Mở đầu nghiên cứu Bò sát – Lƣỡng cƣ ở Việt Nam có lẽ là sƣu tập mẫu Bò sát – Lƣỡng cƣ ở Nam Bộ do A.Morice (1875) thực hiện. Những nghiên cứu tiếp theo đƣợc thực hiện ở nhiều địa phƣơng ở Bắc bộ, Nam bộ, Trung bộ và một số đảo, Lào, Campuchia. Từ năm 1934-1944 trên các cơ sở các mẫu vật thu đƣợc ở các địa phƣơng khác nhau đƣợc lƣu trữ ở “Bảo Tàng động vật” Trƣờng đại học Đông Dƣơng, Bourret R. đã công bố hàng loạt công trình nghiên cứu về thành phần loài Bò sát – Lƣỡng cƣ ở Đông Dƣơng, đáng kể nhất là “ Les Serpents marins de I’Indochine francaise” (1934), “ Les Toutues de I’Indochine” (1941), “ Les Batrascinens de I’Indochine” (1942), “ Les leszards de I’Indochine”( không xuất bản).
Tất cả các công trình nghiên cứu Bò sát – Lƣỡng cƣ trong thời gian trƣớc năm 1945 chủ yếu tập trung điều tra, phát hiện thành phần loài, phân bố của chúng; chừng mực nhất định Bourret R. đã đề cập tới vấn đề địa động vật học khu hệ Bò sát – Lƣỡng cƣ ở Đông Dƣơng. Và trong khi mô tả những đặc điểm hình thái ngoài của cá thể trƣởng thành, để giải quyết vấn đề phân loại học, Bourret R. đã chú ý đến mô tả hình thái, kích thƣớc của nòng nọc một số loài lƣỡng cƣ sƣu tầm đƣợc.
Đào Văn Tiến (1997) là nhà khoa học Việt Nam đầu tiên đã tổng hợp và xây dựng khoá định loại cho 87 loài ếch nhái, 77 loài thằn lằn, 165 loài rắn, 32 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 6 loài rùa và 2 loài cá sấu [23]. Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (2005) cùng Nguyễn Quảng Trƣờng đã bổ xung thêm 38 loài Bò sát và 80 loài Lƣỡng cƣ nâng số Bò sát đƣợc phát hiện lên thành 296 loài và 162 loài Lƣỡng cƣ [17,18]; đây là kết quả nghiên cứu Lƣỡng cƣ, Bò sát ở nhiều vùng khác nhau, nhất là vùng núi, vùng sâu, vùng xa trên lãnh thổ Việt Nam. Không dừng lại ở đó, 3 năm sau khi công bố 458 loài Bò sát, Lƣỡng cƣ đƣợc xác định, ba tác giả này lại tiếp tục công bố thêm 84 loài mới và tổng hợp đầy đủ đƣợc 369 loài Bò sát và 176 loài Lƣỡng cƣ thuộc 6 bộ và 34 họ trong danh lục Bò sát, Lƣỡng cƣ Việt Nam 2009[19]. Lê Nguyên Ngật và đồng tác giả đã thống kê có 32 loài ếch nhái ở rừng Tam Đảo (1995) [11].
Năm 2004, công bố thành phần loài ở Hồ Núi Cốc gồm 18 loài LC, 44 loài BS trong đó có 13 loài ghi trong Sách Đỏ Việt Nam 2000, 3 loài trong Danh lục Đỏ IUCN 2000 [12], tới 2005 ghi nhận ở vùng này có 22 loài LC, 49 loài BS, xác định đƣợc 22 loài quý, hiếm; cùng nghiên cứu ở khu vực Thần Sa- Phƣợng Hoàng để bổ sung 16 loài cho danh sách LC, BS ở Thái Nguyên, tổng kết danh sách này có 80 loài [13]. Năm 2007, thống kê ở 3 huyện Chiêm Hóa, Nà Hang, Sơn Dƣơng của Tuyên Quang có 97 loài LC, BS (trong đó 43 loài LC thuộc 8 họ, 3 bộ và 54 loài BS thuộc 14 họ, 2 bộ) với 22 loài quý, hiếm; bổ sung 48 loài so với danh lục 2005 [15]; thống kê Hà Giang có 86 loài, gồm 49 loài LC, 37 loài BS (bổ sung 8 loài LC, 23 loài BS cho Hà Giang so với danh lục 2005) [16]. Năm 2008, bổ sung Sơn Động (Bắc Giang) thuộc vùng núi Tây Yên Tử vào khu phân bố đã biết của Thằn lằn cá sấu Shinisaurus crocodilusus là Quảng Tây (Trung Quốc) và Quảng Ninh. Hoàng Văn Ngọc, Lê Nguyên Ngật và đồng tác giả (2009) đã bổ sung Na Hang (Tuyên Quang) vào khu phân bố của Thằn lằn tốt mã bốn vạch Plestiodon quadrilineatus và Vị Xuyên (Hà Giang) vào khu phân bố của Thằn lằn tốt mã tam đảo Plestiodon tamdaoensis, ghi nhận vùng phân bố mới của thạch sùng đuôi dẹp Hemidactylus garnotii ở Hà Giang, Tuyên Quang và Chợ Đồn.
Những nghiên cứu của một số tác giả nhƣ Lê Nguyên Ngật, Hoàng Văn Ngọc, Nguyễn Đức Hùng, thực hiện điều tra về thành phần loài loài Bò sát – Lƣỡng cƣ tại các vùng núi, các khu bảo tồn, các vƣờn quốc gia trên khắp đất Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 7 nƣớc nhằm khẳng định lần nữa tính đa dạng sinh học về các loài Bò sát – Lƣỡng cƣ ở Việt Nam. Thông qua các điều tra, nghiên cứu này đã phát hiện ra các loài Bò sát – Lƣỡng cƣ mới ở Việt Nam. Những phát hiện mới này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc đóng góp các loài mới cho khoa học, khẳng định đƣợc sự đa dạng và phong phú của thế giới các loài động thực vật ở Việt Nam [10]. Có thể nói, nghiên cứu về thành phần loài Bò sát, Lƣỡng cƣ ở Việt Nam đƣợc nhiều tác giả quan tâm.
Kể từ năm 1996 đến nay, số loài mới đƣợc biết đến ngày càng nhiều, đã chứng tỏ sự đầu tƣ nghiên cứu trên lĩnh vực này ngày càng tăng cả về số lƣợng và chất lƣợng, đây còn là lĩnh vực hứa hẹn sẽ mang lại thành công cho các tổ chức, cá nhân quan tâm đến nó. Ví dụ nhƣ năm 2008 các nhà khoa học thuộc Bộ môn Động vật, khoa Sinh học – Đại học Vinh, vừa phát hiện một loài thạch sùng mới có tên gọi là Thạch sùng ngón châu quang, tại vùng núi đá vôi xã Châu Quang, huyện Quỳ Hợp, Nghệ An nằm trong vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống [22]. Năm 2011, nhà nghiên cứu động vật Ngô Văn Trí, phòng công nghệ và quản lý môi trƣờng, viện Sinh học nhiệt đới (thuộc viện Khoa học và công nghệ Việt Nam) và tiến sĩ Tony Gamble, khoa di truyền – sinh học tế bào và phát triển, trƣờng đại học Minnesota (Mỹ) công bố thêm một loài thằn lằn đá mới ở mũi Cà Ná, tỉnh Bình Thuận. Loài thằn lằn này đƣợc đặt tên theo địa danh thu mẫu – thằn lằn đá Cà Ná – Gekko canaensis sp.
Công trình này đƣợc công bố trên tạp chí phân loại động vật quốc tế Zootaxa 2890, số ra cuối tháng 5. Hay gần đây nhất, năm 2013, các nhà khoa học đã phát hiện ra loài mới tên là Ễnh ƣơng Đông Dƣơng Kaloula indochinensis dựa theo vùng phân bố của chúng ở ba nƣớc Đông Dƣơng gồm Việt Nam, Lào và Campuchia. Đây là loài ễnh ƣơng thứ ba ghi nhận ở Việt Nam bên cạnh loài ễnh ƣơng thƣờng và Ễnh ƣơng vạc. Kết quả nghiên cứu công bố trên tạp chí chuyên về bò sát lƣỡng cƣ Herpetologica tháng 9/2013 [28].
Không thể kể hết các đóng góp của các nhà khoa học trong việc bảo tồn và giữ gìn sự đa dạng sinh học của các loài Bò sát – Lƣỡng cƣ tại Việt Nam. Tuy nhiên trong Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 8 khuân khổ của đề tài này, tôi lựa chọn sự phân loại Bò sát - Lƣỡng cƣ theo Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trƣờng năm 2009 để làm cơ sở cho việc định loại các loài Bò sát - Lƣỡng cƣ trong khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu. Theo các tác giả này, đến năm 2009, Việt Nam có 369 loài Bò sát thuộc 24 họ của 3 bộ, 176 loài Lƣỡng cƣ thuộc 10 họ của 3 bộ [18]. Nhìn chung công tác nghiên cứu Bò sát, Lƣỡng cƣ từ năm 1954 đến nay ngày càng đƣợc quan tâm.
Những năm gần đây, từ nghiên cứu khu hệ đã chuyển dần sang nghiên cứu sinh thái, sinh học một số loài có giá trị kinh tế. Lê Vũ Khôi (2007) đã chỉ ra rằng Bò sát, Lƣỡng cƣ có ý nghĩa quan trọng trong quần xã sinh vật, nhất là ở miền nhiệt đới. Chúng bắt nhiều loài sâu bệnh hại cây trồng, côn trùng…hại nông nghiệp; bên cạnh đó chúng còn là thức ăn cho nhiều loài động vật khác nhƣ chim, thú và cả bò sát lớn, chúng là mắt xích trong thành phần hệ sinh thái. Ngoài ra, Bò sát, Lƣỡng cƣ là nguồn thực phẩm, làm nguồn dƣợc liệu, là các mặt hàng có giá trị cho con ngƣời [19].
Giá trị kinh tế, sinh thái, bảo tồn của Bò sát, Lƣỡng cƣ còn đề cập tới trong sách đỏ Việt Nam 2007 từ trang 219 đến trang 262. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã cung cấp rất nhiều thông tin về thành phần loài Bò sát, Lƣỡng cƣ ở các khu vực nghiên cứu cũng nhƣ những đóng góp loài mới cho khoa học. Ngoài ra, sự phân bố của Bò sát, Lƣỡng cƣ theo sinh cảnh đƣợc nhiều tác giả đề cập tới khác nhau trên các vùng nhƣ nghiên cứu của Nguyễn Quảng Trƣờng và Hồ Thu Cúc ở vùng Đông Bắc và nghiên cứu của Ngô Đắc Trứng và Trần Hậu Khanh thuộc trƣờng Đại học Sƣ Phạm Huế. Nghiên cứu ở phía Tây tỉnh Đắc Nông không đề cập tới vấn đề này.
Việc nghiên cứu Bò sát, Lƣỡng cƣ theo sinh cảnh có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định phân bố của chúng trong khu vực để phục vụ cho công tác quản lý bảo tồn Bò sát, Lƣỡng cƣ khi môi trƣờng sống của chúng bị tác động. Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu khoa học đều chƣa đề cập sâu tới phƣơng pháp nghiên cứu. Mặc dù phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc giới thiệu nhƣng sẽ hạn chế rất nhiều cho những ai đang quan tâm trên lĩnh vực này vì không nắm đƣợc các tác giả điều tra nghiên cứu nhƣ thế nào. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.
Tóm tắt tình hình nghiên cứu Bò sát, Lƣỡng cƣ ở khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Nà Hẩu đƣợc thành lập theo Quyết định số 512/QĐ-UB ngày 09/10/2006 của UBND tỉnh Yên Bái. Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu nằm trên địa bàn các xã Nà Hẩu, Đại Sơn, Mỏ Vàng và Phong Dụ Thƣợng thuộc huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái với diện tích 16. Đây là khu vực có các hệ sinh thái rừng tự nhiên mang tính điển hình của vùng núi phía Bắc nƣớc ta. Những kết quả điều tra, nghiên cứu ban đầu cho thấy, khu rừng này ngoài tính đa dạng sinh học về thảm thực vật, khu hệ thực vật và động vật, còn có những mẫu rừng tƣơng đối nguyên sinh là kiểu rừng kín thƣờng xanh mƣa ẩm á nhiệt đới tiêu biểu cho vùng Trung tâm ẩm miền Bắc Việt Nam.
Theo báo cáo về điều tra thực vật của trƣờng Đại học Lâm Nghiệp năm 2009 đã thống kê đƣợc 516 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 332 chi và 126 họ; 129 loài động vật có xƣơng sống thuộc 54 họ và 17 bộ của 4 lớp thú, chim, bò sát và ếch nhái đã đƣợc ghi nhận trong báo cáo điều tra ĐDSH của VCF năm 2012.