Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ 1. Khái niệm, đặc điểm của áp dụng pháp luật 1. Áp dụng pháp luật trong hệ thống các hình thức thực hiện pháp luật ADPL hình sự có tầm quan trọng đặc biệt, vừa có những đặc điểm chung như các dạng ADPL khác, vừa có những đặc điểm riêng của mình. Do vậy, trước khi nghiên cứu về ADPL hình sự, chúng ta cần phân tích về ADPL trong hệ thống các hình thức thực hiện pháp luật nói chung.
Pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam là hệ thống các quy tắc xử sự thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng, do Nhà nước xã hội chủ nghĩa ban hành và bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước trên cơ sở giáo dục và thuyết phục mọi người tôn trọng và thực hiện. Pháp luật chỉ có ý nghĩa thực sự khi các quy định pháp luật được thực hiện trên thực tế, pháp luật được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc, triệt để, sâu rộng trong đời sống xã hội thì mới đảm bảo quyền lợi chính đáng của công dân, vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, duy trì được trật tự thúc đẩy xã hội phát triển. Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật. Căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật, khoa học pháp lý đã xác định những hình thức thực hiện pháp luật đó là: Tuân thủ pháp luật; thi hành pháp luật; sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật.
ADPL được xem là hoạt động thực hiện pháp luật của các cơ quan nhà nước, nó vừa là một hình thức thực hiện pháp luật, vừa là một giai đoạn mà các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành tổ chức cho các chủ thể pháp luật khác thực hiện các quy định pháp luật. Do vậy ADPL là một hình thức rất quan 6 trọng, phức tạp của thực hiện pháp luật, cần được nghiên cứu kỹ hơn.TS Nguyễn Minh Đoan đã đưa ra khái niệm: “ADPL là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ ào các quy định của pháp luật để ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể ADPL” [35, tr. Đặc điểm của áp dụng pháp luật Thứ nhất, ADPL là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước, cụ thể là: - Hoạt động ADPL chỉ do những cơ quan nhà nước hay nhà chức trách có thẩm quyền tiến hành. Mỗi cơ quan nhà nước hay nhà chức trách trong phạm vi thẩm quyền của mình được phép tiến hành một số những hoạt động ADPL nhất định.
- Hoạt động ADPL được tiến hành chủ yếu theo ý chí đơn phương của các cơ quan nhà nước hay nhà chức trách có thẩm quyền, không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể bị áp dụng pháp luật. - ADPL có tính chất bắt buộc đối với chủ thể bị áp dụng và các chủ thể có liên quan. Thứ hai, ADPL là hoạt động phải tuân theo những hình thức và thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định. Do tính chất quan trọng và phức tạp của ADPL, chủ thể bị ADPL có thể được hưởng những lợi ích rất lớn nhưng cũng có thể phải chịu những hậu quả bất lợi rất nghiêm trọng nên trong pháp luật luôn có sự xác định rõ ràng cơ sở, điều kiện, trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quá trình ADPL.
Thứ ba, ADPL là hoạt động điều chỉnh có tính cá biệt, cụ thể đối với các quan hệ xã hội nhất định. Đối tượng của ADPL là những quan hệ xã hội cần đến sự điều chỉnh cá biệt, bổ sung trên cơ sở những mệnh lệnh chung trong quy định pháp luật. Thứ tư, ADPL là hoạt động đòi hỏi tính sáng tạo (sự sáng tạo trong phạm vi quy định của pháp luật). Trong trường hợp pháp luật chưa quy định hoặc quy 7 định chưa rõ thì phải vận dụng một cách sáng tạo bằng cách áp dụng tập quán hoặc áp dụng pháp luật tương tự để giải quyết vụ việc.
Khái niệm, đặc điểm, vai trò của áp dụng pháp luật hình sự về tội chống người thi hành công vụ 1. Khái niệm áp dụng pháp luật hình sự về tội chống người thi hành công vụ Áp dụng pháp luật hình sự về tội chống người thi hành công vụ, trước hết là một hoạt động ADPL nên nó có đầy đủ những đặc tính chung của hoạt động ADPL và có đặc thù riêng của hoạt động ADPL hình sự về tội chống người thi hành công vụ. Đó là những quy phạm pháp luật có những chế tài mạnh nhất, ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng, danh dự, nhân phẩm của con người mà việc duy trì trật tự đó chỉ Tòa án duy nhất có quyền áp dụng. Theo Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 khẳng định: "Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.
Tòa án nhân dân gồm: Toà án nhân dân tối cao à các Tòa án khác do luật định. Tòa án nhân dân có nhiệm ụ bảo ệ công lý, bảo ệ quyền con người, quyền công dân, bảo ệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo ệ lợi ích của Nhà nước, quyền à lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân"; Điều 10 BLTTHS năm 2003, khẳng định: "Không ai bị coi là có tội à phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật". Khi xét xử các vụ án hình sự nói chung và xét xử án hình sự về tội chống người thi hành công vụ nói riêng, Tòa án phải xem xét toàn diện các kết quả hoạt động điều tra, truy tố, bào chữa, giám định và tuân theo những thủ tục tố tụng chặt chẽ, nhằm đưa ra phán xét mang tính quyền lực Nhà nước. Do đó, hoạt động xét xử của Tòa án phải tuân thủ nghiêm ngặt các giai đoạn ADPL theo quy định của BLTTHS, như: Thụ lý vụ án, nghiên cứu hồ sơ, xem xét áp dụng các biện pháp ngăn chặn, thủ tục người bào chữa, trả hồ sơ để điều tra bổ sung, quyết định đưa vụ án ra xét xử… cho đến khi ban hành quyết định, bản án của Tòa án.
8 Quá trình xét xử phải tuân thủ các nguyên tắc: Khi xét xử, Thẩm phán và HTND độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật; nguyên tắc xét xử công khai, nguyên tắc xét xử tập thể và quyết định theo đa số, nguyên tắc xét xử trực tiếp bằng lời nói …trên cơ sở xem xét tài liệu, chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa để từ đó đi đến quyết định bị cáo có phạm tội chống người thi hành công vụ hay không, nếu phạm tội thì theo điều khoản nào, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân bị cáo ra sao…để quyết định hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Từ đó có thể hiểu: Áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân là hoạt động nhân danh quyền lực Nhà nước, Thông qua Hội đồng xét xử là những người được Nhà nước trao quyền tuân thủ những quy định của pháp luật Hình sự và pháp luật Tố tụng hình sự về trình tự, thủ tục xem xét, đánh giá các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử. Trên cơ sở đó, lựa chọn các quy phạm pháp luật phù hợp để ban hành các bản án, quyết định tuyên bố một người có tội và phải chịu hình phạt cùng các biện pháp tư pháp khác hoặt tuyên bố một người không có tội và áp dụng các biện pháp để khôi phục lại quyền và lợi ích hợp pháp cho người đó theo quy định của Pháp luật. Có quan điểm đã đưa ra khái niệm: Áp dụng pháp luật hình sự là việc ra các quyết định và củng cố quyết định về việc xem xét (hay không xem xét) các tình tiết thực tế của việc hình sự đã xảy ra và các tình tiết được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự tương ứng và về việc xác định (hoặc không xác định) và củng cố các biện pháp pháp luật hình sự được quy định trong quy phạm đó với chủ thể nhất định theo quy định của Bộ luật hình sự.
Như vậy, Áp dụng pháp luật hình sự về tội chống người thi hành công vụ là hoạt động vận dụng quy định của pháp luật hình sự để giải quyết trách nhiệm hình sự của người chống người thi hành công vụ do cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án thực hiện. Đặc điểm của áp dụng pháp luật hình sự về tội chống người thi hành công vụ Áp dụng PLHS về tội chống người thi hành công vụ là một dạng của ADPL- là một hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt nên áp dụng PLHS về tội chống người thi hành công vụ có đầy đủ những đặc điểm chung của bất cứ dạng ADPL nào, đó là: Thứ nhất, áp dụng PLHS về tội chống người thi hành công vụ là hoạt động mang tính tổ chức quyền lực. Khác với các hình thức thực hiện pháp luật khác có thể do các chủ thể pháp luật khác tiến hành, áp dụng PLHS chỉ có thể do nhà nước thông qua những cơ quan có thẩm quyền tiến hành. Các cơ quan tiến hành tố tụng như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng PLHS.
Đặc điểm này còn được thể hiện ở chỗ về nguyên tắc, áp dụng PLHS tiến hành theo ý chí đơn phương của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc áp dụng PLHS chỉ diễn ra theo quy định của pháp luật, theo một trình tự, thủ tục pháp luật được quy định một cách chặt chẽ, không thể tự ý thay đổi hay chấm dứt theo ý chí của bất kỳ ai, trừ trường hợp pháp luật đã quy định trước một cách rõ ràng.