Đặt vấn đề Rừng là tài nguyên vô cùng quý giá của quốc gia, là lá phổi xanh khổng lồ của nhân loại. Rừng là tài nguyên quý giá của nhân loại, rừng giữ vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội loài người. Rừng không chỉ là nơi cung cấp thức ăn, vật liệu xây dựng, thuốc chữa bệnh, tham gia vào quá trình giữ đất, giữ nước, điều hoà khí hậu, phòng hộ và bảo vệ môi trường, bảo vệ các nguồn gen quý hiếm và là nơi cư trú của các loài động, thực vật, tạo ra sự đa dạng sinh học trên hành tinh của chúng ta. Tuy nhiên trong những năm gần đây diện tích rừng tự nhiên đang ngày càng bị thu hẹp diện tích, giảm đi liên tục chất lượng và trữ lượng.
rừng nghèo, đất trống đồi núi trọc tăng lên do hoạt động khai thác chặt phá, đốt nương làm rẫy, sử dụng rừng không hợp lí. Gỗ và các tài nguyên khác ngoài gỗ đang dần bị cạn kiệt, các loài cây gỗ có giá trị đã và đang đang bị hủy hoại ở mức báo động mà nguyên nhân chủ yếu là do chính hoạt động của con người gây ra. Theo số liệu điều tra của viện quy hoạch rừng năm 1945 diện tích rừng tự nhiên nước ta là 14 triệu ha tương đương với độ che phủ là 43%, đến năm 1990 diện tích rừng tự nhiên nước ta chỉ còn 9,175 triệu ha, tương đương độ che phủ là 27,2 %. Từ khi chính phủ có chỉ thị 268/TTg (1996) cấm khai thác rừng tự nhiên nên tốc độ rừng phục hồi đã trở nên khả quan hơn.
Theo quyết định số 1423/QĐ-BNN-TCLN ngày 15/04/2020 của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2019, diện tích rừng tự nhiên nước ta gần 10,3 triệu ha, độ che phủ tương ứng là 41,89%. Từ đó rừng cũng dần cung cấp cho con người nhiều sản phẩm hơn, duy trì sự phát triển của động thực vật có giá trị kinh tế cao. Đồng thời rừng còn là một thế Luan van 2 mạnh của khu vực miền núi trung du. Góp phần xóa đói giảm nghèo, làm giàu bền vững cho nhiều hộ dân.
Ngày nay Đảng và nhà nước Việt Nam ta đang trong quá trình mở của phát triển nền kinh tế, nhiều khu đô thị đang được hình thành, do dân số tăng nhanh, sự phát triển của các ngành công nghiệp, xí nghiệp, nhà máy, sự gia tăng của các phương tiện giao thông,. làm cho môi trường đô thị bị ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng. Cho nên, bảo vệ môi trường trở thành nhiệm vụ hết sức cấp bách. Cây xanh, là một thành phần quan trọng trong các công trình kiến trúc, có vai trò hết sức quan trọng trong việc điều hoà khí hậu, bảo vệ môi trường và giải quyết các vấn đề môi sinh.
Cùng với việc giảm thiểu nguồn ô nhiễm thì sử dụng cây xanh đang là giải pháp hiệu quả nhất trong việc bảo vệ môi trường và tạo nên các khu rừng cảnh quan du lịch sinh thái cho nhân dân tới nghỉ ngơi, thăm quan. Vì vậy, cây xanh đô thị đã trở thành chủ đề thu hút nhiều nhà khoa học quan tâm. Trong sản xuất cây con từ hạt có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây con trong giai đoạn vườn ươm, trong đó có hỗn hợp ruột bầu và sâu bệnh hại. Ruột bầu là nơi cung cấp chủ yếu dinh dưỡng cho cây trong giai đoạn nuôi dưỡng ở vườn ươm, tuy nhiên mỗi loài cây phù hợp với thành phần ruột bầu khác nhau.
Thực tế có những kết quả nghiên cứu đầy đủ về tạo hỗn hợp ruột bầu và được áp dụng cho một số loài cây đã sử dụng để trồng rừng trong cả nước. Đặc tính chống chịu sâu bệnh của mỗi loài cây cũng khác nhau. Xuất phát từ những vấn đề nói trên, tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến sinh trưởng của cây con Lim xẹt (Peltophorum tonkinensis A.Chev) trong giai đoạn vườn ươm tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên”. Nhằm nghiên cứu ảnh hưởng của các công thức hỗn hợp ruột bầu khác nhau trong quá trình sinh trưởng của cây Lim xẹt, có ảnh hưởng như thế nào Luan van 3 đến quá trình sinh trưởng của cây Lim xẹt trong giai đoạn vườn ươm, và tìm ra một số biện pháp kỹ thuật phù hợp trong chăm sóc cây trong giai đoạn vườn ươm.
Là loài cây có khả năng tái sinh hạt tốt ở chỗ trống hoặc nơi có độ tàn che nhẹ. Cây có thể sống được trên nhiều loại đất, kể cả đất chua, chịu được nắng nóng khô hạn là một trong những loài cây nhiệt đới điển hình, có khả năng sinh trưởng phát triển tốt trong nhiều điều kiện khác nhau, có thể chọn làm cây cải tạo rừng nghèo hoặc khoanh nuôi trong rừng đang phục hồi. Gỗ Lim xẹt có màu hồng, thớ tương đối mịn, ít bị mối mọt, cong vênh, được dùng để đóng đồ mộc và xây dựng nhà cửa. Đặc biệt Lim xẹt có thể sử dụng làm cây xanh đô thị.
Do cây Lim xẹt có hình dáng đẹp, tán lá rộng, sinh trưởng nhanh, tái sinh chồi và hạt tốt trên đất chua và nghèo dinh dưỡng, hoa màu vàng rất đẹp, quả không mọng nước nên có thể trồng làm cây xanh đô thị, cải tạo rừng, chống xói mòn đất. Xuất phát từ những vấn đề đặt ra và căn cứ vào một số đặc điểm cũng như giá trị của cây Lim xẹt, cho nên tôi quyết định chọn cây Lim xẹt (Peltophorum tonkinensis A.Chev) để thực hiện đề tài của mình. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá được ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến tỷ lệ nảy mầm, sinh trưởng của cây con Lim xẹt (Hvn, D00, số lá). - Trên cơ sở đó, xây dựng được hướng dẫn kỹ thuật gieo ươm cây Lim xẹt phục vụ trồng rừng.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Giúp ta làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, ứng dụng kiến thức đã học được từ trong nhà trường và thực tiễn. - Củng cố kiến thức cơ sở cũng như chuyên nghành, sau này có điều kiện tốt hơn để phục vụ công tác phát triển nghành Lâm nghiệp. Luan van 4 - Tạo điều kiện cho sinh viên được tiếp xúc, làm quen với thực tế công tác nghiên cứu khoa học. - Góp phần hoàn chỉnh dữ liệu khoa học về nghiên cứu chuyên sâu loài cây Lim xẹt.
- Kết quả nghiên cứu làm cơ sở khoa học để lựa chọn phương thức nhân giống và phát triển loài Lim xẹt. - Nâng cao năng lực, rèn luyện kỹ năng và phương pháp nghiên cứu khoa học cho bản thân sinh viên. - Là tài liệu tham khảo cho nhà trường, cho khoa và các sinh viên khóa tiếp theo. Ý nghĩa trong thực tiễn Biết được cây con Lim xẹt ở giai đoạn vườn ươm cần loại hỗn hợp ruột bầu nào phù hợp nhất, góp phần vào việc quản lý tài nguyên rừng bền vững.
Kết quả nghiên cứu vận dụng vào sản xuất cây giống Lim xẹt, đồng thời có thể phổ biến công thức tốt nhất cho cây sinh trưởng cho bà con cùng áp dụng. Từ những hạn chế đề xuất xây dựng những biện pháp chăm sóc tạo giống cây con ở giai đoạn vườn ươm. Tạo cây con đảm bảo chất lượng tốt. Luan van 5 Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở khoa học Theo tổng cục lâm nghiệp cây con được tạo ra từ các vườn ươm phải đảm bảo cây giống được lựa chọn có những phẩm chất tốt phù hợp với điều kiện tự nhiên, khí hậu, đất đai để giảm bớt sự cạnh tranh của các loài cây khác với chúng. Việc chăm sóc cây con sẽ đảm bảo cho sự phát triển của cây con trong tương lai. Trong sản xuất nông nghiệp: Đất là giá thể, môi trường sống trực tiếp của bộ rễ và là nguồn cung cấp nước, chất dinh dưỡng cho cây. Đất tốt cây sinh trưởng tốt ra hoa kết quả sớm, sản lượng, chất lượng quả hạt cao, chu kì sai quả ngắn và ngược lại.
Đất tốt là đất giàu dinh dưỡng chủ yếu là N, P, K,… và các nguyên tố vi lượng cần thiết đồng thời các thành phần đó có một tỷ lệ thích hợp, Bộ lâm nghiệp (1987) [15]. Trong gieo ươm: - Điều kiện đất đai: Đất là hoàn cảnh để cây con sinh trưởng, phát triển sau này, cây con sinh trưởng, phát triển tốt hay xấu là do đất cung cấp chất dinh dưỡng nước và không khí cho cây. Chất dinh dưỡng, nước và không khí trong đất có đầy đủ cho cây hay không chủ yếu là do: Thành phần cơ giới, độ ẩm, độ pH,… của đất quyết định. + Thành phần cơ giới của đất: Đất vườn ươm nên chọn thành phần cơ giới cát pha có kết cấu tơi xốp, thoáng khí, khả năng thấm nước và giữ nước tốt, loại đất này thuận lợi cho hạt nảy mầm sinh trưởng của cây con, dễ làm đất và chăm sóc cây con hơn… Tuy nhiên chọn đất xây dựng vườn ươm cũng cần căn cứ và đặc tính sinh học của loài cây, ví dụ: Gieo ươm cây Mỡ ưa đất Luan van 6 thịt trung bình, đất tơi xốp, thoáng khí và ẩm.
Gieo ươm cây Thông ưa đất cát pha, thoát nước tốt. + Độ phì của đất: Đất có độ phì tốt là đất có hàm lượng cao các chất dinh dưỡng khoáng chủ yếu cho cây như: N, P, K, Mg, Ca và các chất vi lượng khác… Đồng thời tỷ lệ các chất phải cân đối và thích hợp. Gieo ươm trên đất tốt cây con sinh trưởng càng nhanh, khỏe mập, các bộ phận thân, rễ, cành, lá phát triển cân đối, Mai Quang Trường, Lương Thị Anh (2007) [16]. + Độ ẩm của đất: Có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển cân đối giữa các bộ phận dưới mặt đất và trên mặt đất của cây con.
Đất quá khô hoặc quá ẩm đều không tốt. Mực nước ngầm trong đất cao hay thấp có liên quan đến độ ẩm của đất, mực nước ngầm thích hợp cho đất cát pha ở độ sâu là 1,5-2m, đất sét là trên 2,5m. Chọn đất vườn ươm không nên chỉ dựa vào độ ẩm của đất, mực nước ngầm cao hay thấp mà còn tùy thuộc vào đặc tính sinh vật học của từng loài cây ươm. Ví dụ: Gieo ươm cây Phi lao nên chọn đất thường xuyên ẩm, song gieo ươm cây Thông cần phải chọn đất nơi cao ráo, thoát nước Nước: Nước đóng vai trò rất quan trọng đối với thực vật, nhất là giai đoạn vườn ươm.
Việc cung cấp nước cho cây con đòi hỏi cần phải đủ về số lượng. Sự dư thừa hay thiếu hụt nước đều không có lợi cho cây Kháo vàng. Hệ rễ cây con trong bầu cần cân bằng giữa lượng nước và dưỡng khí để sinh trưởng.