Chương 1 giới thiệu về tình hình bảo hiểm chung tại các vùng nông thôn Việt Nam hiện và vai trò tiềm năng thay thể bảo hiểm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 của tôn giáo, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng - phạm vị thực hiện nghiên cứu và cấu trúc của bài viết. Chương 2 trình bày tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm. Chương 3 trình bày các mô hình kinh tế trong các nghiên cứu có liên quan và mô hình thực nghiệm của đề tài, sau đó là phương pháp nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu và mô tả các biến. Chương 4 trình bày tổng quan tình hình tôn giáo tại Việt Nam, thống kê mô tả về dữ liệu nghiên cứu, phân tích hồi quy, các bước kiểm định và kết quả nghiên cứu.
Chương 5 trình bày những kết luận đã đạt được cũng như đưa ra các chính sách kiến nghị từ kết quả đồng thời nhận xét các mặt còn hạn chế, các hướng nghiên cứu mới có liên quan trong tương lai. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2.1 Ba giả thiết cơ bản Việc tham gia bảo hiểm mang lại những chi phí và lợi ích mà các cá nhân phải cân nhắc trước khi lựa chọn. Tương tự, khi các cá nhân tham gia một hội nhóm tôn giáo, chi phí bỏ ra và những lợi ích mà tôn giáo mang lại cũng được các cá nhân hành động duy lý cân nhắc tính toán kỹ thiệt hơn. Nếu một cá nhân chấp nhận tôn giáo và bảo hiểm có mối liên quan với nhau, với những lợi ích và chi phí riêng của mỗi bên, khi một cá nhân mở rộng việc tự bảo hiểm cho bản thân bằng hình thức gia tăng hoạt động trong các hội nhóm tôn giáo thì hệ quả logic sẽ là giảm việc tham gia vào các hình thức bảo hiểm khác.
Vai trò thay thế bảo hiểm của tôn giáo được xem xét trên ba giả thiết cơ bản của Scheve và Stasavage (2006). Giả thiết thứ nhất là một cú sốc rủi ro khi xảy ra không chỉ gây thiệt hại về chi phí vật chất mà còn có cả chi phí tinh thần. Chi phí vật chất được quy đổi thành hiện kim và chi phí tinh thần có thể bao gồm sự suy giảm lòng tự tôn, căng thẳng quá độ hay suy giảm hạnh phúc (Clark và Oswald 1994, Di Tella và cộng sự 2003, Popova 2010). Giả thiết thứ hai là tôn giáo mang lại những lợi ích về vật chất và tinh thần cho các cá nhân khi có các cú sốc rủi ro bất ngờ xảy đến.
Lợi ích về vật chất có thể là việc giảm bớt tác động tiêu cực đến tiêu dùng khi có các cú sốc làm thay đổi thu nhập (Dehejia 2007), tăng cường hành vi tiết kiệm (Guiso và cộng sự 2003 2006, Klaubert 2010, Renneboog và Spaenjers 2012) qua đó nâng cao khả năng phục hồi sau khi các cú sốc đi qua (Dolphin 2009, Egli 2013, Dlamini và các cộng sự 2014). Lợi ích về tinh thần có thể là lòng tự tôn được giữ vững, cá nhân xem các rủi ro bất ngờ là những thử thách cho đức tin và mục tiêu cuộc đời của họ, và họ xem những rủi ro này như một bài học tôi luyện cho sức mạnh ý chí tinh thần thêm lớn mạnh (Scheve và Stasavage 2006). Niềm tin tôn giáo cũng có tác động quan trọng đến việc hình thành tính cách con người, qua đó quyết định đến việc nhận thức của cá nhân về mức độ tự hài lòng khi đương đầu với những sự kiện rủi ro ngoài ý muốn (Folkman và cộng sự TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Nhiều kết quả nghiên cứu cũng cho thấy mối tương quan tích cực giữa mức độ hạnh phúc của cá nhân và tôn giáo (Ellison 1991, Dehejia 2007).
Giả thiết thứ ba là hàm hữu dụng của mỗi cá nhân bao hàm chi phí bằng hiện kim và chi phí tinh thần thì không thể phân tách độc lập bằng cách cộng dồn (Cervellati và cộng sự 2004). Cụ thể hơn, vai trò của tôn giáo thay thế bảo hiểm có hiệu quả nhất là khi các cá nhân không có điều kiện tiếp cận với bảo hiểm chính thức có thể tìm thấy lợi ích lớn hơn từ tôn giáo so với các cá nhân khác có điều kiện thu nhập cao hơn. Giả thiết thứ ba giả định rằng các lợi ích tinh thần mang lại từ tôn giáo sẽ lớn hơn đối với các cá nhân có thu nhập thấp. Giả thiết này phù hợp với nhiều nghiên cứu thực nghiệm trước đây (Pargament 1997, Dehejia 2007).
Nếu ba giả thiết được thoả mãn, vai trò thay thế bảo hiểm của tôn giáo sẽ được chứng minh là có ý nghĩa cả về mặt lý thuyết và thống kê. Để chứng minh cho giả thiết về thiệt hại đồng thời đến vật chất và tinh thần do một cú sốc gây ra, ảnh hưởng từ tổn thất rủi ro đến khả năng phục hồi và mức độ hạnh phúc phải thể hiện tương quan âm. Để chứng minh cho giả thiết về lợi ích vật chất và tinh thần mà tôn giáo mang lại khi có các cú sốc bất ngờ xảy đến, tác động của tôn giáo đến khả năng phục hồi và mức độ hạnh phúc phải là tác động tích cực. Do tác động trực tiếp từ tôn giáo đến khả năng phục hồi không có mối liên hệ trong lý thuyết, mức tiết kiệm sẽ được xem xét như một biến trung gian giữa hai biến này.
Với giả thiết về tác động lớn hơn của tôn giáo ở các nhóm hộ có thu nhập thấp, các mẫu nghiên cứu sẽ được chia thành từng mẫu nhỏ theo nhóm thu nhập để xem xét giả thiết này.2 Một số lý thuyết về khả năng phục hồi Các lý thuyết về khả năng phục hồi được nghiên cứu nhiều trên khía cạnh vi mô của toàn bộ nền kinh tế. Theo Martin-Breen & Anderies (2011), khả năng phục hồi của một nền kinh tế có thể được chia theo các hình thức cân bằng sau cú sốc. Thứ nhất, đó là khả năng phục hồi kỹ thuật, thể hiện ở khả năng làm dừng các ảnh hưởng bên ngoài và đẩy nhanh tốc độ phục hồi trở lại trạng thái trước khi diễn ra cú sốc, trở về với trạng thái cân bằng ban đầu (Holling, 1973; Pimm, 1984; Walker và cộng sự, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Nhưng một nền kinh tế rất ít khi cần trở về trạng thái cân bằng ban đầu bởi xu hướng phát triển đi lên của nó (Martin, 2010), do đó loại khả năng phục hồi thứ hai ra đời.
Thứ hai, đó là khả năng phục hồi sinh thái, khả năng học hỏi từ quy mô của các cuộc khủng hoảng rủi ro trước khi nó bị mất cân bằng và đưa về một trạng thái cân bằng mới, có thể là xa vị trí cân bằng cũ (Holling, 1973, 1996, 2001; McGlade, 2006; McGlade và cộng sự 2006; Walker và cộng sự 2006). Các nhà kinh tế học lúc này bàn nhiều hơn về tính tích cực của các cú sốc và quan tâm nhiều hơn đến tỉ lệ tăng trưởng tăng vọt sau mỗi giai đoạn hậu rủi ro khi đã đạt được trạng thái cân bằng mới, vì thế khái niệm thứ ba, khả năng phục hồi thích nghi được phát triển. Đó là khả năng trải qua một cuộc tái cấu trúc đã được tiên liệu trước hoặc là kết quả của việc phản ứng lại để giảm thiểu các tác động tiêu cực từ các cú sốc gây mất ổn định cân bằng (Martin và Sunley, 2007) Khả năng phục hồi theo cấp độ vi mô ở mỗi hộ gia đình hay cá nhân còn rất ít những nghiên cứu đề cập tới. Stuart Chapin (2009) đã định nghĩa chung cho khả năng phục hồi là nguồn lực của một hệ thống có thể phản ứng lại và hình thành những sự thay đổi thích nghi cho sự tiếp tục và phát triển bền vững.
Các nguồn lực này bao gồm nhiều yếu tố, trong đó có thể kể đến như sinh kế và các nguồn vốn tự nhiên và xã hội, hình thành nên những khía cạnh khác nhau cho sự phát triển bền vững lâu dài (Janssen and Scheffer, 2004).3 Các lý thuyết liên quan đến mối quan hệ giữa khả năng phục hồi, tiết kiệm và tôn giáo 2.1 Khả năng phục hồi và tiết kiệm Hành vi tiết kiệm của cá nhân hay hộ gia đình đã được nghiên cứu rất nhiều từ các nhà kinh tế học (Deaton 1991, 1992, Fafchamps và cộng sự 1998, Wainwright và Newman 2011). Trong đó, Gersovitz (1988) chia tiết kiệm thành 4 nhóm: (1) tiết kiệm theo vòng đời, là khi các hộ gia đình xem xét mối quan hệ giữa tuổi và thu nhập như một động cơ tiết kiệm, đặc biệt là để đảm bảo phúc lợi trước khi về hưu; (2) tiết kiệm phòng ngừa, là khi các hộ gia đình tiết kiệm để bảo vệ chính mình trước các rủi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 ro có thể xảy ra; (3) tiết kiệm để đầu tư, là khi tiền tiết kiệm được dùng để sinh lời hay đầu tư vào các cơ hội tài chính; (4) tiết kiệm vì nhiệm vụ, là khi các hộ gia đình tiết kiệm cho tương lai của những người thân của mình. Tiết kiệm phòng ngừa đặc biệt quan trọng tại các nước đang phát triển như Việt Nam khi thu nhập còn bấp bênh và các cơ chế hỗ trợ tín dụng khi có rủi ro xảy ra còn nhiều hạn chế. Hoạt động tiết kiệm được nhiều nghiên cứu cho thấy đã góp phần nâng cao khả năng phục hồi của nhiều hộ gia đình.
Dolphin (2009) lý giải cho mối liên hệ này từ đặc điểm tự bảo hiểm của khoản tiết kiệm có thể giúp hộ gia đình đương đầu tốt hơn với các cú sốc rủi ro bất ngờ. Tiết kiệm cũng là một trong 3 hình thức chuẩn bị, ngoài việc học những kỹ năng mới và thiết lập một mạng lưới quan hệ xã hội rộng để tìm được việc làm tốt hơn, theo Egli (2013) , góp phần nâng cao khả năng tự phục hồi của cá nhân. Mở rộng nghiên cứu trên tiết kiệm nhóm tại Izandla Ziyagezana Nam Phi, Dlamini và các cộng sự (2014) đã chứng minh nhóm tiết kiệm giúp tăng cường sự gắn kết xã hội và đóng góp cho chiến lược sinh kế của những người nghèo, qua đó giúp tăng cường khả năng phục hồi của họ.2 Tiết kiệm và tôn giáo Một trong số các yếu tố tác động đến tiết kiệm chính là vốn xã hội, đóng vai trò như một tổ chức thay thế cho tổ chức tín dụng chính thức khi vai trò và tác động của các tổ chức này còn yếu (Fafchamps 2006).