Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học về tác động của phát triển đô thị đến quản lý sử dụng đất nông nghiệp và đời sống của người dân đô thị 1. Đất đai và quản lý sử dụng đất 1. Khái niệm về đất đai a).
Thổ nhưỡng: Theo Dokuchaev: Đất như là một thực thể tự nhiên có nguồn gốc và lịch sử phát triển riêng, là thực thể với những quá trình phức tạp và đa dạng diễn ra trong nó. Đất được coi là khác biệt bởi với đá. Đá trở thành đất dưới ảnh hưởng của một loạt các yếu tố tạo thành đất như khí hậu, cây cỏ, khu vực, địa hình và tuổi (Vũ Ngọc Tuyên, 1994) [71]. Đất là tầng mặt tơi xốp của lục địa có khả năng tạo ra sản phẩm cây trồng (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2009) [8].
b) Đất đai: Trong lĩnh vực tài nguyên, môi trường, đất đai (land) được hiểu như tài nguyên thiên nhiên, tài sản, tư liệu sản xuất. “Với nghĩa chung nhất, đó là lớp vỏ trái đất, lớp thổ nhưỡng hoặc là cả quả địa cầu, bao gồm đồng ruộng, đồng cỏ, bãi chăn thả, rừng cây, bãi hoang, mặt nước, đầm lầy và bãi đá. Với nghĩa hẹp hơn thì “đất đai” biểu hiện khối lượng và tính chất của tài sản mà con người có thể chiếm hữu đối với đất. Nó có thể bao gồm mọi tài sản hoặc lợi ích trên đất cả về mặt pháp lý và sự bình đẳng cũng như về quyền địa dịch và về di sản thiêng thiêng.
Đất đai là một mặt còn tài sản trên đất là một mặt khác, vì tài sản trên đất là có thời hạn hoặc đất là được sử dụng cho các tài sản đó trong một thời hạn nhất định” (West Publishing Co, 1991) [94]. “ Đất đai là tài nguyên thiên nhiên, tài sản quý giá, lãnh thổ thiêng liêng của của mỗi quốc gia, dân tộc. Đất đai và quan hệ đất đai là sợi chỉ đỏ xuyên suốt mọi thời đại. Quốc gia nào cũng quan tâm đến đất đai và quản lý đất đai nhằm củng cố địa vị của giai cấp thống trị và thu thuế”(Nguyễn Đình Bồng, và CS 2013) [3].
c 5 c) Đất nông nghiệp Theo Vương Quang Viễn (1972) [90]: nông nghiệp là một ngành sản xuất mà loài người sử dụng đất để có sản phẩm động vật và thực vật. Theo Trương Đức Tuý (2002) [72]: Đó là hành vi tạo ra lợi ích từ sản xuất thông qua việc sử dụng đất đai, lao động và vốn, tức là việc sử dụng đất đai nông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp gồm 4 lĩnh vực: nông, lâm, ngư (nghề cá), súc (chăn nuôi). Từ đó có thể định nghĩa: Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp (bao gồm lâm nghiệp, đồng cỏ chăn nuôi và mặt nước nuôi trồng thủy sản).
Phân loại đất nông nghiệp: Tại Điều 10 Luật Đất đai 2013 qui định Nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây: - Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; - Đất trồng cây lâu năm; - Đất rừng sản xuất; - Đất rừng phòng hộ; - Đất rừng đặc dụng; - Đất nuôi trồng thủy sản; - Đất làm muối; - Đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh. (Quốc hội, 2013) [55] d) Đất đô thị Đất đô thị là đất nội thành, nội thị và đất ngoại thành được quy hoạch để phát triển đô thị. Cùng với sự hình thành đô thị, đất đai cũng từng bước được chia thành đất đô thị, đất ngoại ô và đất nông thôn; đất đô thị có nguồn gốc chủ yếu từ đất nông nghiệp. Do kinh tế đô thị phát triển, quy mô đô thị phải mở rộng ra vùng nông c 6 nghiệp phụ cận làm cho đất nông nghiệp bị suy giảm, về kinh tế, đô thị mở rộng làm cho giá đất xung quanh đô thị tăng cao buộc phải nâng cao số tầng xây dựng hoặc mở rộng ra các vùng xung quanh (Đỗ Hậu và Nguyễn Đình Bồng, 2012) [29].
Đất là nền tảng để phát triển đô thị, ở đó con người sinh sống, làm việc và sử dụng các dịch vụ. Vì vậy, đất đô thị là đất để quy hoạch phát triển đô thị. Nhu cầu đất đô thị rất khác nhau giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển, cũng như giữa các thành phố và thị trấn trong một quốc gia. Chỉ số đất đô thị (m2/người): Mỹ 740, Anh 440, Đức 514, Niu Di Lân 270, Bờ-Ra-Xin 428 (Sao Pao lô), Ác Hen Ti Na 58 (Buenos Aires), Ấn độ 27 (Can Cut Ta); Tỷ lệ diện tích đất đô thị/tổng diện tích đất đai (%): Tại Mỹ 1, Anh 7, Đức 10, Niu Di Lân 7.
Nếu tính bình quân diện tích đất đô thị 500 m2/người và dân cư hiện tại khoảng 1,5 tỷ người thì diện tích đất đô thị 750. Theo Phạm Thị Ánh Nguyệt (2011) [47]: Đất đô thị có tác động rất lớn, thúc đẩy hoặc kìm hãm phát triển đô thị. Nó là yếu tố cấu thành thực thể KT - XH đô thị, nơi tập trung đông dân cư, công trình kiến trúc dầy đặc. Các nhu cầu về ăn, ở, mặc, học hành, việc làm, đi lại của dân cư đô thị cần phải được diễn ra trên những mặt bằng nhất định.
Theo Trần Thị Hường (1996) [38]: Chính sách đất đai đô thị là một bộ phận của chính sách phát triển đô thị và phải được xem xét trong khuôn khổ chính sách phát triển chung của quốc gia. Một trong các mục tiêu của chính sách phát triển là huy động các nguồn lực của đất nước để đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội. Mục tiêu của chính sách đất đai là sử dụng đất đai đạt hiệu quả kinh tế xã hội tối ưu. Đất đai là nền tảng để phát triển đô thị vì vậy chính sách đất đai phải xây dựng trên cơ sở tiếp cận chính sách kinh tế xã hội.
Một trong những mục tiêu cụ thể của chính sách đất đai đô thị là việc cung cấp đất cần thiết cho việc phát triển đô thị ở vị trí thích hợp và đúng thời điểm cần thiết. Chính sách đất đai là một bộ phận của chính sách phát triển, vì vậy chúng liên quan đến cấu trúc chính trị, kinh tế, xã hội và trình độ phát triển của đất nước. Trình độ phát triển kinh tế, xã hội, mức độ đô thị hóa và nền tảng lịch sử là yếu tố xác định các vấn đề chính sách đất đai đô thị phải xem xét c 7 và giải quyết. Tốc độ đô thị hóa đang diễn ra ở hầu hết các nước trên thế giới đã làm phát sinh vấn đề khan hiếm đất trong các khu vực đô thị, trong khi đó tính chất và sự bức xúc của vấn đề này là phụ thuộc vào cấu trúc kinh tế xã hội và trình độ phát triển của đất nước.
Quá trình đô thị hóa cũng như chính sách đất đai đô thị sẽ khác nhau giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển cũng như giữa các nước có cấu trúc chính trị, kinh tế xã hội khác nhau. Chính sách đất đai đô thị được hình thành trên cơ sở quy hoạch tổng thể của quốc gia, quy hoạch tổng thể tác động cả hai lĩnh vực phát triển đô thị và chính sách đất đai đô thị. Sử dụng đất a) Sử dụng đất nông nghiệp Từ buổi bình minh của nhân loại, con người đã bắt đầu khai thác đất đai, từ hái lượm, săn bắn, chăn thả đến canh tác cổ truyền, cải tiến, hiện đại; phương thức khai thác, đất đai của con người ngày càng đa dạng, phức tạp, đã làm biến đổi sâu sắc cảnh quan môi trường. Trong thời kỳ Trung cổ; sản xuất nông nghiệp với sử dụng đất nông nghiệp vẫn giữ vị trí trọng yếu, Ví dụ: Trung Quốc thời Xuân Thu, Tần là một nước yếu, nhờ thực hiện “biến pháp canh tân” với chủ trương “canh chiến” (phát triển nông nghiệp, xây dựng lực lượng vũ trang) đã dần dần mạnh lên, đến năm 246 TCN Doanh Chính lên ngôi, tiếp tục đẩy mạnh canh tân, từ 230-221 TCN Tần đã đã lần lượt tiêu diệt Tề, Yên, Ngụy, Triệu, Hàn, Sở, chiếm lĩnh toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc cổ đại (Almanach,1997) [1].
Đặc điểm của sử dụng đất nông nghiệp Theo Nhân Ái Tĩnh (2002) [70]: Đặc điểm sử dụng đất nông nghiệp: i) sử dụng đất nông nghiệp đặc biệt coi trọng bảo vệ độ phì nhiêu của đất; ii) sử dụng đất nông nghiệp khác nhau theo vùng; iii) Hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp không lớn. b) Sử dụng đất đô thị Nhu cầu sử dụng đất phi nông nghiệp ngày càng tăng để đáp ứng yêu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, cấp thoát nước, công nghiệp, nhà ở đô thị (Nguyễn Đình Bồng và CS 2013) [4]. c 8 Đặc điểm của sử dụng đất đô thị: Mác đã khái quát được 3 đặc điểm của địa tô khu vực đô thị là: vị trí đất đai có ảnh hưởng quyết định đến lượng địa tô; người sở hữu đất đai giữ vị trí thụ động đối với địa tô khu vực xây dựng; địa tô khu vực xây dựng cũng tồn tại địa tô lũng đoạn và sẽ dần trở thành bộ phận chủ thể (Tôn Gia Huyên, 2009) [36]. Quản lý sử dụng đất a) Khái niệm quản lý sử dụng đất Quản lý sử dụng đất tập trung vào đất và cách đất được sử dụng cho mục đích sản xuất, bảo tồn và thẩm mỹ (Verheye, 2010) [114].
Quản lý sử dụng đất yêu cầu ra quyết định và được xác định bởi mục đích sử dụng nó ví dụ cho sản xuất lương thực, nhà ở, giải trí, khai khoáng… và được xác định bởi bản chất và giá trị của đất. Trước đây quản lý sử dụng đất tập trung chủ yếu vào đất nông nghiệp. Ngày nay, quản lý đất đai còn phải đối mặt với các vấn đề công nghiệp hóa, đô thị hóa, bảo tồn, khai khoáng … (Preu and Ferber, 2008; Ferber, 2009) [104]. Quản lý sử dụng đất là sự kết hợp của tất cả các công cụ và kỹ thuật được sử dụng bởi chính quyền để quản lý cách mà đất được sử dụng và phát triển, bao gồm: quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, luật pháp, quyền sử dụng đất, định giá đất và thông tin BĐS.