Tổng quan nghiên cứu

Quyết định số 523/QĐ-TTg ngày 01/04/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050 đã đặt ra mục tiêu tăng trưởng giá trị sản xuất lâm nghiệp từ 5,0% đến 5,5%/năm. Kim ngạch xuất khẩu gỗ và lâm sản ngoài gỗ dự kiến đạt từ 18 đến 20 tỷ USD vào năm 2025 và nâng lên 23 đến 25 tỷ USD vào năm 2030, đồng thời giá trị thu nhập từ rừng trồng tăng gấp 1,5 lần vào năm 2025 và gấp 2 lần vào năm 2030 so với mốc năm 2020. Trong định hướng đó, cây Bồ đề (Styrax tonkinensis) là loài cây bản địa đa tác dụng sở hữu giá trị đặc biệt, nổi bật là nguồn nhựa cánh kiến trắng (benzoin hay an tức hương) được ứng dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp hóa mỹ phẩm, hương liệu và dược liệu quốc tế.

Mặc dù vậy, việc trồng rừng Bồ đề tại Việt Nam suốt nhiều năm qua chủ yếu chỉ hướng tới mục tiêu khai thác gỗ dăm sau chu kỳ 7 đến 10 năm với giá trị gia tăng rất thấp. Hoạt động khai thác nhựa gần như bị bỏ ngỏ hoặc diễn ra hoàn toàn tự phát, thiếu cơ sở khoa học về tiêu chí tuyển chọn giống và kỹ thuật trích rạch bền vững. Đề án thạc sĩ lâm nghiệp của học viên Nguyễn Cao Thành Long do Tiến sĩ Nguyễn Tuấn Hùng và Tiến sĩ Nguyễn Tuấn Dương hướng dẫn tại Trường Đại học Nông lâm - Đại học Thái Nguyên đã giải quyết trọn vẹn điểm nghẽn thực tiễn này. Đề án tiến hành điều tra hiện trạng sinh trưởng, đánh giá năng suất, chất lượng và thị trường tiêu thụ nhựa Bồ đề trên địa bàn 7 xã thuộc huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang từ tháng 9 năm 2024 đến tháng 9 năm 2025. Kết quả chứng minh mô hình khai thác nhựa đem lại nguồn thu 45 triệu đồng/ha ngay ở năm thứ 7 và tích lũy tới 225 triệu đồng/ha trong chu kỳ 5 năm tiếp theo mà vẫn bảo toàn nguyên vẹn sinh khối gỗ đứng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Đề án vận dụng hệ thống phân loại học thực vật APG IV, xác định họ Bồ đề (Styracaceae) thuộc bộ Đỗ quyên (Ericales) với 12 chi và khoảng 140 loài trên toàn cầu, trong đó chi Styrax Linnaeus có biên độ sinh thái rộng tại các vùng rừng nhiệt đới và á nhiệt đới châu Á. Về mặt di truyền chọn giống cây rừng, nghiên cứu kế thừa nền tảng lý thuyết từ các khảo nghiệm kinh điển của Vilmorin (1821), Langlet (1926) và Franklin (1973). Sản lượng bài tiết nhựa thực vật là tính trạng di truyền đa gen có biến dị cá thể rất cao với hệ số di truyền dao động từ 0,52 đến 0,69. Những cá thể vượt trội có khả năng cho sản lượng nhựa cao gấp 3 đến 5 lần so với mức trung bình của quần thụ và tính trạng này duy trì ổn định qua nhiều năm với hệ số tương quan r đạt từ 0,63 đến 0,82 theo thực nghiệm của Lê Đình Khả (2006). Khung nghiên cứu gắn kết ba khái niệm then chốt: lâm sản ngoài gỗ giá trị cao, cấu trúc tầng tán rừng phục hồi và chỉ số sinh trắc học cá thể cây rừng. Trong đó, đường kính ngang ngực D1.3, chiều cao vút ngọn Hvn và độ nứt vỏ thân cây được xác định là các biến số sinh học chi phối trực tiếp đến dung lượng bài tiết nhựa an tức hương.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp điều tra kinh tế xã hội và khảo sát sinh thái thực địa thông qua phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng. Cỡ mẫu phỏng vấn gồm 210 phiếu điều tra tại 7 xã và đi sâu khảo sát 150 hộ gia đình trực tiếp khai thác nhựa cùng cán bộ quản lý tại 5 xã trọng điểm (30 hộ mỗi xã). Trên thực địa, tác giả thiết lập 8 tuyến điều tra dài từ 3 đến 4 km qua 7 xã. Dọc theo các tuyến, 21 ô tiêu chuẩn (OTC) diện tích 500 m2 (kích thước 20 m x 25 m, gồm 3 OTC mỗi xã) được lập để đo đếm 2.191 cây gỗ tầng cao, trong đó có 679 cây Bồ đề. Lý do lựa chọn phân tích thống kê toán học và hệ số tương quan Pearson trên phần mềm Excel và SPSS là nhằm định lượng khách quan mối liên kết giữa các chỉ tiêu hình thái sinh trưởng với sản lượng nhựa thực nghiệm, loại bỏ hoàn toàn các phán đoán chủ quan. Đặc điểm hình thái và sức khỏe cây được đánh giá theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8755:2017 với thang điểm từ 1 đến 5. Hoạt động trích nhựa thực nghiệm được chuẩn hóa bằng 1 vết chích rộng 2 cm x dài 5 cm tại vị trí 1,3 m vào tháng 6 và theo dõi lượng nhựa tích tụ liên tục trong 4 tháng đến tháng 10.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tổng diện tích rừng trồng Bồ đề tại 7 xã huyện Lâm Bình đạt 232,47 ha, mật độ trồng ban đầu 2.000 cây/ha với độ tuổi từ 5 đến 13 năm, lớn nhất tại xã Hồng Quang với 92,30 ha và Bình An với 43,00 ha. Trong rừng tự nhiên, Bồ đề chiếm tới 38,4% số cây tầng cao (679 trên tổng số 2.191 cây), phân bố tập trung chủ yếu ở đai cao từ 101 đến 200 m với 148 cá thể ghi nhận (chiếm 62,2%), đai dưới 100 m có 46 cá thể (chiếm 19,3%) và giảm mạnh xuống chỉ còn 1,3% ở các đai cao trên 300 m.

Thứ hai, cấu trúc phân bố số cây theo đường kính N/D1.3 thực nghiệm có dạng lệch trái với hơn 74% số cây tập trung ở cỡ kính 11 đến 26 cm, phản ánh rừng đang phục hồi tích cực. Đáng chú ý, ở cỡ kính lớn từ 41 đến 116 cm, Bồ đề chiếm tỷ lệ vượt trội hơn 70%, đồng thời giữ vai trò thống trị tại tầng vượt tán A1 trên 20 m (chiếm 48,7% cây Bồ đề) và tầng ưu thế sinh thái A2 từ 15 đến 20 m (chiếm 38,3%).

Thứ ba, năng suất khai thác nhựa biến động trong khoảng 0,2 đến 1,2 kg/cây/năm. Hai xã Lăng Can và Thổ Bình đạt năng suất cao nhất 1,2 kg/cây/năm, cho sản lượng lần lượt 400 kg và 500 kg, chiếm gần 70% tổng lượng 1,3 tấn của toàn huyện. Nhựa tại đây đạt chuẩn tốt nhất với màu trắng đục, giàu axit benzoic và hương vani thơm dịu. Xã Xuân Lập có năng suất thấp nhất chỉ 0,2 đến 0,6 kg/cây/năm do rừng cây già cỗi từ 16 đến 28 tuổi, nhựa có màu nâu đỏ.

Thứ tư, giá thu mua nhựa dao động từ 200.000 đến 300.000 đồng/kg. So sánh kinh tế trên 1 ha cho thấy rừng Bồ đề lấy gỗ sau 7 năm chỉ thu về khoảng 70 triệu đồng, trong khi mô hình lấy nhựa mật độ 500 cây mang lại 45 triệu đồng ở năm thứ 7 và tích lũy 225 triệu đồng trong 5 năm tiếp theo, cao hơn 220% so với bán gỗ tròn đơn thuần.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu sinh thái và sinh trắc học của đề tài có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ phân bố tần số N/D1.3 dạng hình chuông lệch trái, biểu đồ thanh thể hiện cấu trúc tầng thứ thẳng đứng N/Hvn và bảng ma trận hệ số tương quan Pearson giữa độ nứt vỏ thân cây với sản lượng nhựa. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) năm 2001 tại Ban Kachet (Lào), khi chứng minh năng suất nhựa đạt đỉnh ở cấp kính 19,0 đến 25,0 cm và độ dày vỏ tỷ lệ thuận với lượng nhựa bài tiết.

Sự vượt trội về năng suất tại Lăng Can và Thổ Bình gắn liền với điều kiện thổ nhưỡng ẩm sâu và độ tuổi cây sung mãn từ 10 đến 15 năm. Ngược lại, các cá thể trên 25 đến 30 tuổi tại Xuân Lập bắt đầu suy thoái sinh lý khiến lượng nhựa suy giảm nghiêm trọng. Thực tế khảo sát cho thấy 100% người dân biết thị trường bán gỗ nhưng chỉ có 56% biết thị trường nhựa. Sự phụ thuộc vào thương lái tự do khiến người dân chịu mức giá thấp hơn từ 30.000 đến 50.000 đồng/kg so với việc liên kết trực tiếp cùng các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, ban hành và áp dụng chuẩn hóa bộ tiêu chí chọn cây trội lấy nhựa. Chi cục Kiểm lâm tỉnh Tuyên Quang chủ trì phối hợp Phòng Nông nghiệp huyện Lâm Bình tuyển chọn tối thiểu 50 cây trội giống đạt chuẩn thực chứng: tuổi cây từ 10 đến 15 năm, đường kính D1.3 từ 20 đến 25 cm trở lên, vỏ dày nứt dọc sâu, thân tròn thẳng và sai hoa quả. Thời hạn hoàn thành gắn biển bảo vệ trong quý 2 năm 2025.

Thứ hai, chuẩn hóa quy trình kỹ thuật trích rạch và điều tiết mật độ rừng bền vững. Trung tâm Khuyến nông địa phương chịu trách nhiệm tập huấn cho 100% hộ dân khai thác trước quý 3 năm 2025. Hướng dẫn tỉa thưa duy trì mật độ từ 500 đến 600 cây/ha; áp dụng kích thước vết cắt tiêu chuẩn rộng 5 cm x dài 8 cm ở độ cao từ 1,5 đến 2,0 m cách mặt đất, cạo vừa hết vỏ lụa không phạm vào gỗ giác; khoảng cách giữa các vết cắt từ 80 đến 90 cm. Thời gian chích nhựa từ tháng 4 đến tháng 6 và thu hoạch dứt điểm vào tháng 11; kiểm tra định kỳ 2 lần/tháng từ tháng 7 đến tháng 9; áp dụng chế độ luân kỳ 1 năm khai thác, 1 năm nghỉ dưỡng sức đối với rừng tự nhiên và quét vôi khử nấm sau thu hái.

Thứ ba, thiết lập chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm và ổn định giá. Ủy ban nhân dân huyện Lâm Bình làm đầu mối kết nối các hợp tác xã với Công ty Cổ phần Nông Lâm nghiệp Đức Phú nhằm ký hợp đồng thu mua dài hạn với giá sàn cam kết từ 250.000 đến 300.000 đồng/kg, loại bỏ tình trạng ép giá của thương lái tự do vào đầu năm 2026.

Thứ tư, quy hoạch mở rộng vùng nguyên liệu chuyên canh tập trung. Ban Quản lý Rừng phòng hộ Lâm Bình phối hợp chính quyền các xã Lăng Can, Thổ Bình, Phúc Sơn triển khai trồng mới và phục hồi 300 ha rừng Bồ đề lấy nhựa giai đoạn 2025 - 2030, kết hợp bảo vệ lưu vực lòng hồ thủy điện và chống xói mòn đất.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là cán bộ quản lý lâm nghiệp và cơ quan hoạch định chính sách tại tỉnh Tuyên Quang. Luận văn cung cấp số liệu thực chứng về 232,47 ha rừng trồng và sản lượng 1,3 tấn nhựa/năm tại huyện Lâm Bình, hỗ trợ xây dựng quy hoạch phát triển lâm sản ngoài gỗ theo Quyết định 523/QĐ-TTg.

Nhóm thứ hai là các chủ rừng, hợp tác xã và hộ nông dân miền núi. Công trình mang đến cẩm nang thực hành chi tiết với kích thước vết cắt 5 cm x 8 cm và mật độ nuôi dưỡng 500 đến 600 cây/ha, giúp nâng năng suất lên 1,2 kg/cây/năm và tăng thu nhập thêm 45 triệu đồng/ha mỗi năm.

Nhóm thứ ba là các doanh nghiệp chế biến dược liệu, tinh dầu và hương liệu xuất khẩu. Dữ liệu khảo sát chất lượng nhựa benzoin tại Lăng Can và Thổ Bình giúp doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận nguồn nguyên liệu đạt chuẩn, ký kết hợp đồng bao tiêu bền vững.

Nhóm thứ tư là giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Lâm học. Phương pháp lập 21 ô tiêu chuẩn diện tích 500 m2 kết hợp phân tích tương quan Pearson là tài liệu tham khảo giá trị cho các nghiên cứu chọn giống cây lâm nghiệp đa mục đích.

Câu hỏi thường gặp

Cây Bồ đề ở độ tuổi và kích cỡ nào thì cho sản lượng nhựa cao nhất? Cây Bồ đề đạt năng suất nhựa tối ưu ở độ tuổi từ 10 đến 15 năm và đường kính D1.3 từ 20 đến 25 cm trở lên. Khảo sát tại huyện Lâm Bình cho thấy 93,3% hộ khai thác lựa chọn cấp tuổi này vì cây có tầng vỏ dày, sức sinh trưởng mạnh và cho năng suất đạt tới 1,2 kg/cây/năm.

Thời vụ trích vỏ và thu hoạch nhựa Bồ đề thích hợp nhất vào thời gian nào? Thời điểm mở vết rạch tốt nhất là từ tháng 4 đến tháng 6 dương lịch khi cây bắt đầu kết quả và dòng nhựa luyện di chuyển mạnh. Thời gian thu hoạch nhựa tập trung vào tháng 11 hàng năm khi tiết trời hanh khô, giúp nhựa kết tinh nguyên chất, đậm mùi hương và không bị nước mưa cuốn trôi.

Quy cách tạo vết cắt trích nhựa thế nào để không làm tổn hại đến cây rừng? Người thu hoạch cần tạo vết cắt chuẩn rộng 5 cm x dài 8 cm ở độ cao 1,5 đến 2,0 m cách gốc, khoảng cách giữa các vết cắt từ 80 đến 90 cm. Vết rạch chỉ cạo hết vỏ lụa, không chạm vào gỗ giác và phải quét vôi khử trùng định kỳ sau khi thu hái.

Khai thác nhựa Bồ đề mang lại giá trị kinh tế vượt trội ra sao so với bán gỗ? Mô hình khai thác nhựa đem lại lợi nhuận cao gấp hơn 3 lần so với thuần bán gỗ dăm. Một hecta rừng lấy nhựa mật độ 500 cây mang lại thu nhập 45 triệu đồng ở năm thứ 7 và tích lũy 225 triệu đồng trong 5 năm tiếp theo, trong khi toàn bộ sinh khối thân gỗ vẫn được bảo tồn.

Tại sao năng suất và chất lượng nhựa ở xã Lăng Can và Thổ Bình lại tốt hơn các địa phương khác? Lăng Can và Thổ Bình có đai cao lý tưởng từ 101 đến 200 m, tầng đất ẩm sâu và tỷ lệ cây 10 đến 15 tuổi chiếm đa số. Khảo sát tại đây ghi nhận năng suất đạt tới 1,2 kg/cây/năm với màu trắng đục và hương vani tự nhiên, vượt xa mức 0,4 kg/cây/năm ở vùng rừng già Xuân Lập.

Kết luận

  • Xác lập cơ sở khoa học thực chứng về quy mô 232,47 ha rừng trồng Bồ đề và tiềm năng khai thác 1,3 tấn nhựa mỗi năm tại huyện Lâm Bình.
  • Xác định vùng đai cao tối ưu từ 101 đến 200 m và chứng minh các cá thể đường kính D1.3 từ 20 đến 25 cm ở tuổi 10 đến 15 cho sản lượng nhựa cao nhất đạt 1,2 kg/cây/năm.
  • Hoàn thiện bộ tiêu chí chọn cây trội và chuẩn hóa kỹ thuật trích rạch kích thước 5 cm x 8 cm kết hợp luân kỳ nghỉ dưỡng giúp bảo tồn sức sống cây rừng.
  • Chứng minh bài toán kinh tế vượt trội mang lại doanh thu 225 triệu đồng/ha trong 5 năm khai thác nhựa, vừa gia tăng thu nhập cho người dân vừa chống xói mòn đất.
  • Hoàn tất thủ tục công nhận cây giống và nhân rộng mô hình 300 ha thâm canh trong giai đoạn 2025 - 2026; các chủ rừng hãy áp dụng ngay bộ tiêu chí kỹ thuật này để tối ưu hóa giá trị kinh tế lâm nghiệp.