Tổng quan nghiên cứu

Năm 2024, ngành chế biến và xuất khẩu gỗ Việt Nam ghi nhận sự bứt phá mạnh mẽ với kim ngạch xuất khẩu ước đạt 16,25 tỷ USD, tăng trưởng 20,3% so với năm 2023. Dù đối mặt với các rào cản thương mại khắt khe như Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) và Đạo luật Lacey, ngành công nghiệp này vẫn khẳng định vị thế trụ cột trong nền kinh tế quốc gia. Khu vực miền núi phía Bắc đóng vai trò là vùng nguyên liệu lâm sản trọng điểm khi sở hữu khoảng 1,5 triệu ha rừng, chiếm 40% tổng diện tích rừng trồng sản xuất của cả nước. Đây là sinh kế chính của hơn 0,7 triệu hộ gia đình và là địa bàn hoạt động của 778 doanh nghiệp chế biến gỗ, đóng góp 839 triệu USD vào giá trị xuất khẩu bình quân mỗi năm.

Tuy nhiên, nghịch lý lớn hiện nay là nguồn cung gỗ trong nước vẫn chưa đáp ứng đủ yêu cầu khắt khe của các dòng sản phẩm nội thất cao cấp. Phần lớn các chương trình chọn giống lâm nghiệp tại Việt Nam từ thập niên 1990 đến nay chủ yếu tập trung vào tốc độ sinh trưởng mà thiếu vắng các tiêu chí về tính chất cơ lý gỗ. Thực trạng này dẫn đến chất lượng nguồn gỗ nguyên liệu không đồng đều, độ bền chịu lực biến động lớn. Bên cạnh đó, các phương pháp kiểm tra chất lượng gỗ truyền thống thường mang tính phá hủy cơ học, tiêu tốn nhiều thời gian và chi phí, gây lãng phí vật liệu.

Luận văn thạc sĩ lâm học của tác giả Lò Văn Toản, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Dương Văn Đoàn tại Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, đã giải quyết trực tiếp khoảng trống thực tiễn này. Nghiên cứu thực hiện đánh giá đặc điểm sinh trưởng và kiểm chứng khả năng ứng dụng công nghệ sóng siêu âm không phá hủy để dự đoán nhanh độ bền nén dọc thớ của ba loài cây lấy gỗ chủ lực gồm Thông mã vĩ, Tếch và Keo tai tượng tại các tỉnh Cao Bằng, Sơn La và Thái Nguyên trong giai đoạn 2024 - 2025. Kết quả mở ra hướng đi đột phá trong việc tối ưu hóa công tác chọn tạo giống và phân loại nguyên liệu đầu vào cho ngành công nghiệp chế biến gỗ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng của lý thuyết cơ học gỗ và cơ học vật liệu dị hướng. Gỗ là vật liệu composite tự nhiên có tính dị hướng cao với cấu trúc sợi định hướng theo không gian ba chiều: dọc thớ (Longitudinal - L), xuyên tâm (Radial - R) và tiếp tuyến (Tangential - T). Các tính chất cơ lý của gỗ phụ thuộc mật thiết vào cấu trúc giải phẫu vách tế bào, hàm lượng cellulose, lignin và tỷ lệ thể tích rỗng. Hai khái niệm cốt lõi được ứng dụng để định lượng chất lượng gỗ là khối lượng riêng xác định theo tiêu chuẩn TCVN 8048-2:2009 và giới hạn độ bền nén dọc thớ quy định theo tiêu chuẩn TCVN 8048-5:2009.

Cơ sở thứ hai là lý thuyết lan truyền sóng âm trong môi trường đàn hồi liên tục. Vận tốc truyền sóng phụ thuộc trực tiếp vào mật độ vật chất và mô đun đàn hồi động lực học của môi trường truyền qua. Khi sóng siêu âm truyền qua mẫu gỗ, thời gian truyền sóng phản ánh mức độ liên kết vi mô và độ rỗng của cấu trúc sợi. Nghiên cứu thiết lập mô hình tính toán mô đun đàn hồi uốn tĩnh động lực học ký hiệu là Eu dựa trên tích số giữa khối lượng riêng và bình phương vận tốc truyền sóng dọc thớ. Mô hình hồi quy tuyến tính được thiết lập nhằm lượng hóa mối quan hệ giữa các chỉ số không phá hủy này với độ bền nén thực tế.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thực nghiệm được thu thập từ tháng 10/2024 đến tháng 8/2025 trên ba lâm phần rừng trồng đã đạt tuổi khai thác tại miền núi phía Bắc. Đối tượng nghiên cứu gồm lâm phần Thông mã vĩ 24 tuổi tại xã Chí Viễn, tỉnh Cao Bằng; lâm phần Tếch 23 tuổi hình thành từ Chương trình 661 tại xã Chiềng Hặc, tỉnh Sơn La; và lâm phần Keo tai tượng 7 tuổi tại xã Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Phương pháp điều tra lâm sinh áp dụng kỹ thuật lập ô tiêu chuẩn điển hình kích thước 50 x 50 m tương đương diện tích 2.500 m² trên mỗi lâm phần. Toàn bộ 100% cây trong ô được đo đếm chi tiết gồm 152 cây Thông mã vĩ, 136 cây Tếch và 265 cây Keo tai tượng. Các chỉ tiêu đo gồm đường kính ngang ngực tại vị trí 1,3 m bằng thước dây chuyên dụng và chiều cao vút ngọn bằng thước đo cao Bruleis kết hợp sào tiêu chuẩn. Thể tích thân cây được tính theo công thức hình số giả định 0,48.

Phương pháp chọn mẫu phân tích cơ lý sử dụng kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên có chủ đích. Tại mỗi loài, nghiên cứu chọn 5 cây mẫu điển hình có đường kính xấp xỉ giá trị trung bình của ô tiêu chuẩn, thân cây thẳng đứng, tán cân đối và không khuyết tật sâu bệnh. Cây mẫu được chặt hạ để lấy một đoạn lóng thân dài 1 m ở vị trí từ 0,3 m đến 1,3 m sát gốc. Sau 2 tháng phơi khô tự nhiên có đảo đầu định kỳ, các lóng gỗ được gia công thành các mẫu thử chuẩn kích thước 20 x 20 x 40 mm. Mẫu được ổn định trong tủ vi khí hậu ở nhiệt độ 20°C và độ ẩm không khí 60% từ 1 đến 2 tháng cho đến khi đạt độ ẩm cân bằng 12% và khối lượng không đổi.

Vận tốc truyền sóng siêu âm qua ba chiều không gian của từng mẫu được đo lặp lại 5 lần bằng thiết bị chuyên dụng JPR-10CK kết hợp cảm biến tiếp xúc. Độ bền nén dọc thớ phá hủy được kiểm tra trên máy thử cơ tính vạn năng INSTRON. Toàn bộ dữ liệu được tổng hợp, kiểm định phân phối và mô hình hóa tương quan Pearson bằng phần mềm thống kê sinh học R phiên bản 3.4. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là đảm bảo tính đại diện thống kê cao ngoài hiện trường, đồng thời đối chứng chuẩn xác giữa phương pháp đo không phá hủy với các tiêu chuẩn cơ lý quốc gia bắt buộc.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Về sinh trưởng lâm phần, nghiên cứu ghi nhận sự khác biệt rõ nét về trữ lượng và tốc độ tích lũy sinh khối giữa ba loài cây. Thông mã vĩ 24 tuổi đạt thể tích thân cây bình quân lớn nhất với 0,44 m³/cây, đường kính bình quân đạt 25,2 cm và chiều cao vút ngọn bình quân đạt 18,4 m. Loài Tếch 23 tuổi đạt thể tích bình quân 0,35 m³/cây với đường kính 22,2 cm và chiều cao 18,9 m. Loài Keo tai tượng tuy mới 7 tuổi nhưng đã thể hiện tốc độ tăng trưởng vượt bậc với đường kính bình quân đạt 22,3 cm, chiều cao đạt 14,7 m và thể tích thân cây đạt 0,26 m³/cây. Tính bình quân, tốc độ tăng trưởng đường kính hàng năm của Keo tai tượng đạt xấp xỉ 3,19 cm/năm, cao gấp hơn 3 lần so với Thông mã vĩ đạt 1,05 cm/năm và Tếch đạt 0,97 cm/năm.

Về các chỉ tiêu cơ lý cơ bản, loài Tếch vượt trội về mật độ và sức chịu tải với khối lượng riêng trung bình đạt 0,65 g/cm³ và giới hạn độ bền nén dọc thớ đạt 57,91 MPa. Keo tai tượng xếp thứ hai với khối lượng riêng trung bình đạt 0,55 g/cm³ và độ bền nén dọc thớ đạt 49,48 MPa. Thông mã vĩ có khối lượng riêng trung bình 0,52 g/cm³ cùng độ bền nén dọc thớ đạt 43,75 MPa. Độ bền nén dọc thớ của gỗ Tếch cao hơn Thông mã vĩ tới 32,37% và cao hơn Keo tai tượng 17,04%.

Về vận tốc truyền sóng siêu âm, cả ba loài đều thể hiện tính dị hướng âm học rõ rệt theo quy luật vận tốc dọc thớ luôn lớn nhất, tiếp theo là hướng xuyên tâm và thấp nhất ở hướng tiếp tuyến. Cụ thể, ở loài Thông mã vĩ, vận tốc sóng dọc thớ đạt 3.968 m/s, gấp 1,96 lần hướng xuyên tâm đạt 2.018 m/s và gấp 2,42 lần hướng tiếp tuyến đạt 1.637 m/s. Ở loài Tếch, vận tốc dọc thớ đạt 4.173 m/s, gấp 2,43 lần hướng xuyên tâm đạt 1.715 m/s và gấp 2,92 lần hướng tiếp tuyến đạt 1.429 m/s. Ở loài Keo tai tượng, vận tốc dọc thớ đạt 4.062 m/s, tỷ số dị hướng đạt mức cao nhất khi vận tốc dọc thớ gấp 3,10 lần hướng xuyên tâm đạt 1.309 m/s và gấp 3,79 lần hướng tiếp tuyến đạt 1.071 m/s.

Về mô hình dự đoán độ bền, mối tương quan đơn biến giữa vận tốc dọc thớ với độ bền nén dọc thớ có sự phân hóa sâu sắc. Hệ số tương quan Pearson ở Thông mã vĩ đạt mức rất cao là 0,85, trong khi ở Keo tai tượng chỉ đạt 0,32 và Tếch đạt 0,26. Khi đưa thêm biến số khối lượng riêng vào mô hình thông qua chỉ số mô đun đàn hồi động lực học Eu, khả năng dự đoán tăng vọt ngoạn mục: hệ số tương quan ở Thông mã vĩ tăng lên mức 0,97 và Keo tai tượng tăng lên 0,76. Ngược lại, loài Tếch không ghi nhận sự cải thiện đáng kể khi hệ số tương quan chỉ dừng lại ở mức 0,28.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu thực nghiệm của nghiên cứu có thể được trực quan hóa sinh động qua các dạng biểu đồ chuyên dụng. Phân bố dị hướng vận tốc sóng âm nên được trình bày dưới dạng biểu đồ radar ba trục để thể hiện trực tiếp sự chênh lệch cơ học giữa các phương giải phẫu. Mối tương quan giữa mô đun đàn hồi động lực học Eu và độ bền nén dọc thớ được biểu diễn hiệu quả nhất qua đồ thị phân tán điểm kết hợp đường hồi quy tuyến tính kèm khoảng tin cậy 95%, giúp người đọc dễ dàng nhận diện độ hội tụ dữ liệu của Thông mã vĩ và Keo tai tượng so với độ phân tán của Tếch.

Nguyên nhân dẫn đến sự chênh lệch vận tốc truyền sóng giữa các hướng xuất phát trực tiếp từ cấu trúc tế bào học của gỗ. Theo phương dọc thớ, sóng âm di chuyển song song với các vi sợi cellulose trong vách tế bào thứ cấp dày và các khoang tế bào kéo dài, tạo ra điện trở kháng âm học thấp nhất và truyền tải cơ năng nhanh nhất. Ở hướng xuyên tâm, sự hiện diện của các dải tia gỗ chạy ngang đóng vai trò như những cầu nối cơ học hỗ trợ sóng âm lan truyền nhanh hơn so với hướng tiếp tuyến, nơi sóng âm phải liên tục vượt qua các ranh giới vòng sinh trưởng và vách tế bào mỏng.

Sự khác biệt về độ chính xác của mô hình dự đoán giữa các loài phản ánh tính chất phức tạp của cấu trúc giải phẫu gỗ lá kim và gỗ lá rộng. Thông mã vĩ là loài hạt trần có cấu trúc giải phẫu tương đối đồng nhất, chủ yếu là quản bào chiếm trên 90% thể tích, giúp sóng âm phản ánh trung thực mật độ và độ bền cơ lý. Ngược lại, Tếch là loài gỗ lá rộng mạch vòng, có sự phân hóa sâu sắc giữa gỗ sớm xốp và gỗ muộn đặc, đồng thời chứa hàm lượng chất chiết xuất, nhựa và khoáng cao trong tế bào lõi. Những yếu tố này làm tán xạ sóng âm và giảm độ nhạy của phép đo vận tốc đối với ứng suất nén thuần túy. Kết quả khối lượng riêng của Tếch đạt 0,65 g/cm³ trong nghiên cứu này tương thích chặt chẽ với các công bố quốc tế tại Lào đạt từ 0,66 đến 0,71 g/cm³ và tại Myanmar đạt 0,62 g/cm³. Đối với Keo tai tượng, độ bền nén bình quân 49,48 MPa phù hợp với các khảo sát cơ tính gỗ rừng trồng tại khu vực Đông Bắc.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuyển giao và ứng dụng công nghệ sóng siêu âm không phá hủy vào quy trình chọn giống cây lâm nghiệp lấy gỗ. Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam cùng các trung tâm nghiên cứu giống vùng cần trang bị thiết bị siêu âm cầm tay để đánh giá phẩm chất gỗ của các dòng vô tính và cây trội ngay tại hiện trường. Đặt mục tiêu nâng cao độ chính xác sàng lọc giống đạt trên 85%, đồng thời giảm 60% chi phí và thời gian so với phương pháp chặt hạ khảo nghiệm phá hủy truyền thống. Lộ trình thực hiện tập trung hoàn thiện trong giai đoạn 2025 - 2027.

Thứ hai, chuẩn hóa quy trình phân loại gỗ nguyên liệu tại các cơ sở chế biến gỗ rừng trồng. Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cùng cộng đồng 778 doanh nghiệp chế biến tại miền núi phía Bắc cần ban hành hướng dẫn kỹ thuật kiểm định nhanh bằng sóng siêu âm đối với gỗ tròn trước khi đưa vào cưa xẻ hoặc bóc ván. Áp dụng giải pháp này giúp phân loại chính xác các lóng gỗ có mô đun đàn hồi cao phục vụ sản xuất hàng nội thất chịu lực, hướng tới mục tiêu giảm tỷ lệ phế phẩm gỗ xẻ xuống dưới 8% và nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng gỗ thêm 15% trong giai đoạn 2026 - 2028.

Thứ ba, cơ cấu lại chu kỳ kinh doanh và kỹ thuật lâm sinh cho rừng trồng Keo tai tượng và Tếch. Chi cục Kiểm lâm các tỉnh Thái Nguyên, Sơn La, Cao Bằng cần hướng dẫn các chủ rừng chuyển đổi từ mô hình kinh doanh gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn. Đối với Keo tai tượng, cần kéo dài chu kỳ kinh doanh lên 10 đến 12 năm kết hợp tỉa thưa 2 lần để tận dụng tốc độ tăng trưởng nhanh, đạt đường kính trên 30 cm nhằm nâng cao độ bền nén dọc thớ. Đối với Tếch, cần xác lập lập địa trồng trên đất đá vôi giàu canxi, kiểm soát mật độ trồng 1.000 cây/ha và tỉa thưa đúng kỹ thuật để đạt tỷ lệ gỗ lõi trên 70%. Mục tiêu nâng tỷ lệ diện tích rừng gỗ lớn toàn vùng đạt tối thiểu 30% vào năm 2030.

Thứ tư, xây dựng cơ sở dữ liệu số quốc gia về đặc tính cơ lý gỗ không phá hủy. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì phối hợp với các trường đại học lâm nghiệp tiến hành chuẩn hóa bộ thông số vận tốc sóng siêu âm cho 20 loài cây rừng trồng phổ biến tại Việt Nam. Xây dựng phần mềm tích hợp thuật toán hồi quy giúp các đơn vị lâm nghiệp tra cứu và dự báo nhanh phẩm cấp gỗ tròn, hoàn thành cơ sở dữ liệu trước năm 2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà khoa học, giảng viên và nghiên cứu sinh chuyên ngành Lâm sinh, Quản lý tài nguyên rừng và Kỹ thuật chế biến lâm sản. Tài liệu cung cấp cơ sở phương pháp luận bài bản về thử nghiệm không phá hủy, bổ sung dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác về cấu trúc giải phẫu và đặc tính cơ lý của Thông mã vĩ, Tếch và Keo tai tượng phục vụ giảng dạy và mở rộng hướng nghiên cứu chuyên sâu.

Nhóm thứ hai là các nhà quản lý doanh nghiệp chế biến gỗ, kỹ sư kiểm soát chất lượng tại các nhà máy ván ép, đồ gỗ xuất khẩu. Nghiên cứu mang lại giải pháp công nghệ cụ thể để thiết lập hệ thống kiểm tra nhanh phẩm cấp gỗ nguyên liệu đầu vào bằng thiết bị đo xung âm, giúp tối ưu hóa công đoạn tuyển chọn gỗ, giảm thiểu sai sót kỹ thuật và gia tăng giá trị sản phẩm xuất khẩu.

Nhóm thứ ba là cán bộ quản lý tại các Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm lâm, ban quản lý rừng phòng hộ và các công ty lâm nghiệp vùng trung du miền núi phía Bắc. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn để quy hoạch vùng trồng, lựa chọn loài cây trồng rừng gỗ lớn thích hợp với điều kiện sinh thái từng tiểu vùng nhằm tối đa hóa hiệu quả đầu tư công.

Nhóm thứ tư là các chủ trang trại, hợp tác xã lâm nghiệp và hộ nông dân trồng rừng kinh tế quy mô lớn. Tài liệu giúp người trồng rừng nắm bắt các quy luật sinh trưởng, hiểu rõ giá trị của việc tỉa thưa đúng thời điểm và định hướng phát triển gỗ lớn chất lượng cao nhằm nâng cao doanh thu trên một đơn vị diện tích đất rừng.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao vận tốc truyền sóng siêu âm theo hướng dọc thớ luôn cao hơn hướng xuyên tâm và tiếp tuyến? Do cấu trúc giải phẫu của gỗ gồm các tế bào sợi và quản bào định hướng song song với trục thân cây. Các sợi vi cellulose sắp xếp trật tự theo chiều dọc tạo nên đường dẫn âm liên tục với mật độ liên kết cao nhất. Thực nghiệm cho thấy vận tốc dọc thớ ở Thông mã vĩ đạt tới 3.968 m/s, cao gấp 2,42 lần so với hướng tiếp tuyến chỉ đạt 1.637 m/s.

Công nghệ sóng siêu âm có thể thay thế hoàn toàn phương pháp nén phá hủy mẫu truyền thống hay không? Phương pháp sóng siêu âm không thay thế hoàn toàn mà đóng vai trò là công cụ dự báo và sàng lọc nhanh không phá hủy. Đối với Thông mã vĩ và Keo tai tượng, khi kết hợp khối lượng riêng để xác định mô đun đàn hồi động lực học Eu, độ chính xác dự đoán đạt hệ số tương quan rất cao từ 0,76 đến 0,97. Phương pháp phá hủy theo chuẩn TCVN vẫn cần thiết để hiệu chuẩn thiết bị ban đầu.

Vì sao mô hình dự đoán độ bền nén dọc thớ bằng sóng siêu âm ở cây Tếch lại có độ tin cậy thấp? Tếch là loài gỗ lá rộng có cấu trúc mạch vòng phức tạp, ranh giới giữa gỗ sớm và gỗ muộn phân hóa rất mạnh. Đồng thời, tâm gỗ Tếch chứa nhiều hợp chất chiết xuất, tinh dầu và khoáng chất gây nhiễu, làm tán xạ sóng âm. Do đó, hệ số tương quan giữa mô đun động Eu và độ bền nén dọc ở Tếch chỉ đạt 0,28, đòi hỏi phải phát triển mô hình phi tuyến tính phức tạp hơn.

Trong ba loài cây nghiên cứu, loài nào mang lại hiệu quả sinh khối gỗ nhanh nhất cho người trồng rừng? Keo tai tượng thể hiện ưu thế vượt trội về tốc độ sinh trưởng thể tích trong chu kỳ ngắn. Sau 7 năm trồng, đường kính ngang ngực bình quân đã đạt 22,3 cm và chiều cao đạt 14,7 m, tương đương kích thước thân cây của Thông mã vĩ và Tếch sau hơn 23 năm sinh trưởng. Do đó, Keo tai tượng là lựa chọn tối ưu cho mục tiêu thu hồi vốn nhanh và tạo sinh khối lớn.

Thiết bị đo sóng siêu âm có thể áp dụng trực tiếp trên thân cây đứng ngoài hiện trường rừng trồng hay không? Hoàn toàn có thể áp dụng ngoài hiện trường bằng cách sử dụng các đầu dò tiếp xúc dạng đinh gắn xuyên qua lớp vỏ tươi vào phần gỗ giác. Kỹ thuật này đã được kiểm chứng trong nhiều nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế, cho phép các kỹ sư lâm sinh đánh giá độ cứng và sức chịu tải của cây đứng mà không cần chặt hạ, giúp bảo tồn lâm phần tuyển chọn giống.

Kết luận

  • Luận văn đã cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm toàn diện về đặc tính sinh trưởng và các chỉ tiêu cơ lý cơ bản của ba loài cây lấy gỗ quan trọng tại khu vực miền núi phía Bắc gồm Thông mã vĩ, Tếch và Keo tai tượng.
  • Kết quả khẳng định gỗ Tếch có khối lượng riêng cao nhất đạt 0,65 g/cm³ và độ bền nén dọc thớ lớn nhất đạt 57,91 MPa, trong khi Keo tai tượng chứng minh ưu thế sinh trưởng vượt trội với tốc độ tăng trưởng đường kính đạt 3,19 cm/năm.
  • Công nghệ sóng siêu âm kết hợp khối lượng riêng tạo thành chỉ số mô đun đàn hồi động lực học Eu đã chứng minh khả năng dự đoán xuất sắc độ bền nén dọc thớ ở loài Thông mã vĩ với hệ số tương quan 0,97 và Keo tai tượng với hệ số 0,76.
  • Nghiên cứu chỉ ra tính dị hướng âm học rõ rệt của vật liệu gỗ rừng trồng với quy luật vận tốc truyền sóng dọc thớ luôn cao hơn từ 1,96 đến 3,79 lần so với hướng xuyên tâm và tiếp tuyến.
  • Phương pháp kiểm tra không phá hủy bằng sóng siêu âm mở ra giải pháp công nghệ tiên tiến giúp tiết kiệm trên 50% thời gian thử nghiệm, bảo toàn nguyên vẹn mẫu gỗ và hỗ trợ hiệu quả cho các chương trình chọn giống chất lượng cao.

Đóng góp cốt lõi của đề tài là xây dựng thành công luận cứ khoa học và công thức toán học thực nghiệm giúp chuyển đổi phương thức đánh giá cơ lý gỗ truyền thống sang công nghệ số hóa không phá hủy hiện đại. Kế hoạch tiếp theo trong giai đoạn 2025 - 2030 là mở rộng phạm vi đo đạc trên nhiều cấp tuổi rừng khác nhau và hoàn thiện phần mềm dự báo cơ tính gỗ phục vụ chuỗi cung ứng lâm sản. Các doanh nghiệp chế biến và đơn vị lâm nghiệp cần chủ động phối hợp với các cơ sở đào tạo chuyên ngành để ứng dụng ngay gói công nghệ này vào thực tiễn sản xuất nhằm tối ưu hóa giá trị chuỗi lâm sản Việt Nam.