Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài: Nội dung của chương nhằm làm rõ những vấn đề về cơ sở lý luận và cách tiếp cận của đề tài, các quan điểm định hướng của Đảng và Nhà nước về Bảo hiểm y tế, tổng quan các vấn đề nghiên cứu, đặc điểm địa bàn nghiên cứu, trình bày một số khái niệm công cụ và các lý thuyết vận dụng vào nghiên cứu. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chương 2: Thực trạng sở hữu bảo hiểm y tế của người dân tại Hà Nội, nhằm mô tả mức độ người dân tham gia bảo hiểm y tế; Các loại hình tham gia, thời gian tham gia, lý do tham gia bảo hiểm y tế; Những yếu tố ảnh hưởng đến việc sở hữu bảo hiểm y tế của người dân tại địa bàn nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng sử dụng bảo hiểm y tế của người dân tại Hà Nội: Mức độ sử dụng bảo hiểm y tế của người dân (Tỷ lệ, tần xuất, địa điểm); Hiệu quả sử dụng bảo hiểm y tế qua ý kiến của người dân; Những yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng bảo hiểm y tế của người dân tại địa bàn nghiên cứu. Phần kết luận và kiến nghị: Phần Kết luận: Đưa ra những kết luận khái quát về thực trạng sở hữu và sử dụng BHYT của người dân Hà Nội hiện nay.
Phần Khuyến nghị: Đề xuất một số khuyến nghị nhằm khuyến khích sự tham gia của người dân cũng như bổ khuyết về mặt chính sách cho hoạt động triển khai và thực hiện BHYT hiện nay. Phần tài liệu tham khảo và phụ lục. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com NỘI DUNG CHÍNH CHƢƠNG I. CỞ SỞ LÝ LUẬN, CÁC KHÁI NIỆM, ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ CÁC LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU.
Tổng quan nghiên cứu của đề tài Các công trình nghiên cứu trên đã tập trung vào phân tích vị trí, vai trò của BHYT ở cả hai khía cạnh lý luận và thực tiễn, đồng thời đã đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện chế độ, chính sách về BHYT hiện nay. Để đáp ứng với nhu cầu thực tiễn về chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong thời kỳ Đổi mới, Đảng ta đã chỉ rõ quan điểm xã hội hoá y tế nhằm chia sẻ trách nhiệm tới tất cả các ban, ngành, tổ chức xã hội và cá nhân. Cũng chính vì vậy, trong suốt thời gian qua có khá nhiều các nghiên cứu về vấn đề này. Với mục tiêu (1) nghiên cứu thực trạng và những bài học kinh nghiệm từ việc triển khai BHYTTN cho nông dân ở một số địa phương; (2) làm cơ sở đề xuất giải pháp nhằm tăng cường khả năng để người dân sống ở nông thôn có thể tham gia BHYT, nghiên cứu Thực trạng BHYT nông dân tại Hải Phòng và Thái Bình năm 2002 do Viện Chiến lược và Chính sách Y tế tiến hành qua phân tích tài liệu thứ cấp với điều tra cắt ngang và đánh giá nhanh bằng bộ câu hỏi bán cấu trúc đã chỉ ra rằng: Số người tham gia BHYT toàn quốc tăng dần hàng năm (Năm 1993 mới bao phủ 5,4%, năm 2001 là 14% dân số); Nguồn thu BHYT bằng khoảng 50% ngân sách Nhà nước dành cho KCB.
Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy: BHYT tự nguyện cho người nông dân tại hai địa phương này được triển khai ngay từ những ngày đầu có BHYT. Tuy nhiên, có nhiều nguyên nhân dẫn đến không bền vững như: chưa có sự hỗ trợ từ Nhà nước; chưa hiểu biết đầy đủ; quyền lợi và khả năng tiếp cận với dịch vụ y tế chưa tốt; có sự phân biệt đối xử; lòng tin của người dân đối với BHYT chưa cao; tình trạng lựa chọn ngược; không cân đối được quỹ,v. Các nghiên cứu về vai trò của BHYT trong hệ thống an sinh xã hội. Năm 2003, đề tài cấp Nhà nước về Nghiên cứu thực trạng và xây dựng mô hình huy động xã hội thực hiện xã hội hoá y tế đảm bảo công bằng và hiệu quả trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân nhằm mục tiêu: Xây dựng mô hình chăm sóc sức khoẻ nhân dân phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam, và huy động xã hội 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thực hiện xã hội hoá y tế, đảm bảo công bằng và hiệu quả trong CSSK.
Nghiên cứu đã tập trung mô tả và phân tích các chính sách về khám chữa bệnh cho người nghèo, người trong diện chính sách, các chính sách với những v ùng khó khăn. Việc CSSK cho người nghèo đã được quan tâm thực hiện với nhiều hình thức khác nhau như: chương trình y tế quốc gia hướng tới các vùng có khó khăn, chính sách miễn giảm phí KCB, thẻ KCB và thẻ BHYT cho người nghèo. Ngoài ra còn có nhiều hình thức từ thiện khác như: Bệnh viện miễn phí cho người nghèo, phòng khám từ thiện. Nghiên cứu cũng đã nêu những khó khăn gặp phải trong thực tế khiến cho các chính sách này chưa thật sự mang lại hiệu quả như mong muốn và người nghèo vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ khám chữa bệnh.
Các nghiên cứu về thực trạng và những bài học kinh nghiệm từ việc triển khai Bảo hiểm y tế. Năm 2006, Viện Chiến lược và Chính sách Y tế tiến hành cuộc điều tra Tình hình BHYT, sử dụng dịch vụ y tế và chi tiêu y tế tại hai tỉnh Hải Dương và Bắc Giang với tổng số 2.394 hộ gia đình được phỏng vấn. Bên cạnh điều tra hộ gia đình, thông tin về BHYT như độ bao phủ, doanh thu, tình hình sử dụng và chi tiêu cho khám chữa bệnh của các thành viên BHYT đã được khảo sát tại cơ quan BHYT và bệnh viện huyện thông qua các mẫu khảo sát được thiết kế sẵn. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Độ bao phủ của BHYT tại các huyện nghiên cứu dao động từ 40-50%.
Học sinh, sinh viên là thành phần chủ yếu tham gia BHYT tự nguyện. Có khoảng 70% nông dân chưa có BHYT. Người nghèo chiếm tỷ trọng cao trong tổng số người tham gia BHYT, tuy nhiên vẫn còn khoảng 20-30% hộ gia đình báo cáo thuộc diện hộ nghèo nhưng vẫn chưa được cấp thẻ BHYT. Những biểu hiện lựa chọn ngược trong việc tham gia BHYT của đối tượng hội đoàn thể biểu hiện khá rõ.
Hiểu biết và nhận thức về BHYT trong người dân còn rất hạn chế. Khó khăn về tài chính là lý do chủ yếu không tham gia BHYT tự nguyện. Về hành vi tìm kiếm dịch vụ y tế, tỷ lệ ốm không đi khám bệnh thấp nhưng tỷ lệ tự điều trị vẫn cao, đặc biệt tại Hải Dương. Người có BHYT sử dụng dịch vụ y tế nhiều hơn người không có thẻ BHYT.
So với năm 2005, người nghèo đi khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế nhiều 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Mức độ hài lòng với dịch vụ y tế trong số các bệnh nhân BHYT thấp hơn bệnh nhân tự trả phí. Hai vấn đề chủ yếu làm bệnh nhân ít hài lòng là điều kiện cơ sở vật chất và thái độ của nhân viên y tế. BHYT đã giảm rõ rệt chi phí khám chữa bệnh cả ngoại trú và nội trú.
Tuy nhiên, bệnh nhân BHYT vẫn phải trả một khoản đáng kể khi đi khám chữa bệnh. Báo cáo kết quả nghiên cứu định tính của Viện Chiến lược và Chính sách Y tế năm 2007 về Phát triển BHYT ở nông thôn công bằng và bền vững nhằm nâng cao chăm sóc sức khoẻ người dân: Mục tiêu nghiên cứu là nhằm tìm hiểu nhận thức của các nhóm đối tượng khác nhau về BHYT, tìm hiều kiến thức/hiểu biết của người dân về các mô hình BHYT hiện tại, phân tích khả năng tham gia BHYT của người dân và nêu lên một số khuyến nghị phục vụ xây dựng các can thiệp hợp lý. Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính gồm phỏng vấn sâu v à thảo luận nhóm. Đối tượng đích nghiên cứu bao gồm đại diện chính quyền địa ph ương, đại diện ngành y tế và BHXH các cấp, đại diện các tổ chức xã hội, đoàn thể và các nhóm dân cư tham gia BHYT và không tham gia BHYT.
Kết quả nghiên cứu: (1) Hầu hết các đối tượng tham gia nghiên cứu nhận thức được mục đích và ý nghĩa của BHYT. Các nhóm đối tượng khác nhau nhận thức về BHYT ở mức độ khác nhau; (2) Hiểu biết về các mô hình BHYT của các đối tượng nghiên cứu khác nhau ở mức độ khác nhau. Nhóm tham gia BHYT bắt buộc hiểu biết khá đầy đủ về các mô h ình BHYT trong khi các nhóm còn lại hiểu biết hạn chế hơn; (3) Trừ nhóm tham gia BHYT bắt buộc, các nhóm khác không h ài lòng với các mô hình BHYT hiện tại. Lý do khiến các nhóm không h ài lòng gồm: mức phí BHYT cao, thẻ BHYT được cấp phát chậm chễ, thông tin trên thẻ không chính xác, thiếu thông tin về BHYT và không có cơ chế phản hồi.
Các đối tượng tham gia nghiên cứu không hài lòng với dịch vụ KCB BHYT do phải chờ đợi lâu, quy trình KCB phức tạp, dịch vụ kém chất lượng, quyền lợi được hưởng hạn chế, thái độ của nhân viên y tế thiếu tận tình; (4) Người dân không sẵn sàng tham gia BHYT do thuốc BHYT và các dịch vụ xét nghiệm tại bệnh viện còn hạn chế; (5) Nhiều người dân chỉ sử dụng thẻ BHYT khi đi KCB nội trú. Khi ốm đau, người dân lựa chọn KCB tại cơ sở y tế nhà nước hay tư nhân phụ thuộc vào mức độ nặng nhẹ của bệnh. Người dân thường đến các cơ sở 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com y tế tư nhân và mua thuốc tại nhà thuốc tư khi mắc các bệnh thông thường. Mua thuốc tại nhà thuốc tư là hiện tượng phổ biến đối với cả người có BHYT và không có BHYT; (6) Việc triển khai các chính sách BHYT trên thực tế đang phải đối mặt với n hiều khó khăn về phía cả cơ quan BHXH và các cơ sở cung ứng dịch vụ y tế.
Về phía cơ quan BHYT, đội ngũ tuyên truyền cung cấp thông tin về BHYT không đ ược tập huấn/đào tạo nâng cao kỹ năng truyền thông, kinh phí cho truyền thông còn hạn chế, cán bộ Bảo hiểm xã hội Việt Nam làm công tác giám định tại các cơ sở y tế còn thiếu, cơ chế giám sát triển khai BHYT chưa được thực hiện.