Đặt vấn đề Tại Việt Nam, lạc đƣợc trồng ở hầu hết các tỉnh khắp cả nƣớc nhờ khả năng thích ứng rộng cũng nhƣ không yêu cầu cao về mặt kỹ thuật và đầu tƣ. Bên cạnh đó, cây lạc còn giúp cải tạo hệ vi sinh vật, duy trì và tăng độ phì nhiêu của đất, góp phần làm tăng năng suất, sản lƣợng của cây trồng khác. Ngoài ra, lạc cũng là nguồn bổ sung đạm, chất béo cho con ngƣời, là thức ăn giàu dinh dƣỡng cho chăn nuôi và nguồn nguyên liệu có giá trị cao cho công nghiệp chế biến thực phẩm. Trong những năm gần đây, năng suất lạc của Việt Nam không ngừng tăng lên.
Tuy nhiên, năng suất vẫn c n thấp so với tiềm năng năng suất của giống và có sự chênh lệch giữa các vùng miền. Một trong những nguyên nhân chính gây ảnh hƣởng đến năng suất và chất lƣợng lạc là các tác nhân gây bệnh hại do vi sinh vật gây ra. Đặc biệt, nấm Sclerotium rolfsii gây bệnh thối gốc lạc là tác nhân quan trọng gây hại phổ biến và có thể làm thiệt hại 10-25 năng suất, cá biệt có thể lên đến 80 năng suất cây trồng (Mehan và cs. Vì vậy, nhằm diệt trừ nhanh mầm bệnh, biện pháp sử dụng thuốc hóa học đã đƣợc áp dụng.
Tuy nhiên, việc lạm dụng quá nhiều thuốc hóa học có thể gây ô nhiễm môi trƣờng, ảnh hƣởng xấu đến hệ sinh thái vi sinh vật sống trong đất, gây mất cân bằng sinh học. Đứng trƣớc tình hình đó, các nhà khoa học đã và đang nghiên cứu sử dụng vi sinh vật có lợi cho cây trồng giúp làm tăng năng suất và hiệu quả kinh tế mà không tác động đến môi trƣờng và sức khỏe con ngƣời. Xuất phát từ thực tế này, đề tài “Nghiên cứu điều kiện nuôi cấy thích hợp của chủng vi khuẩn Bacillus sp. H14 có khả năng đối kháng nấm Sclerotium rolfsii gây bệnh thối gốc lạc” đƣợc thực hiện nhằm làm tăng hiệu quả kháng nấm S.
rolfsii của chủng Bacillus sp. Mục đích nghiên cứu Khảo sát các điều kiện nuôi cấy thích hợp của chủng vi khuẩn Bacillus sp. H14 nhằm tăng cƣờng hiệu quả đối kháng với nấm Sclerotium rolfsii. Nội dung nghiên cứu - Khảo sát ảnh hƣởng của các điều kiện nuôi cấy vi khuẩn (Môi trƣờng, thời gian, nhiệt độ, pH, nguồn carbon, nguồn nitơ) của chủng vi khuẩn Bacillus sp.
H14, cũng nhƣ tỷ lệ bổ sung dịch nuôi cấy vi khuẩn đến hiệu quả đối kháng của chủng vi khuẩn này với nấm Sclerotium rolfsii. - Xác định khả năng tổng hợp IAA và phân giải phosphate khó tan của chủng Bacillus sp. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan về cây lạc 2.
Nguồn gốc và đặc điểm Lạc (Arachis hypogaea) hay còn gọi là đậu phộng, thuộc họ Leguminiseae, họ phụ Papilionaceae, giống Arachis và có nguồn gốc từ Nam Mỹ. Loài cây này đƣợc khai hoang đầu tiên bởi cƣ dân vùng sông Paraguay và Parama ở vùng Chaco của Paraguay và Bolivia. Hình thái cây lạc Về đặc điểm sinh học, cây lạc là loài cây thân thảo, hàng năm, tùy theo loại, có thân đứng hoặc thân bò. Chiều cao thân chính thay đổi tùy từng giống và kỹ thuật canh tác.
Đối với các vùng khí hậu khô khan, thân khoảng 30-50cm. Rễ cái có thể ăn sâu từ 1-1,3m nhƣng trung bình khoảng 40-50cm, có nhiều rễ phụ. Rễ phụ xuất phát từ các vị trí khác nhau trên rễ cái, phân nhánh rất nhiều làm thành một mạng rễ dày đặc. Rễ phân bố ở lớp đất mặt khoảng 30cm.
Trên các rễ con, khoảng 2-3 tuần sau khi hạt nảy mầm, thấy có nhiều nốt sần xuất hiện. Trong các nốt sần này có các vi khuẩn hình que (Rhizobium leguminosarum), có khả năng hấp thụ đạm và sống cộng sinh với lạc. Lá lạc mọc đối, kép hình lông chim với bốn lá chét, kích thƣớc lá chét dài 1–7 cm và rộng 1–3 cm. và hoa dạng 3 hoa đậu điển hình màu vàng có điểm gân đỏ, cuống hoa dài 2–4 cm.
Sau khi thụ phấn, quả phát triển thành một dạng quả đậu dài 3–7 cm, chứa 1-4 hạt, và quả (củ) thƣờng giấu xuống đất để phát triển. Trong danh pháp khoa học của loài cây này thì phần tên chỉ tính chất loài có hypogaea nghĩa là "dƣới đất" để chỉ đặc điểm quả đƣợc giấu dƣới đất. Trong cách gọi tên tiếng Việt, từ "lạc" có nguồn từ chữ Hán "lạc hoa sinh" (mà có ngƣời cho rằng ngƣời Hán đã phiên âm từ "Arachis"). Hạt lạc đƣợc cho là loại thực phẩm rất giàu năng lƣợng vì có chứa nhiều lipid.
Ở Việt Nam, các giống lạc phổ biến thuộc các dòng Spanish, đều là giống ngắn ngày, ra củ tập trung; hạt không ngủ nghỉ, một năm trồng đƣợc hai vụ (xuân - hè, thu) và có thể trồng đƣợc trên nhiều vùng đất khác nhau (trung du Bắc Bộ, Trung Bộ, Đông Nam Bộ, Tây Nguyên). Hạt lạc là loại thực phẩm dễ bị mốc, nếu không bảo quản cẩn thận nấm mốc Aspergillus flavus xâm nhập và phát triển, tiết độc tố aflatoxin. Thành phần hóa học và dinh dƣỡng của lạc Lạc là một trong những cây có giá trị dinh dƣỡng rất cao và giá trị rất tốt cho sức khỏe con ngƣời với một số thành phần chính nhƣ: Nƣớc : 8-10% Dầu thô ( Lipit) : 40-60% Gluxit : 6-22% Protein : 26-34% Cellulose : 2-4,5% Trên thế giới, đặc biệt là ở các nƣớc phát triển thì sản xuất lạc đƣợc thực hiện chủ yếu để khai thác nguồn dầu thực vật. Theo một số cuộc điều tra cho thấy, lạc là cây cung cấp dầu chính đứng thứ 3 trên thế giới bên cạnh đậu tƣơng và cây bông (FAO Food outlok, 1990).
Dầu lạc với các thành phần chủ yếu là axit béo chƣa no (80 ), c n lại khoảng 20% là axit béo no. Axit béo trong dầu lạc chủ yếu là 4 loại: axit oleic, axit linoleic, axit panmitic và axit steraic. Ngoài ra, trong thành phần của lạc còn có hydrocarbon thơm: , và các 4 vitamin B1, B2. Protein trong lạc chứa đầy đủ 8 axit amin không thay thế trong đó có 4 axit amin (loxin, izoloxin, valin, phenylalanin) đạt hàm lƣợng quy định của FAO về hàm lƣợng các axit amin không thay thế trong thành phần protein thực phẩm.
Với giá trị dinh dƣỡng cao, từ lâu lạc đã đƣợc sử dụng nhƣ một nguồn thực phẩm quan trọng với nhiều cách chế biến đa dạng và phong phú: luộc, rang, làm bánh kẹo, bột dinh dƣỡng…. Ngày nay nhờ việc áp dụng công nghệ hiện đại, lạc c n đƣợc chế biến thành các sản phẩm có giá trị cao nhƣ: bơ lạc, phomat lạc, sữa lạc,… Do có chứa hàm lƣợng hydrocarbon đáng kể nên các sản phẩm từ lạc có hƣơng vị rất đặc biệt và hấp dẫn. Ngoài giá trị về dinh dƣỡng, lạc còn có giá trị cao về mặt kinh tế. Nhiều báo cáo cho thấy, hạt lạc là mặt hàng nông sản xuất khẩu đem lại kim ngạch cao cho nhiều nƣớc.
Cụ thể, theo báo Công thƣơng về thị trƣờng lạc thế giới niên vụ 2020-2021, sản xuất lạc của Senegal đạt 1,6 triệu tấn trong niên vụ 2020-2021, tăng 179.000 tấn (14%) so với vụ thu hoạch trƣớc. Diện tích đất trồng lạc Senegal ƣớc đạt khoảng 1,2 triệu ha, tăng 2 và năng suất cũng tăng 20% so với bình quân 5 năm qua (1,31 triệu tấn) nhờ lƣợng nƣớc mƣa trung bình hàng năm tăng cao. Senegal đã vƣợt 1 triệu ha đất trồng lạc kể từ 2015 và sản xuất trên 1 triệu tấn lạc kể từ 2017. Hiện nay ở Senagal, giá trị từ lạc mang lại chiếm gần ½ thu nhập và chiếm tới 80% giá trị xuất khẩu.
Sản xuất lạc đạt hiệu quả kinh tế cao, đạt tỷ suất lợi nhuận tới 31,86 (cao hơn một số nông sản khác) và xuất khẩu lạc đóng 15,11 cho nguồn hàng nông sản xuất khẩu. Ở nƣớc ta, lạc đƣợc trồng rải rác khắp cả nƣớc, trên nhiều loại đất và địa hình khác nhau, diện tích trồng lạc của nƣớc ta đặc biệt tăng nhanh trong gần 30 năm trở lại đây, đạt khoảng 220,5 ha với tổng sản lƣợng 470,6 nghìn tấn năm 2012, đứng thứ 7 trên thế giới về sản lƣợng. Phần lớn diện tích trồng lạc ở vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, tập trung ở Quảng Nam khoảng 8000 ha. Diện tích, năng suất và sản lƣợng lạc ở Việt Nam 2016 2017 2018 2019 2020 Diện tích (nghìn ha) 184.4 Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam,2020 Trong lĩnh vực công nghiệp, hạt lạc đƣợc dùng trong công nghiệp ép dầu.
Dầu lạc làm nguyên liệu cho công nghiệp thực phẩm nhƣ làm bánh kẹo, làm bơ,… và làm nguyên liệu trong công nghiệp chế biến xà phòng, chất tẩy rửa. Dầu lạc tinh khiết thậm chí c n đƣợc dùng trong y học thẩm mỹ và trong các nghề tiểu thủ công mỹ nghệ. Ngoài ra, dầu lạc còn là nguyên liệu cho các ngành khác nhƣ sản xuất mực in, chất dẻo, làm dung môi cho thuốc bảo vệ thực vật. Trong lĩnh vực nông nghiệp, cây lạc có vai trò quan trọng không chỉ trong chăn nuôi mà cả ngành trồng trọt.
Khô dầu lạc có thành phần dinh dƣỡng tƣơng đối cao, đứng thứ 3 trên thế giới trong các loại khô dầu thực vật sau đậu tƣơng và bông. Các báo cáo đã chỉ ra rằng, việc bổ sung khô dầu trong khẩu phần ăn của gia súc, gia cầm đều làm tăng trọng nhanh cho lợn và tăng sản lƣợng trứng gà, vịt. Nhƣ vậy, lạc không chỉ mang lại sản phẩm có giá trị dinh dƣỡng cao, mà các bộ phận khác nhƣ thân, lá cây lạc còn có thể đƣợc sử dụng làm thức ăn chăn nuôi. Thân, lá lạc có thể tạo ra từ 5-10 tấn/ha chất xanh sau khi thu hoạch hạt, vỏ hạt lạc chiếm 25-30% khối lƣợng hạt, có thể nghiền ra làm cám phục vụ trong chăn nuôi.
Bên cạnh đó, lạc là cây trồng có ý nghĩa rất quan trọng đối với nhiều nƣớc, đặc biệt là các nƣớc nghèo thuộc vùng nhiệt đới. Cây lạc giúp cải tạo đất nhờ khả năng cố định đạm của các vi sinh vật sống cộng sinh tại các vị trí nốt sần trên cây lạc. Nhiều nghiên cứu cho thấy, so với nốt sần các cây họ đậu khác thì nốt sần của cây lạc lớn và có khả năng cố định đạm tốt hơn. Vì vậy, sau khi thu hoạch lạc, thành phần lý hóa của đất đƣợc cải thiện đáng kể, lƣợng đạm trong đất tăng và hệ vi sinh vật hiếu khí trong đất cũng đƣợc tăng cƣờng, có 6 lợi cho các cây trồng vụ tiếp theo.
Do đó, cây lạc sau khi đƣợc thu hoạch có thể đƣợc tận dụng để cải thiện đất trồng cây. Một số bệnh hại phổ biến trên cây lạc Bệnh hại là một trong những nguyên nhân chính làm giảm năng suất, chất lƣợng của vụ mùa.