Đặt vấn đề Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được của các ngành nông lâm – ngư nghiệp, là thành phần quan trọng của môi trường, là yếu tố quan trọng trong quá trình phát triển xã hội, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng. Trong thời kỳ phát triển kinh tế mới đất đai có thêm những chức năng có ý nghĩa quan trọng là chức năng tạo nguồn vốn và thu hút cho đầu tư phát triển. Việc phân tích, đánh giá nhu cầu sử dụng tài nguyên đất một cách hợp lý và có hiệu quả là hết sức cần thiết cho sự phát triển bền vững (Huỳnh Văn Chương, Ngô Hữu Hạnh, 2010) [7]. Đất nước ta đang bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước theo đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng ta, sự hình thành các đô thị mới và mở rộng các đô thị hiện có là một xu thế tất yếu.
Đem lại nhiều sự thay đổi, mang một màu sắc mới, phát triển hơn, giàu đẹp hơn cho đất nước nói chung cũng như thị trấn Mường Khến, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình nói riêng. Nhưng bên cạnh đó cũng còn không ít những vấn đề còn tồn tại, đặc biệt là vấn đề đô thị hóa đã làm giảm diện tích đất dành cho sản xuất nông nghiệp ở khu vực nông thôn bị thu hẹp dần, chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ, thương mại v.v tăng lên nhanh chóng. Dẫn đến quan hệ sử dụng đất đô thị có những phát sinh phức tạp như tình trạng tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng đất trái phép. Đặc biệt, do biến động của quan hệ sử dụng đất trong quá trình đô thị hóa, tình hình chính trị xã hội cũng có những biểu hiện xấu như: khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn; tình trạng khiếu kiện ngày càng gia tăng, nhất là khiếu kiện trong lĩnh vực đất đai chiếm tỷ lệ lớn (Trịnh Duy Luân, 1996) [13].
Thị trấn Mường Khến là trung tâm Chính trị - Kinh tế - Văn hóa xã hội của huyện Tân Lạc được thành lập ngày 19 tháng 3 năm 1988 theo Quyết định số: 49/QĐ – HĐBT (Hội đồng bộ trưởng). Phía Nam và phía Tây giáp xã Mãn Đức; Phía Đông, phía Bắc giáp xã Quy Hậu. Với diện tích tự nhiên 2 408,72 ha.821 nhân khẩu có 6 dân tộc anh em cùng chung sống, có 2 tuyến đường quốc lộ 6 và 12B đi qua, giao nhau tại ngã 3 thị trấn Mường Khến, có các cơ quan của Trung ương và địa phương đóng chân trên địa bàn, địa bàn được phân thành 8 khu dân cư nằm dọc theo 2 tuyến quốc lộ. Đặc điểm địa bàn có nhiều thành phần kinh tế khác nhau tạo cho thị trấn có nhiều thuận lợi trong việc phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh.
Huyện Tân Lạc nói chung và thị trấn Mường Khến nói riêng đang có bước tiến mạnh mẽ về các vấn đề kinh tế xã hội. Tuy nhiên, song song với sự phát triển, tình hình sử dụng đất đai trên địa bàn thị trấn Mường Khến đã có sự biến động đáng kể, đặc biệt là đất nông nghiệp. Theo số liệu của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, bình quân mỗi năm có 73 nghìn ha đất nông nghiệp bị thu hồi đã tác động tới đời sống khoảng 2,5 triệu người với gần 630 nghìn hộ nông dân và trung bình cứ 1 ha đất bị thu hồi có 10 người bị mất việc. Nhận thức được tầm quan trọng về sự ảnh hưởng của đô thị hóa đối với cuộc sống của người nông dân, được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Quản lý tài nguyên, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên và với sự hướng dẫn trực tiếp của TS.
Hoàng Văn Hùng tôi nghiên cứu đề tài “ Nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến đất nông nghiệp tại thị trấn Mường Khến huyện Tân lạc tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2009 - 2013”. Mục đích nghiên cứu của đề tài - Đánh giá được tác động và mức độ ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến đất nông nghiệp, đời sống của hộ nông dân mất đất nông nghiệp và đề xuất giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình đô thị hóa và công tác quản lý đât đai tại địa phương. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài - Đánh giá được thực trạng đô thị hóa thị trấn Mường Khến Tân lạc tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2009-2013 - Đánh giá được ảnh hưởng của đô thị hóa tới đời sống kinh tế của hộ gia đình nông dân và xác định được một số yếu tố ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến đất nông nghiệp tại thị trấn Mường Khến. 3 - Đề xuất một số giải pháp nâng cao đời sống kinh tế của hộ nông dân, tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước về đất đai trong quá trình đô thị hóa tại thị trấn Mường Khến.
Yêu cầu của đề tài - Công tác điều tra thu thập thông tin + Thông tin và số liệu thu được chính xác trung thực, khách quan. + Chỉ ra được những biến động về đất đai của khu vực đánh giá trong giai đoạn nghiên cứu. + Đánh giá đầy đủ, chính xác các yếu tố hạn chế và tích cực của quá trình đô thị hóa đến việc sử dụng đất nông nghiệp qua các nguồn thông tin. - Giải pháp kiến nghị đưa ra phải thực tế, có tính khả thi và phù hợp với điều kiện địa phương.
Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài - Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: Sử dụng kiến thức đã học áp dụng vào thực tế nâng cao tính thực tiễn, chiều sâu của kiến thức ngành học cho bản thân. Đồng thời là cơ hội cho bản thân tiếp cận với vấn đề đô thị hóa. - Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất: tìm ra những mặt hạn chế và tích cực của quá trình đô thị hóa ảnh hưởng tới đất nông nghiệp để từ đó đề xuất ra những giải pháp thích hợp, phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương góp phần đẩy nhanh quá trình này trong thời gian tới. 4 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Căn cứ pháp lý - Căn cứ vào luật đất đai 2003; - Căn cứ vào luật quy hoạch đô thị 2009; - Căn cứ vào nghị định số: 72/2001/NĐ - CP ngày 05/10/2001 của Chính phủ về việc phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị; - Căn cứ vào nghị định số 197/2004/NĐ - CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; - Căn cứ vào nghị định số 198/2004/NĐ - CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất; - Căn cứ vào nghị định số 181/2004/NĐ - CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành luật đất đai; - Căn cứ vào nghị định số 84/2007/NĐ - CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai; - Căn cứ vào nghị định số 69/2009/NĐ - CP ngày 13/08/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; - Căn cứ vào nghị định số 37/2010/NĐ - CP ngày 07/04/2010 của Chính phủ về lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch đô thị; - Căn cứ vào thông tư liên tịch số 02/2002 – TTLT – BXD – BTCCBCB ngày 08/03/2002 của bộ xây dựng - ban tổ chức cán bộ chính phủ (nay là bộ nội vụ) hướng dẫn về việc phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị; - Thông tư số 10/2008/TT - BXD ngày 22/04/2008 của Bộ xây dựng hướng dẫn về đánh giá, công nhận khu đô thị mới kiểu mẫu; - Thông tư số 14/2009/TT - BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất; - Chỉ thị số 618/CT - TTg ngày 15/05/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010. 5 - Nghị quyết 35/2012/NQ-HĐND về quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Hòa Bình đến năm 2020 do tỉnh Hòa Bình ban hành. Cơ sở lý luận và thực tiễn về đô thị 2. Khái niệm về đô thị Ở Việt Nam, theo nghị định 72/2001/NĐ – CP ngày 05 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ, quyết định đô thị nước ta là các điểm dân cư có các tiêu chí sau: Thứ nhất: Là trung tâm Chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh hoặc vùng liên tỉnh, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với vùng liên tỉnh.
Thứ hai: Đặc điểm dân cư được coi là đô thị khi có dân số tối thiểu từ 4000 người trở lên. Thứ ba: Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của nội thành, nội thị từ 65% trở lên trong tổng số lao động nội thành, nội thị và là nơi có sản xuất và dịch vụ thương mại phát triển. Thứ tư: Có cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn quy định đối với từng loại đô thị. Thứ năm: Có mật độ dân số nội thành, nội thị phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng đô thị, tối thiểu là 2000 người/km2 trở lên.
Phân loại và phân cấp đô thị Theo điều 4 Nghị định số 72/2001/NĐ – CP [10]. - Đô thị được phân làm 6 loại gồm: đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I, đô thị loại II, đô thị loại III, đô thị loại IV và đô thị loại V. - Cấp quản lý đô thị gồm: + Thành phố trực thuộc trung ương. + Thành phố thuộc tỉnh; thị xã thuộc tỉnh hoặc thị xã thuộc thành phố trực thuộc trung ương.
+ Thị trấn thuộc huyện. Chức năng của đô thị Đô thị có thể có các chức năng khác nhau tùy theo mỗi giai đoạn phát triển. Bao gồm các chức năng chủ yếu sau: * Chức năng quản lý: tác động của quản lý nhằm hướng nguồn lực vào mục tiêu kinh tế, xã hội, sinh thái và kiến trúc, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, vừa nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu công cộng, vừa quan tâm đến nhu cầu chính đáng của cá nhân.