vững cho các khu bảo tồn.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được kế thừa từ các báo cáo chuyên đề của Ban Quản lý Khu dự trữ thiên nhiên Mường Nhé, Niên giám thống kê huyện Mường Nhé năm 2024, Quyết định số 1199/QĐ-UBND của UBND tỉnh Điện Biên và các công trình khoa học chuyên ngành. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua 3 đợt khảo sát thực địa từ tháng 12/2024 đến tháng 5/2025.

Về phương pháp chọn mẫu, tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên kết hợp chủ đích tại 8 bản thuộc xã Mường Nhé (gồm bản Đoàn Kết, Nậm Pắc, Si Ma, Pá Lùng, Xà Quế, Nậm Khum, Nậm Sin, Nậm Vì). Tại mỗi bản, đề tài chọn 6 hộ gia đình đại diện đầy đủ cho 3 nhóm kinh tế: hộ khá, hộ trung bình và hộ nghèo/cận nghèo thuộc các thành phần dân tộc thiểu số. Tổng cỡ mẫu khảo sát trực tiếp là 48 hộ gia đình. Lý do lựa chọn cỡ mẫu và phương pháp này nhằm đảm bảo tính đại diện cao, phản ánh trung thực mối tương quan giữa thu nhập hộ gia đình và mức độ phụ thuộc vào tài nguyên rừng. Ngoài ra, nghiên cứu tổ chức 8 cuộc thảo luận nhóm trọng tâm (mỗi nhóm 6-7 người) và phỏng vấn sâu cán bộ kiểm lâm địa bàn, lãnh đạo UBND xã.

Số liệu thu thập được xử lý bằng các phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp so sánh định tính và định lượng, giúp đánh giá toàn diện cơ cấu 46.730,51 ha rừng đặc dụng và xác định chính xác các điểm nghẽn trong công tác quản lý bảo tồn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu xác nhận tính đa dạng sinh học rất cao tại Khu dự trữ thiên nhiên Mường Nhé với 1.086 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 640 chi, 178 họ của 5 ngành thực vật. Trong đó, có 119 loài quý hiếm gồm 33 loài trong Danh lục Đỏ IUCN, 51 loài trong Sách Đỏ Việt Nam và 39 loài thuộc phụ lục CITES, tiêu biểu với 3 loài cây đặc hữu bản địa là Sâng, Giổi găng và Chò chỉ. Về động vật, ghi nhận 459 loài thuộc các lớp thú, chim, bò sát, lưỡng cư với 113 loài nguy cấp quý hiếm (50 loài thuộc IUCN, 59 loài thuộc Sách Đỏ Việt Nam) và bổ sung 1 loài linh trưởng quý là Khỉ đuôi dài (Macaca fascicularis). Hệ côn trùng ghi nhận 300 loài với 2 loài bướm phượng quý hiếm.

Thứ hai, việc phân định ranh giới và quy hoạch 3 phân khu chức năng trên tổng diện tích 46.730,51 ha đã được định hình rõ nét. Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt chiếm 24.238,15 ha (tỷ lệ 51,87%), trong đó diện tích có rừng là 18.098,22 ha. Phân khu phục hồi sinh thái có diện tích 22.208,23 ha (tỷ lệ 47,52%), bao gồm 17.728,00 ha đất có rừng. Phân khu dịch vụ - hành chính chiếm 284,13 ha (tỷ lệ 0,61%) được bố trí tại tiểu khu 95A xã Chung Chải để phục vụ điều hành và phát triển du lịch sinh thái. Đơn vị đã hoàn thành di dời 12 hộ dân với 96 nhân khẩu bản Huổi Thanh 1 ra khỏi vùng lõi phân khu phục hồi sinh thái.

Thứ ba, công tác giao khoán bảo vệ rừng gắn với chi trả dịch vụ môi trường rừng đạt kết quả tích cực. Tổng diện tích thực hiện chi trả là 36.108,38 ha, trong đó diện tích giao khoán bảo vệ đạt 19.602,00 ha (chiếm 54,28%). Cụ thể, đã khoán cho 29 nhóm cộng đồng dân cư thuộc 28 bản với diện tích trên 14.000 ha và 13 nhóm lực lượng vũ trang (Đồn biên phòng, Công an, Quân sự xã) với diện tích trên 5.000 ha. Ban quản lý tự tổ chức bảo vệ 16.506,38 ha. Mức chi trả tạm ứng đạt 180.000 đồng/ha. Riêng năm 2018, các tổ nhận khoán đã thực hiện 431 đợt tuần tra với 4.852 lượt người tham gia.

Thứ tư, tình hình vi phạm lâm luật giai đoạn 2018-2020 đã giảm mạnh nhờ 137 buổi tuyên truyền (thu hút 6.497 lượt người) và 15 lớp tập huấn. Lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 22 vụ vi phạm hành chính (gồm 8 vụ khai thác gỗ trái phép, 4 vụ phá rừng, 2 vụ đưa phương tiện cơ giới vào rừng trái phép, 4 vụ vi phạm quy định bảo vệ rừng, 3 vụ cất giữ lâm sản, 1 vụ vi phạm động vật rừng), thu nộp ngân sách nhà nước trên 45 triệu đồng. Năm 2019, đơn vị đã khởi tố 1 vụ án hình sự về tội hủy hoại rừng với tang vật tạm giữ là 27,918 m3 gỗ tròn nhóm IV. Cháy rừng được kiểm soát ở mức 4 vụ với tổng diện tích thiệt hại 7,957 ha rừng phục hồi.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ tròn biểu diễn cơ cấu phân khu chức năng (51,87% bảo vệ nghiêm ngặt, 47,52% phục hồi sinh thái, 0,61% hành chính) và bảng tổng hợp so sánh mức độ vi phạm lâm luật theo từng năm. Việc phân tích số liệu cho thấy nguyên nhân cốt lõi của các vụ vi phạm rừng xuất phát từ sức ép kinh tế của 37.028 cư dân vùng đệm, nơi mức sản xuất lương thực bình quân chỉ đạt 323,7 kg/người/năm và năng suất lúa đạt 62,5 tạ/ha.

Khi so sánh với các nghiên cứu bảo tồn tham gia tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha (Sơn La) hay mô hình quản lý rừng tại Thái Lan, kết quả tại Mường Nhé chứng minh rằng việc gắn kết quyền lợi tài chính qua giao khoán rừng là hướng đi đúng đắn. Tuy nhiên, mức hỗ trợ 180.000 đồng/ha hiện nay còn thấp so với công sức tuần tra trên địa hình hiểm trở có độ dốc trên 30 độ và đỉnh cao 1.892 m (Pu Pá Kun). Do đó, một bộ phận người dân vẫn còn tâm lý ỷ lại vào lực lượng chuyên trách, đòi hỏi phải có cơ chế chia sẻ lợi ích linh hoạt hơn.

Đề xuất và khuyến nghị

Để nâng cao hiệu quả quản lý rừng bền vững tại Khu dự trữ thiên nhiên Mường Nhé, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Nâng cao năng lực tuần tra và ứng dụng công nghệ giám sát số: Ban Quản lý Khu dự trữ thiên nhiên Mường Nhé cần trang bị máy định vị GPS, phần mềm giám sát SMART và thiết lập hệ thống bẫy ảnh tự động tại 100% các tiểu khu trọng điểm thuộc 24.238,15 ha phân khu bảo vệ nghiêm ngặt. Mục tiêu hoàn thành lắp đặt và đào tạo kỹ thuật cho 100% cán bộ kiểm lâm trong giai đoạn 2025-2027 nhằm giảm 80% tình trạng khai thác trộm gỗ quý.

  2. Mở rộng cơ chế giao khoán và đa dạng hóa nguồn tài chính: Ban quản lý phối hợp với Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Điện Biên rà soát, nâng tỷ lệ giao khoán lên 100% đối với toàn bộ 36.108,38 ha diện tích rừng đủ điều kiện chi trả dịch vụ môi trường rừng trước quý IV/2026. Đồng thời, xây dựng hồ sơ tham gia thị trường tín chỉ carbon tự nguyện (VCMs) để bổ sung nguồn thu ngân sách khoảng 15-20% mỗi năm cho công tác bảo vệ rừng.

  3. Phát triển sinh kế bền vững và nông lâm kết hợp vùng đệm: UBND huyện Mường Nhé phối hợp cùng các xã Sín Thầu, Mường Nhé, Nậm Kè triển khai mô hình trồng bổ sung các loài cây bản địa có giá trị cao (Chò chỉ, Giổi găng, Sâng) và phát triển dược liệu dưới tán 22.208,23 ha rừng phục hồi sinh thái. Mục tiêu đến năm 2028 nâng thu nhập bình quân của 4.602 hộ dân vùng đệm thêm 25%, giảm triệt để tình trạng phá rừng làm nương rẫy.

  4. Đẩy mạnh truyền thông cộng đồng và hoàn thiện quy ước bản: Phối hợp cùng chính quyền cơ sở tổ chức định kỳ tối thiểu 50 buổi tuyên truyền và 5 lớp tập huấn mỗi năm cho trên 2.500 lượt người dân. Hoàn thiện việc ký cam kết bảo vệ rừng và lồng ghép quy chế quản lý rừng đặc dụng vào hương ước của toàn bộ 78 bản vùng đệm trước năm 2026.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Ban quản lý các Khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia: Cán bộ quản lý có thể sử dụng khung phương pháp phân vùng chức năng trên 46.730,51 ha và kinh nghiệm điều hành 29 tổ nhận khoán cộng đồng để áp dụng cho đơn vị mình.
  • Cơ quan Kiểm lâm và Sở Nông nghiệp & MPTNT các tỉnh miền núi: Cung cấp nguồn tư liệu thực chứng về quy trình xử lý 22 vụ vi phạm lâm luật, hỗ trợ xây dựng chính sách phòng chống phá rừng và quản lý lâm phận vùng biên giới.
  • Các nhà khoa học, giảng viên và sinh viên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng: Cung cấp cơ sở dữ liệu phong phú về 1.086 loài thực vật bậc cao và 459 loài động vật có xương sống phục vụ nghiên cứu đa dạng sinh học và sinh thái rừng nhiệt đới.
  • Các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và đơn vị phát triển quốc tế: Sử dụng các phát hiện khảo sát từ 48 hộ dân để thiết kế các dự án tài trợ sinh kế NbS, chi trả dịch vụ hệ sinh thái và bảo tồn nguồn gen nguy cấp tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Khu dự trữ thiên nhiên Mường Nhé có quy mô diện tích và phân khu chức năng như thế nào? Tổng diện tích tự nhiên được giao quản lý là 46.730,51 ha, phân bổ tại huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Diện tích được chia thành 3 phân khu: Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 24.238,15 ha (chiếm 51,87%), Phân khu phục hồi sinh thái 22.208,23 ha (chiếm 47,52%) và Phân khu dịch vụ - hành chính 284,13 ha (chiếm 0,61%).

Giá trị đa dạng sinh học nổi bật tại Mường Nhé được ghi nhận gồm những gì? Khu dự trữ ghi nhận 1.086 loài thực vật bậc cao có mạch (với 119 loài quý hiếm, gồm 3 loài bản địa đặc hữu là Sâng, Giổi găng, Chò chỉ) và 459 loài động vật có xương sống (113 loài nguy cấp quý hiếm như Khỉ đuôi dài, gấu, báo), cùng 300 loài côn trùng.

Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại khu bảo tồn đạt kết quả ra sao? Tổng diện tích thực hiện chính sách là 36.108,38 ha, trong đó đã giao khoán 19.602,00 ha cho 29 nhóm cộng đồng dân cư và 13 nhóm lực lượng vũ trang với mức tạm ứng 180.000 đồng/ha. Hoạt động này huy động được 4.852 lượt người tham gia tuần tra rừng trong năm 2018.

Nguyên nhân chính dẫn đến các vụ xâm hại tài nguyên rừng tại Mường Nhé là gì? Nguyên nhân chủ yếu do áp lực sinh kế của 37.028 nhân khẩu vùng đệm với tỷ lệ nghèo cao trên 67% tại xã trọng điểm. Mức lương thực bình quân chỉ đạt 323,7 kg/người/năm khiến người dân vẫn duy trì tập quán khai thác lâm sản và canh tác nương rẫy ven rừng.

Đâu là giải pháp đột phá để quản lý rừng bền vững tại Mường Nhé trong tương lai? Giải pháp đột phá là kết hợp ứng dụng công nghệ số (GPS, phần mềm SMART) trong giám sát 24.238,15 ha vùng lõi, đồng thời phát triển sinh kế dưới tán 22.208,23 ha rừng phục hồi và tiếp cận thị trường tín chỉ carbon quốc tế nhằm tăng nguồn lực tài chính bền vững.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa hiện trạng tài nguyên sinh vật phong phú với 1.086 loài thực vật và 459 loài động vật quý hiếm tại Khu dự trữ thiên nhiên Mường Nhé.
  • Đánh giá toàn diện cơ cấu quy hoạch 46.730,51 ha rừng đặc dụng và hiệu quả thực thi chính sách giao khoán 19.602,00 ha cho cộng đồng địa phương.
  • Phân tích sâu sắc các mắt xích xung đột giữa nhu cầu sinh kế của 4.602 hộ dân vùng đệm và yêu cầu bảo tồn nghiêm ngặt của lâm phận.
  • Đóng góp hệ thống giải pháp đồng bộ gồm công nghệ giám sát, hoàn thiện cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng, phát triển sinh kế nông lâm kết hợp và củng cố thể chế cộng đồng.
  • Lộ trình thực thi tiếp theo cần tập trung số hóa dữ liệu tuần tra và triển khai các mô hình kinh tế dưới tán rừng trong giai đoạn 2025-2030.

Nghiên cứu là tài liệu tham khảo khoa học giá trị cho các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lý lâm nghiệp và các nhà khoa học bảo tồn thiên nhiên. Hãy áp dụng ngay các giải pháp quản lý rừng bền vững để bảo vệ lá phổi xanh đầu nguồn Tây Bắc!