Đặt vấn đề Cây sắn (Manihot esculenta Crantz) có nguồn gốc ở vùng Nam Mỹ và được trồng cách đây khoảng 5.000 năm, sau đó được du nhập vào Châu Á và Châu Phi đến nay được trồng ở 89 nước nhiệt đới từ 300 N đến 300S của ba châu lục. Tại Châu Phi, châu Á và Mỹ Latin người dân sử sụng sắn như là nguồn lương thực chủ yếu nhằm đảm bảo an ninh lương thực. Sắn là cây lương thực rất quan trọng bởi có giá trị lớn trên nhiều mặt: Sắn là nguồn lương thực đáng kể cho con người, hiện nay nhiều nước trên thế giới đã sử dụng sắn và các sản phẩm chế biến từ sắn làm nguồn lương thực chính, nhất là các nước của Châu Phi. Tinh bột sắn còn là một thành phần quan trọng trong chế độ ăn của hơn một tỷ người trên thế giới.
Sắn cũng là thức ăn cho gia súc. gia cầm quan trọng tại nhiều nước trên thế giới, ngoài ra sắn còn là hàng hóa xuất khẩu có giá trị để làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến bột ngọt, bánh kẹo, mì ăn liền, ván ép, bao bì, màng phủ sinh học và phụ gia dược phẩm… Đặc biệt trong thời gian tới việc nghiên cứu phát triển sản xuất và sử dụng nhiên liệu sinh học đang được các quốc gia trên thế giới quan tâm bởi các lợi ích của loại nhiên liệu này đem lại mà cây sắn là nguyên liệu chính cho công nghiệp chế biến nhiên liệu sinh học (ethanol). Chương trình sản xuất ethanol của chính phủ Braxin đã tạo ra gần 1 triệu việc làm cho người lao động. Ở Việt Nam, sắn là cây lương thực quan trọng sau lúa và ngô.
Sắn là cây dễ trồng, ít vốn đầu tư, dễ chế biến xuất khẩu, đạt lợi nhuận và lợi thế cạnh tranh cao. Sản phẩm từ sắn rất thông dụng để chế biến xăng sinh học, chế biến tinh bột, thức ăn gia súc, thực phẩm, dược liệu và đã trở thành cây hàng hoá xuất khẩu của nhiều tỉnh. Trên thực tế sản xuất, sắn được trồng chủ yếu trên đất dốc, điều kiện sản xuất khó khăn, người dân thường quan niệm rằng sắn là cây dễ trồng, thích ứng rộng, ít sâu bệnh, chịu đất chua, nghèo dinh dưỡng và không đòi hỏi kỹ thuật canh tác nên chưa chú trọng đầu tư thâm canh, chọn giống và thời vụ trồng thích hợp với giống sắn. Luan van 2 Tuy nhiên, năng suất sắn còn thấp, do thực hiện một số biện pháp kỹ thuật thâm canh chưa cao và chưa đồng bộ như trồng chưa đúng thời vụ cũng như mật độ khoảng cách không hợp lý.
Trong các biện pháp kỹ thuật thâm canh sắn, ngoài biện pháp chọn giống, kỹ thuật trồng sắn thì việc nghiên cứu ảnh hưởng mật độ trồng đến năng suất và chất lượng của giống sắn là vấn đề rất cần thiết. Chính vì thực tế trên, em đã tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất và chất lượng giống sắn nếp Tân Lĩnh năm 2019 tại Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên” 1. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu nghiên cứu Xác định mật độ trồng thích hợp cho giống sắn nếp Tân Lĩnh, để đáp ứng nhu cầu tiêu dung của người dân tại các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc 1.
Yêu cầu nghiên cứu Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng và phát triển của giống sắn nếp Tân Lĩnh. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong khoa học - Giúp sinh viên củng cố và hệ thống lại toàn bộ những kiến thức đã học, áp dụng lý thuyết vào thực tế, tạo điều kiện cho sinh viên nâng cao được kỹ năng nghề nghiệp. - Giúp sinh viên nắm được phương pháp triển khai một đề tài nghiên cứu khoa học, phương pháp đo đếm, thu thập số liệu và trình bày một báo cáo khoa học.
- Đề tài cũng xem như là một tài liệu tham khảo cho sinh viên các khóa tiếp theo. Ý nghĩa trong thực tiễn - Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để xác định được mật độ trồng thích hợp để tăng năng suất và chất lượng của giống sắn ở Thái Nguyên. - Là tài liệu trong học tập, là cơ sở trong những đề tài nghiên cứu trong các lĩnh vực có liên quan. PHẦN 2 Luan van 3 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Nguồn gốc, giá trị dinh dưỡng của cây sắn 2. Nguồn gốc Cây sắn có tên khoa học là (Manihot esculenta crantz) có hoa hạt kín, có 2 lá mần và có số NST (2n = 36), thuộc bộ ba mảnh cỏ (Euphorbiale ), họ thầu dầu (Euphotbiaceae), chi Manihot, có tới hơn 300 chi và 8000 loài phân thành 17 nhóm. Nhiều tài liệu cho biết cây sắn có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới của Châu Mỹ La Tinh (Crantz, 1976) và được trồng cách đây khoảng 5000 năm (CIAT,1993). Trung tâm phát sinh cây sắn được giả thiết tại vùng đông bắc của nước Brasil thuộc lưu vực sông Amazon, nơi có nhiều chủng loại sắn trồng và hoang dại (De Candolle, 1886; Rogers, 1965).
Trung tâm phân hóa phụ của cây sắn có thể tại Mêhicô, Trung Mỹ và ven biển phía bắc của Nam Mỹ. Bằng chứng là những di tích khảo cổ ở Venezuela niên đại 2.700 năm trước công nguyên, di vật thể hiện củ sắn ở vùng ven biển Peru khoảng 2.000 năm trước công nguyên, những lò nướng bánh sắn trong phức hệ Malabo ở phía bắc Colombia niên đại khoảng 1200 năm trước công nguyên, những hạt tinh bột sắn ở trong phần hóa thạch được phát hiện tại Mexico có tuổi khoảng 900 năm đến 200 năm trước công nguyên (Rger, 1963, 1965). Về vấn đề trung tâm phát sinh cây sắn còn nhiều điều không chắc chắn. Các công trình nghiên cứu gần đây của nhiều tác giả kết luận rằng: Cây sắn có nguồn gốc phức tạp và có bốn trung tâm phát sinh đó là: Brasil có hai trung tâm, còn lại là ở Mehico và Bolivia [8].
Cây sắn được người Bồ Đào Nha đưa đến Congo của châu Phi vào thế kỷ XVI. Tài liệu nói tới sắn ở vùng này của Barre và Thevet viết năm 1558. Ở châu Á, sắn được du nhập vào Ấn Độ khoảng thế kỷ XVII (P.Rajendran etal, 1995) và Sri Lanka đầu thế kỷ XVIII (W.M Bandara và M 5 Sikurajapathy, 1992). Sau đó, sắn được trồng ở Trung Quốc, Myanma và các nước châu Á khác ở cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỉ XIX (Fang Baiping, 1992; U Thun Than,1992).
Ở Châu Á, sắn được du nhập vào từ thế kỷ XVII và theo hai con đường: Thứ nhất là vào Ấn Độ sau đó sang Trung Quốc, Mianma và một số nước khác trong khu vực. Thứ hai từ Châu Phi đến Nam Mỹ, Philippin, Indonexia rồi lan dần sang các nước khác. Cây Luan van 4 sắn du nhập vào Việt Nam khoảng giữa thế kỷ XVIII và được trồng trên khắp lãnh thổ nước ta từ Bắc đến Nam do khả năng thích ứng tốt với điều kiện khí hậu thổ nhưỡng. Trước đây sắn được coi là một loại cây lương thực quan trọng cho một bộ phận nông dân Việt Nam.
Tuy nhiên hiện nay nhờ sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, cây sắn đã và đang đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc sống xã hội của con người hiện nay. Gía trị dinh dưỡng của cây sắn Theo số liệu công bố của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp thế giới (FAO), hàm lượng dinh dưỡng trong củ sắn (tính trên 100 gam phần ăn được) như sau: Bảng 2.1 : Hàm lượng dinh dưỡng trong củ sắn Thành phần dinh dưỡng Tỷ lệ % Nước 65,5 Tinh bột 32,1 Protein 1,0 Lipit 0,2 Xenlulose 1,2 Trong protein của sắn có tương đối đầy đủ các acid amin (nhất là 9 acid amin không thay thế được cần thiết cho con người) đặc biệt hai acid amin quan trọng là Lizin và Tritophan có đủ để cung cấp cho nhu cầu của cả trẻ em và người lớn. Trước đây sắn được coi là một trong những cây lương thực quan trọng. Tại nhiều vùng nhiệt đới trên thế giới đã coi sắn và các sản phẩm chế biến từ sắn là nguồn lương thực chính, đặc biệt là các nước Châu Phi.
Sắn là cây trồng đứng vị trí thứ tư trên thế giới về mặt cung cấp năng lượng cho con người. Ngày nay, chế biến sắn được sản xuất theo công nghiệp hóa, hiện đại hóa, các sản phẩm từ sắn ngày càng đa dạng và phong phú đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân. Tình hình sản xuất và tiêu sắn trên thế giới và trong nước 2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trên thế giới Trên thế giới sắn là cây quan trọng được xếp đứng thứ năm sau cây ngô, lúa gạo, lúa mì và khoai tây.
Luan van 5 Theo số liệu thống kê của FAO, tính đến năm 2018 diện tích trồng sắn trên thế giới đạt 24,95 triệu ha với năng suất bình quân 11,29 tấn/ha, tổng sản lượng đạt được là 277,808 triệu tấn. Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới 5 năm gần đây được thể hiện qua bảng 2.1 như sau: Bảng 2.2: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới từ năm 2014 - 2018 Năm Diện tích (triệu ha) Năng suất (tấn/ ha) Sản lượng (triệu tấn) 2014 25,54 11,38 290,942 2015 25,96 11,28 293,010 2016 25,03 11,52 288,497 2017 24,57 11,36 279,304 2018 24,59 11,29 277,808 (Nguồn: FAOSTAT, 2020) [13] Qua bảng số liệu 2.2 ta thấy: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới có xu hướng giảm dần từ năm 2014 đến năm 2018. Trong đó, diện tích trồng sắn trên toàn thế giới năm 2018 giảm 0,95 triệu ha, năng suất giảm 0,09 tấn/ ha và sản lượng giảm 13,134 triệu tấn so với năm 2014. Viện nghiên cứu chính sách lương thực thế giới (IFPRI), ước tính sản lượng sắn toàn cầu đến năm 2020 ước đạt 275,10 triệu tấn, mức tiêu thụ sắn ở các nước đang phát triển dự báo đạt 254,60 triệu tấn so với các nước đã phát triển là 20,5 triệu tấn.
Khối lượng sản phẩm sắn toàn cầu sử dụng làm lương thực thực phẩm dự báo nhu cầu là 176,3 triệu tấn và thức ăn gia súc 53,4 triệu 5 tấn. Tốc độ tăng hàng năm của nhu cầu sử dụng sản phẩm sắn làm lương thực, thực phẩm và thức ăn gia súc đạt tương ứng là 1,98 % và 0,95 %. Tình hình sản xuất sắn ở Việt Nam Sắn là cây lương thực quan trọng thứ ba sau ngô, lúa. Sắn là nguồn thu nhập quan trọng của các hộ nông dân nghèo do sắn dễ trồng, ít kén đất, ít vốn đầu tư, phù hợp với sinh thái và điều kiện kinh tế nông hộ.
Luan van 6 Tình hình sản xuất sắn ở Việt Nam giai đoạn 2014 - 2018 được thể hiện ở bảng 2.2 dưới đây: Bảng 2.