ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam với diện tích tự nhiên là vùng đồi núi, chịu ảnh hƣởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Chính điều kiện khí hậu và địa hình nhƣ vậy đã tạo nên một hệ thực vật rừng phong phú và đa dạng. Nƣớc ta hiện có tới gần 12.000 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc hơn 2. Không chỉ có vai trò là lá phổi xanh điều hòa khí hậu, trong chu trình tuần hoàn vật chất của tự nhiên, hệ thực vật rừng còn là nguồn tài nguyên vô giá cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp nhƣ: giấy, gỗ,.; là thức ăn cho động vật nói chung đặc biệt là nguồn dƣợc liệu quý đối với việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của con ngƣời.
Theo thống kê của Viện dƣợc liệu, các nhà khoa học đã phát hiện có trên 4.000 loài cây có thể dùng làm thuốc ở Việt Nam. Trong đó, có tới hơn 90% là cây mọc tự nhiên và tập trung chủ yếu ở vùng rừng núi. Qua đó cho thấy các loài cây thuốc rất đa dạng và phong phú về phân bố cũng nhƣ thành phần loài. Tuy nhiên, việc phát triển, bảo tồn và sử dụng cây cỏ làm thuốc ở Việt Nam đang đứng trƣớc nhiều thách thức, nhiều loài có nguy cơ tuyệt chủng do khai thác quá mức, tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc bị mai một và mất.
Ngƣời dân ở miền núi vẫn có thói quen khai thác nguồn cây thuốc nam sẵn có từ rừng tự nhiên mang về dùng thậm chí còn bán cho thƣơng lái buôn bán thuốc nam, điều này dẫn đến nguy cơ cạn kiệt nguồn tài nguyên này một cách nhanh chóng, một số loài cây có giá trị cao, quý hiếm có thể bị tuyệt chủng. Chính vì vây, cần thiết phải có các hoạt động bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây dƣợc liệu do chính ngƣời dân sống gần rừng thực hiện nhằm sử dụng bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc trong tƣơng lai. Xã Đoàn Kết là xã vùng cao của huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình, đƣợc đánh giá là khu vực có điều kiện tự nhiên thuận lợi, tài nguyên thiên nhiên tƣơng đối đa dạng và phong phú. Là nơi tập trung nhiều loài động - thực vật đặc hữu và quý hiếm với các giá trị sử dụng khác nhau đặc biệt là giá trị làm thuốc.
Trên địa 1 bàn xã còn có dân tộc ngƣời Tày và ngƣời Dao sinh sống trong đó dân tộc Tày chiếm đa số với 2.200 ngƣời, ít nhất là dân tộc Dao với 493 ngƣời. Do đó mà mỗi dân tộc đều có phong tục, tập quán, kiến thức bản địa về sử dụng cây thuốc khác nhau dẫn tới thực trạng chung là việc khai thác, sử dụng cây thuốc quá mức không kết hợp với phục hồi nên nguồn dƣợc liệu đang ngày càng cạn kiệt. Chính vì vậy, cần thiết phải có các hoạt động bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây dƣợc liệu do chính ngƣời dân sống gần rừng thực hiện, nhằm sử dụng bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc trong tƣơng lai. Xuất phát từ lý do trên, tôi thực hiện đề tài tốt nghiệp “Nghiên cứu bảo tồn đa dạng tài nguyên cây thuốc bản địa tại xã Đoàn Kết, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình” để góp phần làm cơ sở cho việc quản lý, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên cây thuốc có trong khu vực nghiên cứu và bổ sung thêm một phần hiểu biết của mình cũng nhƣ kiến thức sử dụng cây thuốc chữa bệnh của cộng đồng các dân tộc tại địa phƣơng.
2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Lƣợc sử nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở một số nƣớc trên thế giới Trải qua nhiều thế kỷ, cây thuốc giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe và hạnh phúc của con ngƣời trên khắp thế giới. Các kinh nghiệm dân gian về sử dụng cây thuốc chữa bệnh đƣợc nghiên cứu ở các mức độ khác nhau tùy thuộc vào sự phát triển của từng quốc gia. Các thị trƣờng dƣợc thảo toàn cầu đã và đang tăng trƣởng nhanh chóng và hiện đang mang lại rất nhiều lợi nhuận kinh tế.
Theo Ban Thƣ ký công ƣớc về đa dạng sinh học, doanh số toàn cầu của các sản phẩm dƣợc thảo ƣớc tính tổng cộng có đến 80 tỷ USD vào năm 2002 và chủ yếu ở thị trƣờng Châu Mỹ, Châu Âu và Châu Á. Vì vậy quốc gia nào cũng có chƣơng trình điều tra và tái điều tra nguồn tài nguyên dƣợc liệu trong kế hoạch bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học của đất nƣớc mình. Đối với những nƣớc vốn có nền y học cổ truyền lâu đời, nói đến chữa bệnh bằng cây cỏ ngƣời ta thƣờng nghĩ ngay tới Trung Quốc, Ấn Độ và các nƣớc thuộc khu vực Đông Nam Á. Trong tập “Thần nông bản thảo” của vua Thần Nông tức Viêm Đế (3320-3080 trƣớc công nguyên - TCN) thì Thần Nông đã nếm hàng trăm loại cây cỏ, phân loại dƣợc tính của thảo mộc.
Cuốn sách đã thống kê đƣợc 356 vị thuốc và cây thuốc đẻ phog và chữa bệnh. Vào đời nhà Hán (năm 168 TCN) trong cuốn sách “Thủ hậu cấp phƣơng”, tác giả đã thống kê 52 đơn thuốc chữa bệnh từ các loại cây cỏ. Giữa thế kỷ XVI, Lý Thời Trân đã thống kê 12.000 vị thuốc trong tập “Bản thảo cƣơng mục”. Cho đến nay, Trung Quốc đã cho ra đời khá nhiều công trình về sử dụng các loài cây cỏ để chữa bệnh.
Trải qua hàng nghìn năm, một số lƣợng lớn các loài thực vật bậc cao đã và đang đƣợc con ngƣời sử dụng làm thuốc chữa bệnh. Ngƣời ta ƣớc tính có khoảng 35.000 loài thực vật đã và đang đƣợc con ngƣời sử dụng vào mục đích chữa bệnh.500 cây thuốc đƣợc buôn bán trên thế giới. Ngƣời Ấn Độ cổ đại cách đây 3000 năm để lại tài liệu về công dụng cây cỏ làm thuốc của ngƣời Hin đu. Chủ trƣơng của ngƣời Ấn là ngừa bệnh là chính, 3 nếu phải điều trị bệnh thì các liệu pháp tự nhiên chủ yếu thông qua thực phẩm và thảo mộc sẽ giúp loại bỏ gốc rễ căn bệnh.
Bộ sử thi Vedas đƣợc viết vào năm 1.500 TCN và cuốn Charaka samhita đƣợc các thầy thuốc bổ sung tiếp vào bộ sử thi Vedas, trình bày cụ thể 350 loài thảo dƣợc. Hiệ nay, Chính phủ khuyến khích sử dụng công nghệ cao trong trồng cây thuốc. Hầu hết các Viện nghiên cứu dƣợc của Ấn Độ đã tham gia vào nghiên cứu chuyển hóa các loại thuốc và hợp chất có hoạt tính từ thực vật. Ở Philippin, ngƣời ta sử dụng cây Bồ Cu Vẽ (Breynia fructicosa) lấy vỏ sắc làm thuốc cầm máu hoặc tán bột rắc lên mụn nhọt, vết lở loét làm chúng chóng khỏi; Ở Malaixia, cây Húng Chanh (Coleus amboinicus) dùng lá sắc cho phụ nữ sau khi sinh đẻ uống hoặc giã nhỏ, vắt nƣớc cốt cho trẻ em uống trị sổ mũi, đau họng, ho gà; Ở Cămpuchia, Malaixia ngƣời ta dùng Hƣơng Nhu Tía (Ocimum sanctum), trong đó rễ trị đau bụng, sốt rét; nƣớc lá tƣơi có tác dụng long đờm hoặc giã nát đắp trị bệnh ngoài da, khớp.
Theo điều tra ở Mỹ có đến 25% đơn thuốc có sử dụng những chế phẩm có dƣợc tính mạnh đƣợc điều chế từ loài Hoa Hồng (Cathanthus roseus) đặc biệt của Madagasca, dùng rất tốt cho việc chữa bệnh máu trắng và các loại bệnh ung thƣ khác. Theo kết quả gần đây của các nhà khoa học cho biết sử dụng chế phẩm này để điều trị máu trắng cho trẻ đã làm tăng tỉ lệ sống cho trẻ từ 10% lên đến 90%. Ở Châu Âu, vào thời Trung cổ, các kiến thức về cây thuốc chủ yếu đƣợc các thầy tu sƣu tầm và nghiên cứu. Họ trồng cây thuốc và dịch các tài liệu về thảo mộc bằng tiếng Ả rập.
Vào năm 1649, Nicolas Culpeper đã viết cuốn sách “A Physical Directory”, sau đó vài năm, ông lại xuất bản cuốn “The Englih Physician”. Đây là cuốn dƣợc điển có giá trị và là một trong những cuốn sách hƣớng dẫn đầu tiên dành cho nhiều đối tƣợng sử dụng, ngƣời không phải chuyên hiểu biết về thuốc cũng có thể sử dụng để làm cẩm nang chăm sóc sức khỏe. Cho đến nay, cuốn sách này vẫn đƣợc tham khảo và trích dẫn rộng rãi. Cùng với phƣơng thức chữa bệnh theo kinh nghiệm dân gian, các nhà khoa học trên thế giới tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu cơ chế và các hợp chất 4 hóa học trong cây có tác dụng chữa bệnh, đúc rút thành những cuốn sách có giá trị.
Họ công nhận rằng hầu hết các cây cỏ đều có tính kháng sinh, đó là khả năng miễn dịch tự nhiên của thực vật. Tác dụng kháng khuẩn do các hợp chất tự nhiên có mặt phổ biến trong thực vật nhƣ phenolic, antoxy, các dẫn xuất quino, ancaloid, flavonoid, saponin, … Cho đến nay, nhiều hợp chất tự nhiên đã đƣợc giải mã về cấu trúc, những hợp chất này đƣợc chiết xuất từ cây cỏ để làm thuốc. Dựa vào cấu trúc đƣợc giải mã, ngƣời ta có thể tổng hợp nên các chất nhân tạo để chữa bệnh. Gotthall (1950) đã phân lập đƣợc chất Glucosid barbaloid từ cây Lô Hội (Aloe vera), chất này có tác dụng với vi khuẩn lao ở ngƣời và vi khuẩn Baccilus subtilis.
Lucas và Lewis (1994) đã chiết xuất một hoạt chất có tác dụng với các loài vi khuẩn gây bệnh tả, lị, mụn nhọt từ Kim ngân (Lonicera sp). Từ cây Berberis teeta, ngƣời ta đã chiết xuất đƣợc berberin. Trong lá và rễ cây Hẹ (Allium odorum) có các hợp chất sulfua, sapoin và chất đắng. Năm 1948, Shen- Chi-Shen phân lập đƣợc một hoạt chất Odorin ít độc đối với động vật bậc cao nhƣng lại có tác dụng kháng khuẩn.
Hạt của cây Hẹ cũng có chứa chất Alcaloid có tác dụng kháng khuẩn gram+ và gram-, nấm. Reserpin và Serpentin là chất hạ huyết áp đƣợc chiết xuất từ cây Ba gạc (Rauvolfa spp. Đặc biệt, Vinblastin và Vincristin vừa có tác dụng hạ huyết áp vừa có tác dụng làm thuốc chống ung thƣ, đƣợc chiết xuất từ cây Dừa cạn. Digitalin đƣợc chiết xuất từ cây Dƣơng địa hoàng (Digitalis spp.), strophatin đƣợc chiết xuất từ cây Sừng dê (Strophanthus spp.) để làm thuốc trợ tim.
Từ những thành tựu nghiên cứu cấu trúc, hoạt tính của các hợp chất tự nhiên, nhiều loại thuốc có tác dụng chữa bệnh cao đã ra đời bằng tổng hợp hoặc bán tổng hợp. Tuy nhu cầu sử dụng cây thuốc của con ngƣời trong việc chăm sóc sức khỏe ngày một tăng, nhƣng nguồn tài nguyên thực vật đang bị suy giảm. Nhiều loài thực vật đã bị tuyệt chủng hoặc đang bị đe dọa tuyệt chủng do các hoạt động trực tiếp và gián tiếp của con ngƣời. Theo tổ chức Bảo tồn thiên nhiên và Tài nguyên thiên nhiên (IUCN) cho biết, trong tổng số 43.