MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Cây đậu tương (Glycine Max (L) Merill) là cây trồng cạn có tác dụng rất nhiều mặt, cung cấp thực phẩm cho con người, nguyên liệu cho chế biến, thức ăn gia súc gia cầm, cây cải tạo đất và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị. Giá trị về mặt nông nghiệp của đậu tương cũng rất cao, thân lá của đậu tương có nhiều Prôtêin, hàm lượng vào khoảng 8 – 15% cao gấp 3 – 5 lần hàm lượng Protêin trong rơm rạ các loại cây hạt ngũ cốc. Vì vậy, thân lá đậu tương còn được sử dụng làm thức ăn cho gia súc, gia cầm và là nguồn chất xanh (phân xanh) cải tạo đất. Đậu tương sau khi ép lấy dầu thì khô dầu đậu tương vẫn còn lại hàm dinh dưỡng khá cao như: Đạm 6,2%, Lân 0,7%, Kali 2,4%, 70% dầu, 40% bột đường.
Thái Nguyên là tỉnh thuộc vùng trung du miền núi phía Bắc với tổng diện tích đất tự nhiên 353318, 91 ha; trong đó diện tích đất dùng để sản xuất nông nghiệp chiếm trên 30% (Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên, 2013). Đậu tương là một trong nhóm cây trồng hàng năm được tỉnh quan tâm chỉ đạo sản xuất. Vì đậu tương là cây trồng ngắn ngày, giá trị kinh tế, giá trị dinh dưỡng cao, không quá kén đất, có thể gieo trồng cả 3 vụ, có khả năng cải tạo đất. Tuy nhiên trong những năm gần đây diện tích trồng đậu tương trong tỉnh luôn giảm (Năm 2010 là 1,6 ha, năm 2011 là 1,6 ha, năm 2012 là 1,18 ha (Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên, 2015).
Giống đậu tương ĐT51 do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Đậu đỗ- Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm chọn lọc từ tổ hợp lai giữa LS17 x ĐT2001.Giống có thời gian sinh trưởng trung bình từ 90 – 95 ngày, năng suất từ 20 – 29 tạ/ha, giống thích hợp cả 3 vụ trong năm. c 2 Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón vô cơ đến sinh trưởng và năng suất Đậu tương ĐT51 vụ Xuân năm 2017 tại Thái Nguyên ”.Mục tiêu của đề tài 1. Mục tiêu chung Xác định được tổ hợp phân bón vô cơ (NPK) thích hợp nhằm nâng cao năng suất và chất lượng giống đậu tương ĐT51 vụ Xuân 2017 tại Thái Nguyên.Mục tiêu cụ thể - Xác định tổ hợp phân bón vô cơ có ảnh hưởng tốt đến các chỉ tiêu nông sinh học giống đậu tương ĐT51 vụ Xuân 2017 tại Thái Nguyên. - Xác định tổ hợp phân bón vô cơ có ảnh hưởng tốt đến một số chỉ tiêu sinh lí giống đậu tương ĐT51 vụ Xuân 2017 tại Thái Nguyên.
- Xác định tổ hợp phân bón vô cơ có ảnh hưởng tốt đến mức độ nhiễm sâu bệnh giống đậu tương ĐT51 vụ Xuân 2017 tại Thái Nguyên. - Xác định tổ hợp phân bón vô cơ có ảnh hưởng tốt đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất giống đậu tương ĐT51 vụ Xuân 2017 tại Thái Nguyên.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1.1 Ý nghĩa khoa học Kết quả ngiên cứu đề tài nhằm bổ sung thêm những tài liệu khoa học về cây đậu tương phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu và chỉ đạo sản xuất ở địa phương.Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện quy trình thâm canh đậu tương nói chung và trên đất Thái Nguyên nói riêng. Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ góp phần tăng năng suất và hiệu quả kinh tế cho người sản xuất đậu tương. c 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của đề tài 2.
Cơ sở khoa học Kiểu hình có liên quan chặt chẽ với kiểu gen. Sự biểu hiện kiểu hình ra bên ngoài là kết quả của sự tương tác giữa kiểu gen với môi trường sống qua đó phản ánh mức độ thích nghi của giống cây trồng với điều kiện ngoại cảnh Kiểu gen + môi trường -> kiểu hình. Sự sinh trưởng phát triển, khả năng cho năng suất của cây trồng chịu sự tác động sâu sắc của môi trường và điều kiện trồng trọt. Cùng một giống nhưng điều kiện chăm sóc khác nhau thì khả năng cho năng suất khác nhau.
Trong điều kiện sản suất nông nghiệp nói chung và sản suất đậu tương nói riêng việc xách định được môi trường thích hợp cho mỗi giống để chúng sinh trưởng, phát triển tốt cho năng suất cao là rất cần thiết. Trong đó xác định được liều lượng phân bón, đặc biệt là phân bón vô cơ thích hợp cho giống nhằm đem lại hiệu quả kinh tế có ý nghĩa thực tiễn thúc đẩy sản xuất đậu tương phát triển 2.Cơ sở thực tiễn Thái Nguyên là tỉnh thuộc vùng trung du miền núi phía Bắc có diện tích đất tự nhiên khoảng 353,3 nghìn ha.Trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm trên 30% (Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên, 2013). Cây đậu tương là cây trồng chủ đạo, tuy nhiên diện tích luôn giảm do về giống, chế độ canh tác. Vụ hè thu là vụ có nhiệt độ cao, độ ẩm cao nhưng rất thích hợp cho cây đậu tương sinh trưởng và phát triển.
Do vậy cần nhiều thử nghiệm với giống đậu tương mới và có chế độ thâm canh mới để cho năng suất cao và ổn định.Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương trên thế giới và trong nước 2.Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Cây đậu tương được phân bố rộng rãi, rải từ vĩ độ 500 Bắc đến 500 Nam. 90% sản lượng đậu tương hiện nay được sản xuất từ các nước ôn đới nơi có điều kiện chiếu sáng ngày dài từ 14 – 15 giờ/ngày, thích hợp cho sự phát triển cuả cây đậu tương. Sự biến động về diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương trên Thế giới được thể hiện qua bảng số liệu sau: Bảng 2. Tình hình sản xuất đậu tương trên Thế giới trong những năm gần đây( 2010 – 2014) Chỉ tiêu Năm Diện tích Năng suất Sản lượng ( ha) (tạ/ha) ( tấn) 2010 102,845,912 25,763 264,959,401 2011 103,861,188 25,190 2616,24,261 2012 105,477,217 22,918 241,732,260 2013 111,161,196 24,980 277,679,429 2014 117,549,4053 26,076 306,519,256 ( Nguồn: FAOSTAT năm 2017) [12].
Về diện tích: Trong những năm qua diện tích đậu tương trên Thế giới không ngừng tăng lên. Năm 2010 diện tích đậu tương toàn Thế giới là 102,845,912 ha và tăng dần đến năm 2014 diện tích đã là 117,549,053 ha, tăng 14,703,141 ha ( tương đương 12,30%) so với năm 2010. Và đây cũng là năm đạt diện tích cao nhất trong vòng mấy năm trở lại đây. Về năng suất: Có sự biến động nhưng không lớn, năm 2010 năng suất đạt 25,763 tạ/ha, đến năm 2012 có chiều hướng giảm và còn 22,918 tạ/ha, rồi tăng dần đến năm 2014 đạt 26,076 tạ/ha.
c 5 Về sản lượng: Cùng với sự biến động về năng suất thì sản lượng đậu tương trên Thế giới cũng có sự biến động theo. Năm 2010 sản lượng đậu tương toàn Thế giới đạt 264,959,401 tấn, đến năm 2012 có chiều hướng giảm dần còn 241,732,260 tấn, rồi tăng dần cho đến năm 2014 đạt 306,519,256 tấn. Trước những năm 1970, chỉ có Mỹ và Trung Quốc là hai nước sản xuất đậu tương lớn nhất Thế giới. Tốc độ phát triển đậu tương ở Mỹ tăng nhanh hơn ở Trung Quốc.
Sản lượng đậu tương của Mỹ tăng từ 60% (1960) đến đỉnh cao là 75% (1969), trong khi đó sản lượng đậu tương của Trung Quốc lại giảm từ 32% xuống còn 16% trong cùng thời kỳ. Năm 1980 – 1983 Mỹ chiếm 63% tổng sản lượng đậu tương Thế giới, Brazil là nước đứng thứ 2 chiếm 16%, Trung Quốc chiếm 9%, Achentina chiếm 6%, tiếp sau đến Ấn Độ. Hiện nay Mỹ vẫn là nước sản xuất đậu tương đứng đầu Thế giới với diện tích là 33,423,750 ha, năng suất đạt 31,977 tạ/ha và tổng sản lượng 106,877,870 tấn ( 2014) Bảng 2. Tình hình sản xuất đậu tương của Mỹ trong những năm gần đây ( 2010 – 2014) Chỉ tiêu Năm Diện tích Năng suất Sản lượng (ha) ( tạ/ha) (tấn) 2010 31,003,300 29,224 90,605,456 2011 29,856,410 28,199 84,191,928 2012 30,814,720 26,867 82,790,870 2013 30,858,830 29,615 91,389,350 2014 33,423,750 31,977 106,877,870 (Nguồn: FAOSTAT năm 2017) [12] c 6 Qua bảng số liệu ta thấy diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương của Mỹ có sự biến động nhưng không lớn, cụ thể là: Về diện tích: Năm 2010 năng suất đạt 31.300 ha, đến năm 2011 có chiều hướng giảm và còn 298,56,410 ha.
Nhưng lại có chiều hướng tăng dần qua các năm, đến năm 2014 đạt 33,423,750 ha. Về năng suất: Năm 2010 năng suất đạt 29,224 tạ/ha và giảm dần qua các năm, đến năm 2012 còn 26,867 tạ/ha. Nhưng từ những năm tiếp theo đó lại có chiều hướng tăng dần, năm 2014 đạt 31,977 tạ/ha. Về sản lượng: Cùng với sự biến động về năng suất thì sản lượng đậu tương của Mỹ cũng biến động theo.
Năm 2010 sản lượng đạt 90,605,456 tấn, những năm tiếp theo có chiều hướng giảm dần, đến năm 2012 còn là 82,790,870 tấn. Nhưng lại tăng dần qua những năm tiếp theo, năm 1014 đạt 106,877,870 tấn. Chính vì thế hiện nay Mỹ vẫn là nước sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu đậu tương lớn nhất Thế giới. Để đạt được lợi nhuận cao, các nhà sản xuất đậu tương của Hoa Kỳ đầu tư mạnh và nghiên cứu mở rộng thị trường tại 70 nước với nhiều chương trình đầu tư nghiên cứu giảm giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng hạt, tạo ra nhiều sản phẩm mới từ đậu tương.
Đứng thứ 2 về diện tích và sản lượng đậu tương trên Thế giới phải kể đến Brazil. Việc sản xuất đậu tương ở Brazil tăng đáng kể từ những năm 1960. Theo Broad Ben và Dixon (1976) [13] nguyên nhân chính dẫn đến sản xuất đậu tương phát triển ở Brazil là do giá đậu tương tăng cao từ cuối những năm 1960 cho tới những năm 1970, cùng với chính sách cấm xuất khẩu đậu tương của Mỹ năm 1973 đã thúc đẩy việc phát triển và mở rộng sản xuất đậu tương ở Brazil. Bên cạnh đó chính phủ Brazil đã có những chính sách hỗ trợ việc phát triển cây đậu tương bằng việc cho vay vốn với lãi suất thấp trong việc đầu tư mua máy móc, phân bón, giúp đỡ về kỹ thuật trồng trọt, tạo điều c 7 kiện thuận lợi cho tiêu thụ sản phẩm… những yếu tố đó đã góp phần to lớn thúc đẩy ngành sản xuất đậu tương ở Brazil phát triển.
Từ tỷ lệ chỉ bằng 1,8% tổng sản lượng đậu tương trên thế giới ( năm 1965) lên tới 15% ( năm 1985) và 18% ( năm 1990). Trong những năm gần đây diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương của Brazil không ngừng tăng lên thể hiện qua bảng số liệu sau: Bảng 2.