Nghiên cứu Khu Hệ Bò Sát, Lưỡng Cư và Bảo tồn tại Nà Hẩu, Yên Bái

Nghiên cứu khu hệ bò sát lưỡng cư tại Nà Hẩu, Yên Bái. Đề xuất giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học dựa trên đặc điểm sinh thái khu vực.

Chuyên ngành

Lâm học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

104
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

MỞ ĐẦU

1. Mục đích, mục tiêu nghiên cứu

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan thế giới

1.2. Tình hình nghiên cứu về Bò sát, Lƣỡng cƣ ở Việt Nam

1.3. Tóm tắt tình hình nghiên cứu Bò sát, Lƣỡng cƣ ở khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu

1.4. Đặc điểm các nhóm sinh thái của Lƣỡng cƣ , Bò sát

1.5. Đặc điểm của các nhóm sinh thái của Lƣỡng cƣ theo nơi ở

1.6. Đặc điểm các nhóm sinh thái của Bò sát phân theo nơi ở

1.7. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội

1.8. Khái quát đặc điểm dân sinh, kinh tế, xã hội

1.9. Hiện trạng tài nguyên rừng và sử dụng đất

1.10. Tài nguyên nƣớc

1.11. Tài nguyên nhân văn

1.12. Thực trạng cơ sở hạ tầng

1.13. Tiềm năng du lịch

2. NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tƣợng nghiên cứu

2.2. Nội dung nghiên cứu

2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu

2.4. Tham khảo tài liệu và công tác chuẩn bị

2.5. Phƣơng pháp phỏng vấn

2.6. Phƣơng pháp điều tra thành phần loài

2.7. Xác định các mối đe doạ đối với những loài Lƣỡng cƣ - Bò sát và sinh cảnh sống của chúng

2.8. Phƣơng pháp thu mẫu và xử lý mẫu Lƣỡng cƣ – Bò sát

2.9. Phƣơng pháp nội nghiệp

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Thành phần loài Bò sát, Lƣỡng cƣ tại khu bảo tồn

3.2. Mô tả đặc điểm và hình thái của một số loài Bò sát, Lƣỡng cƣ trong khu bảo tồn và loài mới đƣợc ghi nhận

3.3. Phân bố các loài Bò sát, Lƣỡng cƣ tại KBT Nà Hẩu theo sinh cảnh

3.4. Đề xuất các giải pháp bảo tồn khu hệ Bò sát, Lƣỡng cƣ

3.5. Bảo vệ sinh cảnh sống của các loài Bò sát, Lƣỡng cƣ

3.6. Kiểm soát săn bắt và buôn bán trái phép động vật hoang dã

3.7. Tuyên truyền, nâng cao năng lực quản lý bảo vệ rừng và giáo dục môi trường

3.8. Phát triển kinh tế bền vững

3.9. Hoạt động quản lý

4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Khám phá đa dạng sinh học bò sát lưỡng cư tại Yên Bái

Yên Bái, với vị trí địa lý đặc thù và hệ thống rừng núi phức tạp, là một trong những trung tâm đa dạng sinh học quan trọng của Việt Nam. Nổi bật trong đó là Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, một kho báu về tài nguyên động thực vật. Nghiên cứu về khu hệ bò sát và lưỡng cư tại đây không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn đặt nền móng cho các chiến lược bảo tồn bền vững. Các điều kiện tự nhiên tại Nà Hẩu, với địa hình núi cao, khí hậu nhiệt đới ẩm và hệ thống sông suối phong phú, đã tạo ra một môi trường sống lý tưởng cho nhiều loài động vật máu lạnh. Khu vực này là nơi hội tụ của nhiều luồng động thực vật, làm cho hệ sinh thái trở nên độc đáo và đa dạng. Theo nghiên cứu của Bùi Thị Thu Hằng (2015), hệ sinh thái rừng Yên Bái tại Nà Hẩu vẫn còn giữ được nhiều khu vực tương đối nguyên vẹn, là nơi trú ẩn an toàn cho các loài động vật hoang dã Yên Bái. Việc đánh giá chính xác thành phần loài và sự phân bố của chúng là bước đi đầu tiên và cần thiết để hiểu rõ giá trị của khu vực. Những dữ liệu khoa học thu thập được cung cấp cơ sở để hoạch định chính sách, phát triển các chương trình bảo tồn tại chỗ và nâng cao nhận thức cộng đồng. Sự giàu có về loài không chỉ giới hạn ở số lượng mà còn ở sự hiện diện của các loài bò sát đặc hữuloài lưỡng cư quý hiếm, nhiều loài trong số đó có tên trong Sách Đỏ Việt Nam và danh lục IUCN. Điều này khẳng định vai trò không thể thay thế của Yên Bái trong mạng lưới bảo tồn đa dạng sinh học quốc gia và toàn cầu. Việc tiếp tục nghiên cứu sâu hơn sẽ mở ra nhiều phát hiện mới, góp phần làm giàu thêm kho tàng tri thức về thế giới tự nhiên Việt Nam.

1.1. Đặc điểm hệ sinh thái rừng tại Khu bảo tồn Nà Hẩu

Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu thuộc huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái, mang đặc trưng của hệ sinh thái rừng núi đá vôi và núi đất điển hình cho vùng trung tâm ẩm Bắc Bộ. Khu vực có địa hình bị chia cắt mạnh, với các đỉnh núi cao từ 1000-1800m, tạo nên nhiều tiểu vùng khí hậu và sinh cảnh đa dạng. Thảm thực vật chính bao gồm kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới và rừng hỗn hợp lá rộng - lá kim. Sự đa dạng về thảm thực vật tạo ra nguồn thức ăn và nơi cư trú phong phú cho các loài động vật. Hệ thống sông suối dày đặc, bao gồm các lưu vực Ngòi Thia và Ngòi Hút, cung cấp nguồn nước dồi dào và môi trường sống thiết yếu cho nhiều loài lưỡng cư quý hiếm. Điều kiện tự nhiên này là nền tảng cốt lõi duy trì sự đa dạng sinh học cao của khu vực.

1.2. Sự phong phú của khu hệ Lưỡng cư và Bò sát bản địa

Kết quả điều tra ban đầu cho thấy đa dạng sinh học Yên Bái, đặc biệt là tại Nà Hẩu, rất đáng chú ý về khu hệ bò sát và lưỡng cư. Các nghiên cứu trước đây đã ghi nhận sơ bộ hàng chục loài, nhưng các cuộc khảo sát chuyên sâu gần đây đã bổ sung nhiều loài mới vào danh lục bò sát lưỡng cư của khu vực. Nghiên cứu của Bùi Thị Thu Hằng (2015) đã xác định được 27 loài bò sát thuộc 9 họ và 11 loài lưỡng cư thuộc 3 họ. Trong đó, họ Rắn nước (Colubridae) và họ Ếch nhái (Ranidae) chiếm ưu thế về số lượng loài. Sự phong phú này phản ánh chất lượng sinh cảnh sống của bò sát và lưỡng cư vẫn còn được bảo tồn tốt tại đây.

II. Top các mối đe dọa chính tới bò sát lưỡng cư Yên Bái

Mặc dù sở hữu sự đa dạng sinh học ấn tượng, khu hệ bò sát và lưỡng cư tại Yên Bái đang phải đối mặt với nhiều áp lực nghiêm trọng. Đây là những mối đe dọa đa dạng sinh học mang tính cấp bách, đòi hỏi sự can thiệp kịp thời để bảo vệ các loài động vật quý giá này. Thách thức lớn nhất đến từ việc suy thoái và mất sinh cảnh sống. Việc mở rộng diện tích canh tác nông nghiệp, đặc biệt là làm nương rẫy, đã xâm lấn vào các khu vực rừng tự nhiên. Hoạt động khai thác lâm sản trái phép, tuy đã giảm, vẫn còn tiềm ẩn nguy cơ phá vỡ cấu trúc rừng, làm thay đổi môi trường sống và nguồn thức ăn của nhiều loài. Khi môi trường sống bị thu hẹp và phân mảnh, các quần thể động vật sẽ bị cô lập, giảm khả năng giao phối và dễ bị tổn thương hơn trước các biến động. Bên cạnh đó, nạn săn bắt và buôn bán trái phép động vật hoang dã Yên Bái vẫn là một vấn đề nhức nhối. Nhiều loài bò sát như rùa, rắn, tắc kè có giá trị kinh tế cao trên thị trường chợ đen, trở thành mục tiêu săn lùng. Các loài lưỡng cư lớn như ếch, nhái cũng bị khai thác quá mức để làm thực phẩm. Thiếu nhận thức của một bộ phận người dân địa phương và hoạt động của các đối tượng săn bắt chuyên nghiệp đã đẩy nhiều loài đến bờ vực tuyệt chủng. Cuối cùng, biến đổi khí hậu và lưỡng cư là một mối liên hệ đáng báo động. Lưỡng cư đặc biệt nhạy cảm với sự thay đổi về nhiệt độ và độ ẩm, những yếu tố đang bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi biến đổi khí hậu toàn cầu, gây nguy cơ suy giảm quần thể trên diện rộng.

2.1. Suy giảm sinh cảnh sống do hoạt động của con người

Sinh cảnh sống tự nhiên của bò sát và lưỡng cư tại Yên Bái đang bị thu hẹp nhanh chóng. Nguyên nhân chính là do các hoạt động của con người như chuyển đổi đất rừng sang đất nông nghiệp, trồng cây công nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng. Các khu vực ven suối, vùng đất ngập nước – môi trường sinh sản thiết yếu của lưỡng cư – đang dần bị biến đổi. Việc phục hồi hệ sinh thái bị suy thoái là một nhiệm vụ khó khăn, đòi hỏi thời gian và nguồn lực lớn. Mất đi nơi ở và nguồn thức ăn là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự suy giảm số lượng cá thể của nhiều loài.

2.2. Vấn nạn săn bắt và buôn bán động vật hoang dã

Hoạt động ngăn chặn săn bắt trái phép là một ưu tiên hàng đầu trong công tác bảo tồn. Nhiều loài bò sát và lưỡng cư tại Yên Bái, đặc biệt là các loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam như Rùa hộp ba vạch, Rắn hổ mang chúa, Trăn mốc, bị săn bắt ráo riết để phục vụ nhu cầu làm thực phẩm, dược liệu hoặc buôn bán quốc tế. Theo các cuộc phỏng vấn người dân địa phương, tình trạng săn bắt vẫn diễn ra, dù mức độ đã giảm so với trước đây. Việc tăng cường tuần tra, kiểm soát và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm là yếu tố then chốt để bảo vệ các loài này.

III. Phương pháp nghiên cứu khoa học hệ bò sát lưỡng cư

Để có được bức tranh toàn cảnh và chính xác về khu hệ bò sát và lưỡng cư tại Yên Bái, các nhà khoa học đã áp dụng những phương pháp nghiên cứu chuyên sâu và hệ thống. Công tác nghiên cứu được tiến hành bài bản, kết hợp giữa khảo sát thực địa và phân tích trong phòng thí nghiệm. Nền tảng của nghiên cứu là phương pháp điều tra theo tuyến (line transect). Các nhà khoa học thiết lập những tuyến khảo sát có chiều dài từ 2-3 km, đi qua các dạng sinh cảnh đặc trưng như rừng nguyên sinh, rừng thứ sinh, nương rẫy và khu vực ven suối. Việc khảo sát thường được thực hiện vào ban đêm, là thời điểm hoạt động mạnh nhất của hầu hết các loài lưỡng cư và nhiều loài bò sát. Các thiết bị hỗ trợ như đèn pin chuyên dụng, máy định vị GPS và máy ảnh được sử dụng để ghi nhận vị trí, đặc điểm sinh cảnh và hình thái của các cá thể quan sát được. Song song với điều tra thực địa, phương pháp phỏng vấn người dân địa phương, cán bộ kiểm lâm và già làng cũng được áp dụng. Kỹ thuật này giúp thu thập các thông tin quý giá về kinh nghiệm bản địa, tên địa phương của các loài, khu vực phân bố và tình trạng săn bắt trong quá khứ. Đây là nguồn dữ liệu bổ sung quan trọng, giúp khoanh vùng các khu vực cần ưu tiên khảo sát và bảo tồn. Cuối cùng, việc thu thập và xử lý mẫu vật đóng vai trò quyết định trong việc định danh chính xác các loài, đặc biệt là những loài khó nhận dạng ngoài thực địa. Các mẫu vật được xử lý theo quy trình khoa học, từ gây mê, định hình đến bảo quản trong cồn để phục vụ cho công tác phân loại và lưu trữ sau này. Quá trình giám sát quần thể này cung cấp cơ sở dữ liệu tin cậy cho công tác quản lý và bảo tồn dài hạn.

3.1. Kỹ thuật khảo sát thực địa và phỏng vấn cộng đồng

Việc khảo sát thực địa được thực hiện trên các tuyến điều tra được thiết kế khoa học, xuyên qua nhiều loại sinh cảnh sống của bò sát. Các nhà nghiên cứu di chuyển chậm, quan sát và lắng nghe các dấu hiệu như tiếng kêu của ếch nhái hay tiếng động trong thảm mục. Ngoài ra, việc lật tìm dưới các tảng đá, khúc gỗ mục cũng giúp phát hiện các loài ẩn nấp. Phỏng vấn bán cấu trúc với người dân có kinh nghiệm đi rừng cung cấp các dữ liệu về sự hiện diện của các loài quý hiếm mà việc khảo sát trực tiếp có thể bỏ lỡ.

3.2. Quy trình thu thập xử lý mẫu vật và định danh loài

Khi phát hiện loài chưa thể định danh chắc chắn, mẫu vật sẽ được thu thập. Quá trình xử lý mẫu tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn đạo đức và khoa học. Mẫu vật được gây mê, chụp ảnh chi tiết các đặc điểm hình thái, đo đạc các chỉ số hình thái và bảo quản trong dung dịch cồn 70-90%. Việc định danh loài dựa trên các tài liệu chuyên khảo, khóa định loại uy tín như của Nguyễn Văn Sáng và cộng sự (2009), và so sánh với các mẫu vật trong các bộ sưu tập tham chiếu. Đây là bước quan trọng để xây dựng một danh lục bò sát lưỡng cư chính xác.

IV. Kết quả nổi bật về bò sát và lưỡng cư quý hiếm Yên Bái

Các nỗ lực nghiên cứu tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu đã mang lại những kết quả khoa học vô cùng giá trị, khẳng định tầm quan trọng của khu vực này đối với công tác bảo tồn đa dạng sinh học. Báo cáo nghiên cứu đã ghi nhận tổng cộng 38 loài, bao gồm 27 loài bò sát và 11 loài lưỡng cư. Con số này không chỉ bổ sung vào danh lục bò sát lưỡng cư Việt Nam mà còn cung cấp những dẫn liệu quan trọng về phân bố của các loài. Đáng chú ý, nghiên cứu đã phát hiện thêm 3 loài mới cho khu vực, gồm Ếch cây sần (Rhacophorus appendiculatus), Rắn lục đuôi đỏ (Trimeresurus albolabris), và Rắn sãi (Amphiesma sp.). Phát hiện này cho thấy tiềm năng khám phá các loài mới tại hệ sinh thái rừng Yên Bái vẫn còn rất lớn, đòi hỏi các cuộc điều tra sâu rộng hơn trong tương lai. Điểm nhấn quan trọng nhất của nghiên cứu là việc xác nhận sự tồn tại của nhiều loài bò sát nằm trong danh mục bị đe dọa ở cấp độ toàn cầu và quốc gia. Có tới 17 loài bò sát được ghi nhận tại Nà Hẩu có tên trong các văn bản pháp lý về bảo tồn, như Sách Đỏ Việt Nam (2007), Sách đỏ IUCN (2013), và Nghị định 32/2006/NĐ-CP. Trong đó, có những loài đang ở mức Cực kỳ nguy cấp (CR) như Rùa hộp ba vạch (Cuora trifasciata) và Rùa đất Spenglơ (Geoemyda spengleri), hay Nguy cấp (EN) như Rắn hổ mang chúa (Ophiophagus hannah) và Rùa đầu to (Platysternon megacephalum). Những phát hiện này là hồi chuông cảnh báo về sự cấp thiết của các chương trình cứu hộ động vật hoang dã và bảo vệ sinh cảnh.

4.1. Danh sách các loài bò sát và lưỡng cư được ghi nhận

Kết quả tổng hợp đã xây dựng được một danh lục bò sát lưỡng cư tương đối hoàn chỉnh cho KBT Nà Hẩu. Về bò sát, 27 loài thuộc 9 họ đã được xác định, trong đó họ Rắn nước (Colubridae) đa dạng nhất với 9 loài. Về lưỡng cư, 11 loài thuộc 3 họ được ghi nhận, với họ Ếch nhái (Ranidae) chiếm 6 loài. Sự đa dạng về thành phần họ và loài cho thấy cấu trúc quần xã động vật ở đây còn khá ổn định và phong phú.

4.2. Các loài quý hiếm trong Sách Đỏ Việt Nam và IUCN

Khu bảo tồn Nà Hẩu là nơi cư trú của nhiều loài có giá trị bảo tồn cao. Các loài bò sát quý hiếm được ghi nhận bao gồm: Trăn mốc (Python molurus, CR), Rắn hổ mang chúa (Ophiophagus hannah, EN), Rùa hộp ba vạch (Cuora trifasciata, CR), Rùa hộp trán vàng (Cuora galbinifrons, CR), Rùa đất Spenglơ (Geoemyda spengleri, CR), và Rùa đầu to (Platysternon megacephalum, EN). Đây đều là những loài được pháp luật Việt Nam và quốc tế bảo vệ ở mức cao nhất, đòi hỏi các biện pháp bảo tồn tại chỗ nghiêm ngặt.

V. Hướng dẫn giải pháp bảo tồn bò sát lưỡng cư Yên Bái

Dựa trên các kết quả nghiên cứu và đánh giá thực trạng, việc xây dựng và triển khai các giải pháp bảo tồn toàn diện là yêu cầu cấp bách để bảo vệ khu hệ bò sát và lưỡng cư tại Yên Bái. Các giải pháp này cần được tiếp cận một cách đồng bộ, từ bảo vệ sinh cảnh, thực thi pháp luật đến nâng cao nhận thức cộng đồng. Ưu tiên hàng đầu là thực hiện các biện pháp bảo tồn tại chỗ (in-situ). Điều này bao gồm việc bảo vệ nghiêm ngặt các khu vực rừng nguyên sinh, đặc biệt là các sinh cảnh quan trọng như ven suối và vùng đất ngập nước. Cần có kế hoạch phục hồi hệ sinh thái ở những khu vực bị suy thoái bằng cách trồng lại cây bản địa và hỗ trợ quá trình tái sinh tự nhiên. Hoạt động giám sát quần thể các loài quý hiếm cần được thực hiện định kỳ để theo dõi biến động số lượng và đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp. Bên cạnh đó, công tác thực thi pháp luật phải được tăng cường. Cần đẩy mạnh hoạt động tuần tra, kiểm soát của lực lượng kiểm lâm để ngăn chặn săn bắt trái phép và buôn bán động vật hoang dã. Việc phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương, cơ quan chức năng và cộng đồng trong việc cung cấp thông tin và xử lý vi phạm là vô cùng quan trọng. Các chế tài xử phạt cần đủ sức răn đe để triệt tiêu động lực kinh tế từ các hoạt động phi pháp. Cuối cùng, giáo dục môi trường là giải pháp mang tính nền tảng và bền vững. Tổ chức các chương trình truyền thông, nâng cao nhận thức cho người dân địa phương, đặc biệt là thế hệ trẻ, về giá trị của đa dạng sinh học và tầm quan trọng của việc bảo tồn. Lồng ghép các hoạt động này với việc phát triển sinh kế bền vững, như du lịch sinh thái Yên Bái, sẽ giúp giảm sự phụ thuộc của người dân vào tài nguyên rừng.

5.1. Tăng cường bảo vệ sinh cảnh và phục hồi hệ sinh thái

Giải pháp cốt lõi là bảo vệ toàn vẹn các sinh cảnh sống của bò sát và lưỡng cư. Cần xác định và khoanh vùng các khu vực có giá trị đa dạng sinh học cao để áp dụng chế độ bảo vệ nghiêm ngặt. Đồng thời, triển khai các dự án phục hồi hệ sinh thái tại các khu vực nương rẫy cũ hoặc rừng nghèo kiệt. Các chương trình như chương trình bảo tồn rùa, vốn yêu cầu môi trường sống đặc thù, sẽ được hưởng lợi trực tiếp từ các hoạt động này.

5.2. Nâng cao năng lực quản lý và giáo dục môi trường

Cần nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu thông qua các khóa tập huấn về kỹ năng tuần tra, giám sát và nhận dạng loài. Đồng thời, đẩy mạnh các chương trình giáo dục môi trường trong trường học và cộng đồng. Xây dựng các tài liệu truyền thông trực quan, dễ hiểu về các loài bò sát, lưỡng cư quý hiếm và vai trò của chúng trong hệ sinh thái để người dân hiểu, yêu quý và chung tay bảo vệ di sản thiên nhiên của địa phương.

22/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu nghiên cứu Bò sát – Lƣỡng cƣ ở Việt Nam có lẽ là sƣu tập mẫu Bò sát – Lƣỡng cƣ ở Nam Bộ do A.Morice (1875) thực hiện. Những nghiên cứu tiếp theo đƣợc thực hiện ở nhiều địa phƣơng ở Bắc bộ, Nam bộ, Trung bộ và một số đảo, Lào, Campuchia. Từ năm 1934-1944 trên các cơ sở các mẫu vật thu đƣợc ở các địa phƣơng khác nhau đƣợc lƣu trữ ở “Bảo Tàng động vật” Trƣờng đại học Đông Dƣơng, Bourret R. đã công bố hàng loạt công trình nghiên cứu về thành phần loài Bò sát – Lƣỡng cƣ ở Đông Dƣơng, đáng kể nhất là “ Les Serpents marins de I’Indochine francaise” (1934), “ Les Toutues de I’Indochine” (1941), “ Les Batrascinens de I’Indochine” (1942), “ Les leszards de I’Indochine”( không xuất bản).

Tất cả các công trình nghiên cứu Bò sát – Lƣỡng cƣ trong thời gian trƣớc năm 1945 chủ yếu tập trung điều tra, phát hiện thành phần loài, phân bố của chúng; chừng mực nhất định Bourret R. đã đề cập tới vấn đề địa động vật học khu hệ Bò sát – Lƣỡng cƣ ở Đông Dƣơng. Và trong khi mô tả những đặc điểm hình thái ngoài của cá thể trƣởng thành, để giải quyết vấn đề phân loại học, Bourret R. đã chú ý đến mô tả hình thái, kích thƣớc của nòng nọc một số loài lƣỡng cƣ sƣu tầm đƣợc.

Đào Văn Tiến (1997) là nhà khoa học Việt Nam đầu tiên đã tổng hợp và xây dựng khoá định loại cho 87 loài ếch nhái, 77 loài thằn lằn, 165 loài rắn, 32 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 6 loài rùa và 2 loài cá sấu [23]. Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (2005) cùng Nguyễn Quảng Trƣờng đã bổ xung thêm 38 loài Bò sát và 80 loài Lƣỡng cƣ nâng số Bò sát đƣợc phát hiện lên thành 296 loài và 162 loài Lƣỡng cƣ [17,18]; đây là kết quả nghiên cứu Lƣỡng cƣ, Bò sát ở nhiều vùng khác nhau, nhất là vùng núi, vùng sâu, vùng xa trên lãnh thổ Việt Nam. Không dừng lại ở đó, 3 năm sau khi công bố 458 loài Bò sát, Lƣỡng cƣ đƣợc xác định, ba tác giả này lại tiếp tục công bố thêm 84 loài mới và tổng hợp đầy đủ đƣợc 369 loài Bò sát và 176 loài Lƣỡng cƣ thuộc 6 bộ và 34 họ trong danh lục Bò sát, Lƣỡng cƣ Việt Nam 2009[19]. Lê Nguyên Ngật và đồng tác giả đã thống kê có 32 loài ếch nhái ở rừng Tam Đảo (1995) [11].

Năm 2004, công bố thành phần loài ở Hồ Núi Cốc gồm 18 loài LC, 44 loài BS trong đó có 13 loài ghi trong Sách Đỏ Việt Nam 2000, 3 loài trong Danh lục Đỏ IUCN 2000 [12], tới 2005 ghi nhận ở vùng này có 22 loài LC, 49 loài BS, xác định đƣợc 22 loài quý, hiếm; cùng nghiên cứu ở khu vực Thần Sa- Phƣợng Hoàng để bổ sung 16 loài cho danh sách LC, BS ở Thái Nguyên, tổng kết danh sách này có 80 loài [13]. Năm 2007, thống kê ở 3 huyện Chiêm Hóa, Nà Hang, Sơn Dƣơng của Tuyên Quang có 97 loài LC, BS (trong đó 43 loài LC thuộc 8 họ, 3 bộ và 54 loài BS thuộc 14 họ, 2 bộ) với 22 loài quý, hiếm; bổ sung 48 loài so với danh lục 2005 [15]; thống kê Hà Giang có 86 loài, gồm 49 loài LC, 37 loài BS (bổ sung 8 loài LC, 23 loài BS cho Hà Giang so với danh lục 2005) [16]. Năm 2008, bổ sung Sơn Động (Bắc Giang) thuộc vùng núi Tây Yên Tử vào khu phân bố đã biết của Thằn lằn cá sấu Shinisaurus crocodilusus là Quảng Tây (Trung Quốc) và Quảng Ninh. Hoàng Văn Ngọc, Lê Nguyên Ngật và đồng tác giả (2009) đã bổ sung Na Hang (Tuyên Quang) vào khu phân bố của Thằn lằn tốt mã bốn vạch Plestiodon quadrilineatus và Vị Xuyên (Hà Giang) vào khu phân bố của Thằn lằn tốt mã tam đảo Plestiodon tamdaoensis, ghi nhận vùng phân bố mới của thạch sùng đuôi dẹp Hemidactylus garnotii ở Hà Giang, Tuyên Quang và Chợ Đồn.

Những nghiên cứu của một số tác giả nhƣ Lê Nguyên Ngật, Hoàng Văn Ngọc, Nguyễn Đức Hùng, thực hiện điều tra về thành phần loài loài Bò sát – Lƣỡng cƣ tại các vùng núi, các khu bảo tồn, các vƣờn quốc gia trên khắp đất Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 7 nƣớc nhằm khẳng định lần nữa tính đa dạng sinh học về các loài Bò sát – Lƣỡng cƣ ở Việt Nam. Thông qua các điều tra, nghiên cứu này đã phát hiện ra các loài Bò sát – Lƣỡng cƣ mới ở Việt Nam. Những phát hiện mới này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc đóng góp các loài mới cho khoa học, khẳng định đƣợc sự đa dạng và phong phú của thế giới các loài động thực vật ở Việt Nam [10]. Có thể nói, nghiên cứu về thành phần loài Bò sát, Lƣỡng cƣ ở Việt Nam đƣợc nhiều tác giả quan tâm.

Kể từ năm 1996 đến nay, số loài mới đƣợc biết đến ngày càng nhiều, đã chứng tỏ sự đầu tƣ nghiên cứu trên lĩnh vực này ngày càng tăng cả về số lƣợng và chất lƣợng, đây còn là lĩnh vực hứa hẹn sẽ mang lại thành công cho các tổ chức, cá nhân quan tâm đến nó. Ví dụ nhƣ năm 2008 các nhà khoa học thuộc Bộ môn Động vật, khoa Sinh học – Đại học Vinh, vừa phát hiện một loài thạch sùng mới có tên gọi là Thạch sùng ngón châu quang, tại vùng núi đá vôi xã Châu Quang, huyện Quỳ Hợp, Nghệ An nằm trong vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống [22]. Năm 2011, nhà nghiên cứu động vật Ngô Văn Trí, phòng công nghệ và quản lý môi trƣờng, viện Sinh học nhiệt đới (thuộc viện Khoa học và công nghệ Việt Nam) và tiến sĩ Tony Gamble, khoa di truyền – sinh học tế bào và phát triển, trƣờng đại học Minnesota (Mỹ) công bố thêm một loài thằn lằn đá mới ở mũi Cà Ná, tỉnh Bình Thuận. Loài thằn lằn này đƣợc đặt tên theo địa danh thu mẫu – thằn lằn đá Cà Ná – Gekko canaensis sp.

Công trình này đƣợc công bố trên tạp chí phân loại động vật quốc tế Zootaxa 2890, số ra cuối tháng 5. Hay gần đây nhất, năm 2013, các nhà khoa học đã phát hiện ra loài mới tên là Ễnh ƣơng Đông Dƣơng Kaloula indochinensis dựa theo vùng phân bố của chúng ở ba nƣớc Đông Dƣơng gồm Việt Nam, Lào và Campuchia. Đây là loài ễnh ƣơng thứ ba ghi nhận ở Việt Nam bên cạnh loài ễnh ƣơng thƣờng và Ễnh ƣơng vạc. Kết quả nghiên cứu công bố trên tạp chí chuyên về bò sát lƣỡng cƣ Herpetologica tháng 9/2013 [28].

Không thể kể hết các đóng góp của các nhà khoa học trong việc bảo tồn và giữ gìn sự đa dạng sinh học của các loài Bò sát – Lƣỡng cƣ tại Việt Nam. Tuy nhiên trong Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 8 khuân khổ của đề tài này, tôi lựa chọn sự phân loại Bò sát - Lƣỡng cƣ theo Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trƣờng năm 2009 để làm cơ sở cho việc định loại các loài Bò sát - Lƣỡng cƣ trong khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu. Theo các tác giả này, đến năm 2009, Việt Nam có 369 loài Bò sát thuộc 24 họ của 3 bộ, 176 loài Lƣỡng cƣ thuộc 10 họ của 3 bộ [18]. Nhìn chung công tác nghiên cứu Bò sát, Lƣỡng cƣ từ năm 1954 đến nay ngày càng đƣợc quan tâm.

Những năm gần đây, từ nghiên cứu khu hệ đã chuyển dần sang nghiên cứu sinh thái, sinh học một số loài có giá trị kinh tế. Lê Vũ Khôi (2007) đã chỉ ra rằng Bò sát, Lƣỡng cƣ có ý nghĩa quan trọng trong quần xã sinh vật, nhất là ở miền nhiệt đới. Chúng bắt nhiều loài sâu bệnh hại cây trồng, côn trùng…hại nông nghiệp; bên cạnh đó chúng còn là thức ăn cho nhiều loài động vật khác nhƣ chim, thú và cả bò sát lớn, chúng là mắt xích trong thành phần hệ sinh thái. Ngoài ra, Bò sát, Lƣỡng cƣ là nguồn thực phẩm, làm nguồn dƣợc liệu, là các mặt hàng có giá trị cho con ngƣời [19].

Giá trị kinh tế, sinh thái, bảo tồn của Bò sát, Lƣỡng cƣ còn đề cập tới trong sách đỏ Việt Nam 2007 từ trang 219 đến trang 262. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã cung cấp rất nhiều thông tin về thành phần loài Bò sát, Lƣỡng cƣ ở các khu vực nghiên cứu cũng nhƣ những đóng góp loài mới cho khoa học. Ngoài ra, sự phân bố của Bò sát, Lƣỡng cƣ theo sinh cảnh đƣợc nhiều tác giả đề cập tới khác nhau trên các vùng nhƣ nghiên cứu của Nguyễn Quảng Trƣờng và Hồ Thu Cúc ở vùng Đông Bắc và nghiên cứu của Ngô Đắc Trứng và Trần Hậu Khanh thuộc trƣờng Đại học Sƣ Phạm Huế. Nghiên cứu ở phía Tây tỉnh Đắc Nông không đề cập tới vấn đề này.

Việc nghiên cứu Bò sát, Lƣỡng cƣ theo sinh cảnh có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định phân bố của chúng trong khu vực để phục vụ cho công tác quản lý bảo tồn Bò sát, Lƣỡng cƣ khi môi trƣờng sống của chúng bị tác động. Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu khoa học đều chƣa đề cập sâu tới phƣơng pháp nghiên cứu. Mặc dù phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc giới thiệu nhƣng sẽ hạn chế rất nhiều cho những ai đang quan tâm trên lĩnh vực này vì không nắm đƣợc các tác giả điều tra nghiên cứu nhƣ thế nào. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.

Tóm tắt tình hình nghiên cứu Bò sát, Lƣỡng cƣ ở khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Nà Hẩu đƣợc thành lập theo Quyết định số 512/QĐ-UB ngày 09/10/2006 của UBND tỉnh Yên Bái. Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu nằm trên địa bàn các xã Nà Hẩu, Đại Sơn, Mỏ Vàng và Phong Dụ Thƣợng thuộc huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái với diện tích 16. Đây là khu vực có các hệ sinh thái rừng tự nhiên mang tính điển hình của vùng núi phía Bắc nƣớc ta. Những kết quả điều tra, nghiên cứu ban đầu cho thấy, khu rừng này ngoài tính đa dạng sinh học về thảm thực vật, khu hệ thực vật và động vật, còn có những mẫu rừng tƣơng đối nguyên sinh là kiểu rừng kín thƣờng xanh mƣa ẩm á nhiệt đới tiêu biểu cho vùng Trung tâm ẩm miền Bắc Việt Nam.

Theo báo cáo về điều tra thực vật của trƣờng Đại học Lâm Nghiệp năm 2009 đã thống kê đƣợc 516 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 332 chi và 126 họ; 129 loài động vật có xƣơng sống thuộc 54 họ và 17 bộ của 4 lớp thú, chim, bò sát và ếch nhái đã đƣợc ghi nhận trong báo cáo điều tra ĐDSH của VCF năm 2012.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ