ĐẶT VẤN ĐỀ Vấn đề nghiên cứu da dạng sinh học và bảo tồn nguồn gen sinh vật ở Việt Nam cũng nhƣ trên thế giới có ý nghĩa chiến lƣợc quan trọng trong thời đại hiện nay. Chúng đã đƣợc các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm từ rất sớm, song những vấn đề phục vụ cho công tác bảo tồn chỉ mới bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ trƣớc đến nay. Việt Nam là một trong những trung tâm đa dạng sinh học lớn nhất thế giới. Trong những năm qua tài nguyên đa dạng sinh vật bị khai thác quá mức và tàn phá nặng nề, nên vấn đề bảo tồn đa dạng sinh vật đang là một yêu cầu cấp bách ở nƣớc ta hiện nay.
KBTTN Tây Yên Tử có tổng diện tích là 13.020,4 ha thuộc cánh cung Đông Triều với đỉnh cao nhất là đỉnh núi Yên Tử (cao 1.068m so với mực nƣớc biển) đƣợc chia thành hai phân khu: Phân khu Khe Rỗ và Phân khu Thanh Lục Sơn, hai phân khu cách nhau về địa lý khoảnh hơn 5km. Đây là nơi đƣợc các nhà khoa học xác định là một trong những trung tâm đa dạng sinh vật của Việt Nam. Tại đây với sự có mặt của rất nhiều loài cây gỗ nhƣ: Đinh, Lim, Vạng, Xoan đào, Ràng ràng… Trong thời gian gần đây mặc dù các cấp, các ngành chức năng, cũng nhƣ nhân dân các dân tộc địa phƣơng trong vùng đã rất cố gắng trong việc bảo vê rừng và bảo vệ đa dạng sinh học, song do nhiều lý do khác nhau và chƣa tìm đƣợc một giải pháp hữu hiệu nhất nên nguồn tài nguyên thực vật rừng nói chung ở khu vực này vẫn bị tàn phá, nhiều vụ đốt rừng làm nƣơng rẫy thƣờng xuyên xảy ra và đặc biệt là tệ nạn khai thác và buôn bán tài nguyên thiên nhiên trái phép với số lƣợng lớn vẫn diễn ra đã làm suy giảm nghiêm trọng số lƣợng cũng nhƣ nơi sống của các loài này. Vì vậy vấn đề nghiên cứu và bảo tồn loài Trà hoa vàng ở đây rất cần thiết, không những có ý nghĩa về mặt khoa học sâu sắc mà còn có ý nghĩa thực tiễn lớn lao.
Xuất phát từ những thực tiễn trên, việc thực hiện đề tài “ Nghiên cứu bảo tồn loài Trà hoa vàng (Camellia euphlebia Merr. ex Sealy, 1949) tại xã Tuấn Mậu Huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang” là cần thiết và cấp bách, phù hợp với tình hình thực tiễn tại địa phƣơng, góp phần bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học của tỉnh Bắc Giang nói riêng và của Việt Nam, thế giới nói chung. 1 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Trên thế giới 1.Nghiên cứu về sinh thái học thực vật Các phƣơng pháp thực nghiệm về sinh thái học nhằm nghiên cứu mối quan hệ giữa các loài, phƣơng pháp điều tra đánh giá đƣợc trình bày trong “Thực nghiệm sinh thái học” của Stephen, D. Lache(1987) đã chỉ rõ đƣợc vấn đề nghiên cứu trong sinh thái học thực vật nhƣ sự thích nghi của các điều kiện: Dinh dƣỡng, Nhiệt độ, ánh sáng, chế độ ẩm, khí hậu.P Odum (1975) đã phân chia ra sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể.
Sinh thái học cá thể nghiên cứu từng cá thể sinh cật học hoặc từng loài, trong đó chu kỳ sống và tập tính cũng nhƣ khả năng thích nghi với môi trƣờng đƣợc đặc biệt chú ý. Ngoài ra mối quan hệ giữa các yếu tố sinh thái, sinh trƣởng có thể định lƣợng bằng các phƣơng pháp toán học thƣờng gọi là mô phỏng, phản ánh các đặc điểm, quy luật tƣơng quan phức tạp trong tự nhiên. Trong học thuyết các kiểu rừng của G.FMôrôdôp đã hình thành lý luận cơ bản về sinh thái rừng và các kiểu rừng: “Đời sống của rừng có thể đƣợc hiểu trong mối quan hệ với điều kiện hoàn cảnh và trong đó quần xã thực vật rừng tồn tại và quần xã này luôn luôn chịu tác động trực tiếp của các nhân tố sinh thái trong hoàn cảnh đó”. Ông cho rằng điều kiện tiên quyết, quyết định hình thành rừng là đặc điểm sinh thái học của loài cây gỗ.
Trong nghiên cứu sinh thái học nhằm quản lý rừng bền vững, một nhận xét mà nhiều nhà lâm học biết đến là: Trong các kiến thức khoa học về các hệ sinh thái rừng còn chƣa hoàn chỉnh, việc xác định các hiểu biết về mặt lâm học, sinh thái học nhằm quản lý rừng tự nhiên theo cách giữ vững một cái nguyên vẹn là có thể chấp nhận đƣợc và có thể áp dụng cho tất cả các kiểu 2 rừng khác nhau kể cả rừng mƣa nhiệt đới ẩm. Vào đầu thế kỷ 20, nhà bác học ngƣời Nga V. Đôcuchaep đã chỉ ra rằng: Phạm vi phân bố địa lý của thực vật đƣợc xác định bởi điều kiện độ ẩm, khí hậu. Điều đó phụ thuộc vào lƣợng mƣa và lƣợng bố hơi do tác dụng của nhiệt độ.
Khi nghiên cứu đặc điểm sinh lý, sinh thái của loài đã có nhiều công trình nghiên cứu về nhu cầu ánh sáng và sự thích nghi của thực vật đối với tình trạng thiếu nƣớc. Theo đó, sự thích nghi với điều kiện có 3 kiểu: một – thích nghi kiểu đã quen, hai – thích nghi do cấu tạo kiểu hạn sinh, ba – có tính chịu đựng đƣợc tác dụng của mất nƣớc. Đánh giá đƣợc mức độ ƣa sáng, chịu bóng của cây từ đó có biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động hợp lý thì phải xác định đƣợc nhu cầu ánh sáng của từng loài và đã đƣợc nhiều nhà khoa học nghiên cứu nhƣ: I.Nhân giống bằng hom Nhân giống bằng hom đã đƣợc áp dụng vào thực tiễn sản xuất từ rất lâu, ban đầu chỉ gây trồng cây cảnh, sau này đƣợc đƣa vào tạo cây con phục vụ công tác trồng rừng. Trải qua nhiều thập kỷ nhƣng thành tựu về nhân giống vô tính nói chung và nhân giống bằng hom nói đã đƣợc tập trung ứng dụng rộng rãi ở Nam Phi, Đức, Thụy Điển, Nhật Bản… các loài cây rừng đã đƣợc tập trung nghiên cứu nhƣ: eo, bạch đàn, các loài cây lá kim, các loài cây lá rộng ở Châu Âu, các loài đặc hữu quốc gia, loài quý hiếm… 2.Nghiên cứu về đặc điểm sinh học của loài cây Hòa chung cùng xu thế của thế giới, tại Việt Nam cũng có nhiều các công trình nghiên cứu về sinh thái học của loài cây, có thể kể đến một số tác giả nhƣ: 3 Nguyễn Bá Chất (1996) “Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học và biện pháp kỹ thuật trồng nuôi dƣỡng cây Lát Hoa” đã kết luận: những vấn đề kỹ thuật lâm sinh là những vấn đề cấp thiết để khôi phục và phát triển rừng.
Đinh Văn Tài khi nghiên cứu sử dụng các loài cây bản địa chịu hạn phục vụ chƣơng trình “Phục hồi và trồng rừng” chống xa mạc hóa đất cát ven biển tỉnh Binh Thuận đã áp dụng kỹ thuật trồng mới rừng để tiếp tục phát triển mở rộng diện tích trên cơ sở tuyển chọn một số loài cây bản địa có giá trị để cung cấp giống cho trồng rừng. Nguyễn Huy Sơn, Vƣơng Hữu Nhi khi nghiên cứu đặc điểm lâm học quần thể thông nƣớc ở Đắc Lắc đã phân loại hiện trạng rừng, cấu trúc tổ thành loài và mật độ, cấu trúc tầng tán và độ tàn che. Tác giả đã kết luận rằng Thông nƣớc có sống hỗn loài theo từng đám trong rừng lá rộng thƣờng xanh ở vùng đầm lầy nƣớc ngọt.Các công trình nghiên cứu về loài Trà hoa vàng ở Việt Nam Trà hoa vàng là loài cây quý hiếm, có nhiều giá trị nhƣ làm thuốc, làm cảnh, làm đồ uống. Ngoài ra Trà hoa vàng còn có thể trồng thử làm cây tầng dƣới tại các khu rừng phòng hộ đầu nguồn.
Trên thế giới nhiều quốc gia đã quan tâm phát triển loài Trà hoa vàng nhƣ tại Trung Quốc. Nhƣng ở Việt Nam loài cây này chƣa thực sự đƣợc quan tâm nghiên cứu đúng mức và mới chỉ đƣợc một số tác giả quan tâm nghiên cứu về đặc tính sinh học và sinh thái học và đã đạt đƣợc một số kết quả nhất định. Nổi bật là tác giả Ngô Quang Đê đã có các đề tài nghiên cứu và báo cáo khoa học về loài Trà hoa vàng nhƣ: “Sƣu tập một số loài cây Camellia hoa vàng dã sinh góp phần bảo vệ nguồn gen loài cây quý có nguy cơ bị tiêu diệt. Báo cáo khoa học Đại học Lâm nghiệp 1998”, “Trà hoa vàng (Camellia sp) nguồn tài nguyên quí hiếm cần bảo vệ và phát triển.
Tạp chí Việt Nam hƣơng sắc 92”, “ hảo sát điều kiện sống của Trà hoa vàng a Vì (Hà Tây) và Trà hoa vàng Sơn Động (Bắc Giang) Tạp chí khoa học Lâm nghiệp 4. Trần Ninh – Hakoda Naotoshi và các tác giả (2010): Các loại trà ở vườn quốc gia Tam Đảo. Bên cạnh đó còn các công trình nghiên cứu về Trà hoa vàng của các tác giả nhƣ: Lê Xuân Trƣờng, 4 Lê Văn Cƣơng, Trần Ngọc Hải. Khóa luận tốt nghiệp của sin viên Phạm Thị Nhị năm 2014 nghiên cứu về Trà hoa vàng (camellia euphlebia) tại khu vực Quảng Ninh… 2.3 Đặc điểm hình thái, và sinh thái học của loài nghiên cứu.
* Những đặc điểm về hình thái Loài Trà hoa vàng thuộc đối tƣợng nghiên cứu còn có tên khác là Trà hoa vàng sơn động, Trà gân hay Chè rừng. - Hình thái thân cành Trà hoa vàng là cây gỗ nhỏ hoặc cây bụi, cao từ 50cm đến khoảng 4 - 5m, đƣờng kính có thể lên đến gần 15 cm. Vỏ màu nâu xám. Hình thái lá: lá có cuống ngắn dài từ 5-10 cm, rộng từ 3-5cm lá có dạng hình bầu dục đôi khi có dạng trứng ngƣợc mặt trên nhẵn bong có các khe lõm sâu do gân lá tạo thành, mép lá có răng cƣa nhỏ, hệ gân vấn hợp.1 hình thái lá cây Trà hoa vàng tại khu vực nghiên cứu - Hình thái hoa quả: Hoa màu vàng, đƣờng kính khi nở từ 1-2cm mọc ở đầu cành hoặc nách lá, đơn độc hoặc thành cụm 2-3 hoa.
Cuống hoa mảnh dài 6-8mm. - Đặc điểm sinh học: do thời gian thực tập không trùng với mùa hoa quả nên tôi sử dụng phƣơng pháp phỏng vấn kết quả nhƣ sau. Mùa hoa từ tháng 4 – 8, ít khi gặp hoa nở vào các tháng khác trong năm. 5 PHẦN II ĐỐI TƢỢNG -MỤC TIÊU - NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu Dựa vào các đặc điểm hình thái thân, cành, lá so sánh với tài liệu tham khảo “Các loại trà ở vườn quốc gia Tam Đảo của tác giả” (Trần Ninh – Hakoda Naotoshi và các tác giả 2010) và sự giúp đỡ của Thạc sỹ Phạm Thanh Hà xác đinh đối tƣợng nghiên cứu là loài Trà hoa vàng (Camellia euphlebia Merr.
ex Sealy, 1949) tại xã Tuấn Mậu Huyện Sơn Động Tỉnh Bắc Giang.