MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì có thể thay thế được đối với các ngành sản xuất nông - lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là nền tảng cho sự sống của con người và nhiều sinh vật khác. Hiện nay, cùng với xu hướng phát triển của thế giới thì quá trình đô thị hoá (ĐTH) đã và đang ảnh hưởng mạnh mẽ tới vấn đề sử dụng đất nói chung và sử dụng đất nông nghiệp nói riêng. Hòa theo xu thế đó, tốc độ ĐTH cũng đã và đang phát triển mạnh mẽ tại tỉnh Cao Bằng và ảnh hưởng tới quá trình sử dụng đất nông nghiệp.
Năm 2012, thị xã Cao Bằng được công nhận là đô thị loại III chính thức trở thành thành phố Cao Bằng. Tốc độ ĐTH diễn ra mạnh mẽ kể từ đây. Trong chiến lược phát triển Thành phố, phường Đề Thám là nơi được chọn để tập trung phát triển làm trung tâm hành chính của thành phố Cao Bằng với khu đô thị mới Km5. ĐTH đã và đang ảnh hưởng mạnh mẽ tới quá trình sử dụng đất nông nghiệp tại tỉnh Cao Bằng nói chung và phường Đề Thám nói riêng.
Quá trình ĐTH đã làm cho diện tích đất nông nghiệp tại phường Đề Thám có những thay đổi đáng kể: diện tích đất cho sản xuất nông nghiệp ở khu vực nông thôn bị thu hẹp dần nhường cho diện tích đất khu đô thị tăng lên nhanh chóng, quan hệ kinh tế đất đô thị cũng được tiền tệ hóa theo quy luật của kinh tế thị trường. Quan hệ sử dụng đất đô thị có những phát sinh phức tạp mà nhiều khi đã vượt ra ngoài tầm kiểm soát của Nhà nước - đó là tình trạng tự ý chuyển mục đích sử dụng đất trái phép, sự quá tải của hạ tầng kỹ thuật đô thị; ô nhiễm môi trường; thiếu vốn đầu tư… Đặc biệt đô thị phát triển không đúng định hướng, mục tiêu của Nhà nước do công tác xây dựng và quản lý quy hoạch chưa tốt. Giá cả đất đô thị trên thị trường bất động sản có những biến động rất phức tạp, gây ra những khó khăn cho phát triển kinh tế - xã hội. Do biến động của quan hệ sử dụng đất trong quá trình đô thị hóa, tình hình chính trị xã hội cũng có những biểu hiện xấu như: khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn; tình trạng khiếu kiện ngày càng gia tăng, đặc biệt khiếu kiện trong lĩnh vực đất đai chiếm tỷ lệ lớn… n Xuất phát từ những nhu cầu thực tiễn, được sự đồng ý của Ban giám hiệu Nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Quản lý Tài nguyên - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên và với sự hướng dẫn trực tiếp của Thầy giáo - ThS.
Hoàng Hữu Chiến, em tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp tại phường Đề Thám, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2010 - 2013” 1. Mục đích nghiên cứu của đề tài Đánh giá được những tác động và mức độ ảnh hưởng của quá trình ĐTH đến sử dụng đất nông nghiệp, đời sống của hộ nông dân mất đất nông nghiệp và đề xuất giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình đô thị hóa ở địa phương theo các mục tiêu của phát triển bền vững. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài - Đánh giá được điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của phường Đề Thám ảnh hưởng đến sử dụng đất. - Nêu lên được thực trạng của quá trình đô thị hóa và ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến biến động sử dụng đất nông nghiệp của phường Đề Thám.
- Đánh giá được ảnh hưởng của đô thị hóa tới đời sống kinh tế hộ nông dân tại phường Đề Thám - Đề ra được các giải pháp nâng cao đời sống kinh tế hộ nông dân, tăng cường vai trò quản lý Nhà nước về đất đai trong quá trình đô thị hóa tại phường Đề Thám. Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài - Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: là cơ hội cho bản thân củng cố kiến thức đã học trên ghế nhà trường, đồng thời là cơ hội cho bản thân tiếp cận với vấn đề ĐTH. - Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất: tìm ra những mặt hạn chế và tích cực của quá trình ĐTH ảnh hưởng tới vấn đề sử dụng đất nông nghiệp, từ đó đề xuất ra những giải pháp thích hợp, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương góp phần đẩy nhanh quá trình này trong thời gian tới. n Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Các văn bản của Trung ương - Luật Đất đai 2003. - Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai. - Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường thiệt hại, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. - Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 08 năm 2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
- Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07 tháng 05 năm 2009 của Chính phủ về việc phân loại đô thị. - Thông tư số 34/2009/TT-BXD ngày 30 tháng 09 năm 2009 của Bộ Xây dựng quy định chi tiết một số nội dung của Nghị định 42/2009/NĐ-CP ngày 07 tháng 05 năm 2009 của Chính phủ về phân loại đô thị - Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01 tháng 10 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất. Các văn bản của tỉnh Cao Bằng - Quyết định số 06/2013/QĐ-UBND ngày 21 tháng 05 năm 2013 của UBND tỉnh Cao Bằng về việc sửa đổi, bổ sung quy định ban hành kèm theo Quyết định số 3336/2009/QĐ-UBND ngày 31 tháng 12 năm 2009 và Quyết định số 638/2011/QĐ- UBND ngày 9 tháng 4 năm 2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Cao Bằng. - Quyết định số 05/2013/QĐ-UBND ngày 21 tháng 05 năm 2013 của UBND tỉnh Cao Bằng về việc ban hành bảng giá nhà ở và các công trình xây dựng gắn liền với đất để tính bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Cao Bằng [9].
Cơ sở lý luận và thực tiễn về đô thị hóa 2. Khái niệm về đô thị Ở Việt Nam, theo Nghị đinh số 42/2009/NĐ-CP ngày 07 tháng 05 năm 2009 của Chính phủ, quyết định đô thị nước ta là các điểm dân cư có các tiêu chí, tiêu chuẩn sau [3]: n Thứ nhất: Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, cấp quốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc là một trung tâm của vùng trong tỉnh; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định. Thứ hai: đặc điểm dân cư được coi là đô thị khi có dân số tối thiểu từ 4000 người trở lên. Thứ ba: Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị và khu phố xây dựng tập trung của thị trấn.
Thứ tư: Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp được tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị, khu vực xây dựng tập trung phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động. Thứ năm: Hệ thống công trình hạ tầng đô thị gồm hệ thống công trình hạ tầng xã hội và hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật: - Đối với khu vực nội thành, nội thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ và có mức độ hoàn chỉnh theo từng loại đô thị; - Đối với khu vực ngoại thành, ngoại thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ mạng hạ tầng và bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển đô thị bền vững. Thứ sáu: Kiến trúc, cảnh quan đô thị: việc xây dựng phát triển đô thị phải theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị được duyệt, có các khu đô thị kiểu mẫu, các tuyến phố văn minh đô thị, có các không gian công cộng phục vụ đời sống tinh thần của dân cư đô thị; có tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu và phù hợp với môi trường, cảnh quan thiên nhiên. Phân loại và phân cấp quản lý đô thị Theo điều 4 Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07 tháng 05 năm 2009 của Chính phủ.
Đô thị được phân thành 6 loại gồm: đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I, đô thị loại II, đô thị loại III, đô thị loại IV và đô thị loại V được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định công nhận. Đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc. Đô thị loại I, loại II là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và có thể có các đô thị trực thuộc; đô thị loại I, loại II là thành phố thuộc tỉnh có các phường nội thành và các xã ngoại thành. Đô thị loại III là thành phố hoặc thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thành, nội thị và các xã ngoại thành, ngoại thị.
Đô thị loại IV là thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thị và các xã ngoại thị. Đô thị loại IV, đô thị loại V là thị trấn thuộc huyện có các khu phố xây dựng tập trung và có thể có các điểm dân cư nông thôn [3]. Chức năng của đô thị Tuỳ theo mỗi giai đoạn phát triển mà đô thị có thể có các chức năng khác nhau, nhìn chung đô thị có các chức năng chủ yếu sau [1]: * Chức năng kinh tế: đây là chức năng chủ yếu của đô thị. Sự phát triển kinh tế thị trường đã đưa đến xu hướng tập trung sản xuất có lợi hơn là phân tán.
Chính yêu cầu kinh tế ấy đã tập trung các loại hình xí nghiệp thành khu công nghiệp và CSHT tương ứng, tạo ra thị trường ngày càng mở rộng và đa dạng hoá. tập trung sản xuất kéo theo tập trung dân cư, trước hết là thợ thuyền và gia đình của họ tạo ra bộ phận chủ yếu của dân cư đô thị. * Chức năng xã hội: chức năng này ngày càng có phạm vi lớn dần cùng với tăng quy mô dân cư đô thị.