Tổng quan nghiên cứu

Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu thuộc địa bàn huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái có tổng diện tích vùng lõi là 16.950 ha, nằm trong hệ sinh thái rừng nhiệt đới núi cao thuộc dãy Hoàng Liên Sơn với độ che phủ rừng tự nhiên còn khá nguyên vẹn. Mặc dù sở hữu địa hình chia cắt phức tạp với độ cao từ 1.000 m đến 1.783 m và mạng lưới thủy văn dày đặc của hai lưu vực lớn là Ngòi Thia và Ngòi Hút, nguồn tài nguyên sinh vật tại đây đang chịu áp lực lớn từ các hoạt động dân sinh. Toàn khu bảo tồn hiện có 20.665 nhân khẩu thuộc 2.854 hộ gia đình sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc Dao chiếm 87% và dân tộc H'Mông chiếm 4%. Tỷ lệ hộ nghèo tại xã vùng lõi Nà Hẩu ở mức 70,1%, cùng với tập quán canh tác nương rẫy và khai thác lâm sản phụ đã tác động trực tiếp đến môi trường sống của các loài động vật hoang dã.

Trước đây, các dữ liệu về khu hệ bò sát và lưỡng cư tại Nà Hẩu chủ yếu dựa trên các đợt điều tra sơ bộ năm 2003 với 25 loài bò sát, 10 loài lưỡng cư hoặc các khảo sát nhanh năm 2012, chưa phản ánh đầy đủ tính đa dạng sinh học và cấu trúc quần xã. Đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu khoa học toàn diện về thành phần loài, đặc điểm phân bố sinh cảnh và xác định các mối đe dọa chính đối với hai nhóm động vật này. Nghiên cứu được triển khai tại 4 xã Nà Hẩu, Đại Sơn, Mỏ Vàng và Phong Dụ Thượng trong giai đoạn 2014 - 2015. Kết quả ghi nhận tổng cộng 38 loài, bao gồm 27 loài bò sát và 11 loài lưỡng cư, trong đó phát hiện thêm 3 loài mới cho khu bảo tồn. Công trình cung cấp luận cứ thực tiễn quan trọng phục vụ quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học và quản lý tài nguyên rừng bền vững tại tỉnh Yên Bái.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết phân bố sinh thái học động vật theo sinh cảnh và lý thuyết bảo tồn đa dạng sinh học trong hệ thống rừng đặc dụng. Khung lý thuyết này phân tích mối quan hệ tương tác giữa đặc tính thích nghi hình thái của sinh vật với các yếu tố môi trường như độ ẩm không khí 84 - 86%, lượng mưa hàng năm từ 1.547 mm đến 2.126 mm và tầng tán rừng. Nghiên cứu làm rõ 4 khái niệm cốt lõi: đa dạng sinh học loài, khu hệ động vật, cấu trúc sinh cảnh sống và mức độ nguy cấp theo các tiêu chuẩn quốc tế và quốc gia.

Về mặt phân loại học, nghiên cứu sử dụng hệ thống phân loại chuẩn của Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trường (2009), vốn ghi nhận 369 loài bò sát và 176 loài lưỡng cư tại Việt Nam. Đồng thời, nghiên cứu tích hợp các thang đánh giá mức độ bị đe dọa từ Danh lục Đỏ thế giới (IUCN 2013), Sách Đỏ Việt Nam (2007) và Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ để lượng hóa giá trị bảo tồn của từng đơn vị phân loại.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu được thu thập thông qua sự kết hợp giữa khảo sát thực địa trực tiếp và điều tra xã hội học có sự tham gia của cộng đồng. Cỡ mẫu phỏng vấn gồm 40 người dân bản địa am hiểu địa hình rừng núi tại các thôn bản và cán bộ kiểm lâm địa bàn. Phương pháp phỏng vấn sử dụng bộ ảnh màu nhận dạng kết hợp bảng câu hỏi cấu trúc nhằm thu thập thông tin về sự xuất hiện, tần suất bắt gặp và mục đích sử dụng các loài bò sát, lưỡng cư.

Phương pháp điều tra thực địa được thực hiện theo 5 tuyến khảo sát với tổng chiều dài 12,7 km, trải rộng từ độ cao 100 m đến 500 m qua 5 dạng sinh cảnh chính: đồng ruộng (tuyến 1 dài 2,8 km), nương rẫy (tuyến 3 dài 2,5 km), khu dân cư, sông suối (tuyến 2 dài 2,1 km) và rừng tự nhiên (tuyến 4 dài 2,6 km và tuyến 5 dài 2,7 km). Thời gian điều tra chia thành 3 đợt thực địa: Đợt 1 từ ngày 01/11/2014 đến 07/11/2014; Đợt 2 từ ngày 06/01/2015 đến 10/01/2015; Đợt 3 từ ngày 10/04/2015 đến 16/04/2015.

Việc khảo sát thực hiện vào ban đêm từ 19h00 đến 23h00 bằng đèn pin chuyên dụng, kết hợp lắng nghe tiếng kêu ghép đôi sinh sản của các loài ếch nhái sau mưa và tìm kiếm trong các khe đá, thảm mục ven suối. Mẫu vật được thu bắt bằng tay hoặc vợt đường kính miệng 25 cm, sau đó gây mê bằng foocmon 8 - 10%, cố định bằng cồn 90 độ và bảo quản lâu dài trong dung dịch cồn 70 độ theo quy trình chuẩn của Phạm Nhật (2003). Dữ liệu tọa độ GPS và phân bố sinh thái được xử lý trên phần mềm Excel và MapInfo để thành lập bản đồ phân bố và bản đồ phân cấp mức độ đe dọa. Phương pháp này được lựa chọn vì đảm bảo tính chuẩn xác về mặt định loại hình thái học và khả năng phân tích không gian đa chiều.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra thực địa và định loại hình thái học đã ghi nhận được 38 loài bò sát và lưỡng cư sinh sống tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu. Cụ thể:

Lớp Bò sát (Reptilia) có 27 loài thuộc 9 họ và 2 bộ. Trong đó, Bộ Có vảy (Squamata) chiếm ưu thế áp đảo với 21 loài (chiếm 77,8% tổng số loài bò sát) thuộc 8 họ; Bộ Rùa (Testudinata) có 6 loài thuộc 2 họ. Họ Rắn nước (Colubridae) đa dạng nhất với 9 loài, chiếm 33,3% tổng số loài bò sát ghi nhận. Tiếp theo là các họ Nhông (Agamidae), họ Rắn hổ (Elapidae) và họ Rùa đầm (Emydidae), mỗi họ đều có 4 loài (chiếm tỷ lệ 14,8%). Họ Rùa đầu to (Platysternidae) ghi nhận 1 loài duy nhất.

Lớp Lưỡng cư (Amphibia) có 11 loài thuộc 4 họ, 1 bộ Không đuôi (Anura). Họ Ếch nhái (Ranidae) chiếm tỷ lệ cao nhất với 6 loài (chiếm 54,5% tổng số loài lưỡng cư). Họ Nhái bầu (Microhylidae) và họ Ếch cây (Rhacophoridae) mỗi họ có 2 loài (chiếm tỷ lệ 18,2%), còn họ Cóc (Bufonidae) có 1 loài (chiếm 9,1%).

Nghiên cứu đã ghi nhận 3 loài mới bổ sung cho danh lục khu hệ tại khu bảo tồn gồm: loài Ếch cây sần (Rhacophorus appendiculatus) thuộc họ Ếch cây, Rắn lục đuôi đỏ (Trimeresurus albolabris) thuộc họ Rắn lục và Rắn sãi (Amphiesma sp.) thuộc họ Rắn nước. Mẫu Ếch cây sần trưởng thành thu được tại thảm rừng thôn Bản Tát vào tháng 11/2014 đã khẳng định sự mở rộng vùng phân bố của loài này tại vùng núi phía Bắc.

Về giá trị bảo tồn nguồn gen, khu hệ sở hữu 8 loài bò sát nằm trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), bao gồm các loài ở cấp Rất nguy cấp (CR) như Trăn mốc (Python molurus), Rắn hổ mang chúa (Ophiophagus hannah), Rùa hộp ba vạch (Cuora trifasciata), Rùa đất Spenglơ (Geoemyda spengleri); các loài ở cấp Nguy cấp (EN) như Rùa đầu to (Platysternon megacephalum), Rắn hổ mang (Naja atra), Rắn cạp nong (Bungarus fasciatus). Đồng thời, có 8 loài thuộc danh mục quản lý của Nghị định 32/2006/NĐ-CP (nhóm IB có 1 loài, nhóm IIB có 7 loài) và nhiều loài nằm trong Phụ lục II của Công ước CITES.

Thảo luận kết quả

Cấu trúc thành phần loài và phân bố sinh thái phản ánh sự phân hóa rõ rệt theo sinh cảnh sống. Khi trình bày dữ liệu qua biểu đồ cột và bảng tổng hợp ma trận sinh cảnh, tỷ lệ tập trung loài cao nhất ghi nhận ở sinh cảnh rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và dọc các thung lũng khe suối tự nhiên. Độ che phủ của thảm thực vật nhiều tầng kết hợp với thảm mục ẩm ướt cung cấp nguồn thức ăn dồi dào như côn trùng, thân mềm và tạo nơi trú ẩn an toàn cho các loài ếch cây, rùa đầm và rắn nước.

Ngược lại, tại các sinh cảnh đồng ruộng và khu dân cư, số lượng loài suy giảm đáng kể, chỉ xuất hiện một số loài có biên độ sinh thái rộng như Cóc nhà (Bufo melanostictus), Ngóe (Fejervarya limnocharis) và Thạch sùng đuôi sần (Hemidactylus frenatus). So với kết quả khảo sát sơ bộ năm 2003 (25 loài bò sát và 10 loài lưỡng cư), việc phát hiện thêm các họ mới như Viperidae và các loài có giá trị sinh học cao cho thấy môi trường rừng nguyên sinh tại các đai cao trên 700 m vẫn giữ được tính toàn vẹn sinh thái tương đối tốt.

Tuy nhiên, thảo luận cũng chỉ rõ hai mối đe dọa trực tiếp đến khu hệ. Thứ nhất là sự thu hẹp và suy thoái sinh cảnh do áp lực mở rộng diện tích nương rẫy canh tác, hiện chiếm tới 1.050,66 ha trong tổng diện tích đất nông nghiệp của 4 xã. Thứ hai là hoạt động săn bắt động vật hoang dã trái phép để phục vụ nhu cầu thực phẩm và buôn bán dược liệu thương phẩm. Đời sống khó khăn với 233 hộ nghèo (70,1%) và 71 hộ cận nghèo (21,3%) tại xã Nà Hẩu khiến áp lực khai thác tài nguyên rừng tiếp tục duy trì ở mức cao nếu không có các giải pháp can thiệp đồng bộ.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Tăng cường tuần tra, bảo vệ nghiêm ngặt sinh cảnh sống tự nhiên: Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện Văn Yên tiến hành cắm mốc ranh giới rõ ràng cho 16.950 ha vùng lõi, tập trung bảo vệ nghiêm ngặt các sinh cảnh rừng đầu nguồn suối Ngòi Thia và Ngòi Hút. Thiết lập mục tiêu giảm 100% các vụ chặt phá rừng nguyên sinh và duy trì ổn định diện tích thảm thực vật tự nhiên trong giai đoạn 2016 - 2020.

  2. Kiểm soát và xử lý triệt để nạn săn bắt, buôn bán động vật hoang dã trái phép: Thành lập các đội tuần tra liên ngành giữa Kiểm lâm địa bàn và Công an các xã Nà Hẩu, Đại Sơn, Mỏ Vàng, Phong Dụ Thượng. Đặt mục tiêu giảm 80% số vụ đặt bẫy, săn bắt các loài rùa, rắn quý hiếm thông qua việc kiểm tra định kỳ hàng tháng tại các tuyến đường mòn cửa rừng và các tụ điểm thu mua lâm sản.

  3. Đẩy mạnh giáo dục môi trường và lồng ghép bảo tồn vào văn hóa truyền thống: Tận dụng các thiết chế văn hóa bản địa, đặc biệt là Lễ hội Cúng rừng vào ngày 30 tháng Giêng âm lịch hàng năm tại xã Nà Hẩu – thời điểm người dân kiêng vào rừng khai thác. Đặt mục tiêu nâng cao nhận thức bảo tồn cho trên 90% số hộ gia đình người Dao và người H'Mông, đưa quy ước bảo vệ động vật hoang dã vào hương ước của toàn bộ 35 thôn bản vùng đệm.

  4. Phát triển sinh kế bền vững và mở rộng diện tích nhận khoán bảo vệ rừng: Ủy ban nhân dân huyện Văn Yên phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Yên Bái nâng cao định mức hỗ trợ nhận khoán bảo vệ rừng (hiện đang áp dụng 100.000 đồng/ha/năm trên diện tích 9.863 ha) lên mức hỗ trợ thỏa đáng theo các chương trình mục tiêu quốc gia. Đồng thời, đẩy mạnh phát triển kinh tế từ cây quế đồi rừng kết hợp khai thác du lịch sinh thái tại Thác Bản Tát và Hang Dơi, hướng tới mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo tại xã Nà Hẩu xuống dưới 40% vào năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Ban quản lý các khu rừng đặc dụng và vườn quốc gia: Cung cấp khung phương pháp luận điều tra thực địa chuẩn xác, bộ biểu mẫu phỏng vấn và quy trình định loại mẫu vật sinh học, làm cơ sở khoa học để thiết lập kế hoạch hành động bảo tồn các loài động vật hoang dã nguy cấp tại địa phương.

  2. Giảng viên, sinh viên và học viên cao học ngành Lâm học, Sinh học, Quản lý tài nguyên rừng: Đóng vai trò là tài liệu tham khảo chuyên ngành sâu sắc về kỹ thuật lập tuyến khảo sát sinh thái học ban đêm, phương pháp phân tích không gian sinh cảnh và dẫn liệu phân loại học chi tiết của 38 loài bò sát, lưỡng cư vùng núi Tây Bắc.

  3. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách cấp tỉnh, huyện: Cung cấp bức tranh toàn diện về mối quan hệ giữa sinh kế cộng đồng dân tộc thiểu số và công tác bảo tồn tài nguyên rừng, hỗ trợ xây dựng cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng và quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp hiệu quả.

  4. Các tổ chức phi chính phủ và quỹ bảo tồn thiên nhiên quốc tế: Cung cấp nguồn số liệu thực địa cập nhật về tình trạng các loài bị đe dọa theo Danh lục Đỏ IUCN và CITES, làm cơ sở thẩm định và tài trợ cho các dự án bảo tồn nguồn gen, cứu hộ động vật và phát triển sinh kế vùng đệm.

Câu hỏi thường gặp

Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu ghi nhận bao nhiêu loài bò sát và lưỡng cư? Nghiên cứu đã ghi nhận tổng cộng 38 loài, bao gồm 27 loài bò sát thuộc 9 họ, 2 bộ và 11 loài lưỡng cư thuộc 4 họ, 1 bộ. Trong đó, họ Rắn nước (Colubridae) chiếm ưu thế lớn nhất trong lớp Bò sát với 9 loài, còn họ Ếch nhái (Ranidae) chiếm ưu thế trong lớp Lưỡng cư với 6 loài.

Những loài mới nào được ghi nhận bổ sung cho khu bảo tồn trong nghiên cứu này? Đề tài đã phát hiện và ghi nhận bổ sung 3 loài mới cho khu hệ Nà Hẩu, bao gồm loài Ếch cây sần (Rhacophorus appendiculatus) thuộc họ Rhacophoridae thu mẫu tại rừng Bản Tát, Rắn lục đuôi đỏ (Trimeresurus albolabris) thuộc họ Viperidae và Rắn sãi (Amphiesma sp.) thuộc họ Colubridae.

Có bao nhiêu loài động vật quý hiếm cần ưu tiên bảo tồn tại khu vực? Khu hệ có 8 loài bò sát được ghi danh trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) như Trăn mốc, Rắn hổ mang chúa, Rùa đầu to, Rùa hộp ba vạch, Rùa đất Spenglơ; cùng 8 loài thuộc nhóm IB và IIB của Nghị định 32/2006/NĐ-CP và nhiều loài thuộc Phụ lục II CITES.

Phương pháp thu thập mẫu thực địa nào đem lại hiệu quả cao nhất đối với nhóm bò sát và lưỡng cư? Phương pháp hiệu quả nhất là lập tuyến điều tra ban đêm từ 19h00 đến 23h00 bám dọc các khe suối tự nhiên và thảm rừng ẩm ướt vào mùa sinh sản (mùa xuân - hè sau mưa rào), kết hợp bắt tay, dùng vợt chuyên dụng và phỏng vấn cấu trúc đối với 40 người dân bản địa.

Đâu là nguyên nhân chính đe dọa sự suy giảm quần thể bò sát, lưỡng cư tại Nà Hẩu? Nguyên nhân cốt lõi là tình trạng mất sinh cảnh do 1.050,66 ha đất canh tác nương rẫy, cùng với hoạt động săn bắt động vật hoang dã làm thực phẩm và buôn bán thương phẩm, xuất phát từ điều kiện kinh tế khó khăn với tỷ lệ hộ nghèo lên tới 70,1% tại xã vùng lõi Nà Hẩu.

Kết luận

  • Luận văn đã xác định toàn diện tính đa dạng sinh học của khu hệ động vật tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu với 38 loài được ghi nhận (27 loài bò sát và 11 loài lưỡng cư).
  • Phát hiện và bổ sung 3 loài mới cho danh lục khu hệ địa phương, trong đó nổi bật là loài Ếch cây sần (Rhacophorus appendiculatus).
  • Đánh giá chi tiết đặc điểm phân bố của các loài qua 5 dạng sinh cảnh, xác định sinh cảnh rừng tự nhiên và sông suối là nơi tập trung đa dạng sinh học cao nhất.
  • Xác định rõ các loài quý hiếm ưu tiên bảo tồn theo Sách Đỏ Việt Nam, Nghị định 32/2006/NĐ-CP và Công ước CITES.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp giữa quản lý rừng đặc dụng, tuần tra kiểm soát, giáo dục môi trường qua Lễ hội Cúng rừng và phát triển sinh kế cây quế bền vững.

Công trình là đóng góp học thuật quan trọng, hoàn thiện bộ cơ sở dữ liệu về tài nguyên sinh vật cho tỉnh Yên Bái. Trong giai đoạn tiếp theo, các cơ quan chức năng cần triển khai ngay việc rà soát cắm mốc ranh giới, nâng định mức chi trả giao khoán bảo vệ 9.863 ha rừng và thúc đẩy nghiên cứu sâu hơn về sinh thái học quần thể. Các nhà quản lý và nhà khoa học hãy chung tay ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn để bảo vệ vẹn nguyên nguồn tài nguyên đa dạng sinh học quý giá tại Nà Hẩu.