Đặt vấn đề Cây lạc (Arachis hypogaea L.) hay còn gọi là cây đậu phộng đứng hàng thứ hai sau cây đậu tương trong số các cây trồng ngắn ngày lấy dầu thực vật cả về diện tích và sản lượng và được trồng rộng rãi ở hơn 100 quốc gia trên thế giới. Không những là loại cây gần gũi, dễ trồng, mà còn có vai trò cải tạo đất nhờ các vi khuẩn nốt sần sống cộng sinh trên rễ. Đồng thời, đậu phộng cũng là cây có khả năng tạo tính đa dạng hóa cho sản xuất nông nghiệp bằng các hình thức trồng thuần, trồng xen canh, trồng gối vụ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp và che phủ bảo vệ đất chống xói mòn rửa trôi (Adiver K. Ở nước ta, đậu phộng không những là cây thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao là loại lương thực thực phẩm quen thuộc, giàu đạm, chất béo, khoáng chất, vitamin, mà còn mang lại các sản phẩm có giá trị đa dạng.
Cây lạc tại Việt Nam được trồng khắp trên 7 vùng sinh thái. Ở miền Đông Nam Bộ được trồng chủ yếu ở các tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, Tây Ninh trên vùng đất cát xám, đất chuyên canh lúa và đất màu vùng cao. Đậu phộng có thể sản xuất được 3 vụ trong năm (Hè Thu, Đông Xuân và Xuân Hè) tùy từng địa phương, trong đó Xuân Hè là vụ chính (Nguyễn Đình Hải, 2014). Ở Việt Nam hiện nay thị trường giống lạc rất phong phú.
Bên cạnh những giống đã nổi tiếng trên thị trường như L12, L02, HL23, V79, BH102 trong nước sản xuất hoặc nhập khẩu góp phần nâng cao chất lượng cao, năng suất, phù hợp vào điều kiện thổ nhưỡng, thời tiết của từng vùng canh tác ở Việt Nam. Chính vì vậy, công tác chọn giống, chăm sóc, cung cấp đủ dinh dưỡng thích hợp từng vùng sinh thái là cần thiết. Tuy nhiên, để đạt được năng suất và lợi nhuận tối ưu, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường, luôn là vấn đề được các nhà nông và nhà nghiên cứu quan tâm được đặt lên vị trí hàng đầu. Trong đó, việc chăm sóc, bón phân, cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho cây được xem là yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất và phẩm chất của cây trồng.
Xuất phát từ những thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của liều lượng vôi bột đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống Lạc V79 (Arachis hypogaea L.) trồng tại Phân hiệu trường đại học Lâm nghiệp, tỉnh Đồng Nai”. Mục tiêu của đề tài 2. Mục tiêu tổng quát Xác định được liều lượng vôi bột phù hợp ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và sâu bệnh hại của giống lạc V79 trồng tại Phân hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Mục tiêu cụ thể - Xác định ảnh hưởng của vôi đến sinh trưởng của giống giống lạc V79 trồng tại Phân hiệu trường Đại học Lâm nghiệp, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
- Xác định ảnh hưởng của vôi đến phát triển của giống giống lạc V79 trồng tại Phân hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. - Đánh giá được mức độ sâu, bệnh hại khi bón vôi ở các liều lượng khác nhau ảnh hưởng đến giống lạc V79. - Xác định ảnh hưởng của vôi đến năng suất của giống giống lạc V79 trồng tại Phân hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.
Đặc điểm sinh vật học về cây lạc 1. Nguồn gốc cây lạc Lạc (Arachis hypogeae L.) - còn gọi là cây "đậu phộng" có nguồn gốc từ Nam Mỹ. Nhờ khảo cổ học và địa thực vật học mà người ta có thể xác định nguồn gốc cây lạc. Cây lạc là một cây thực phẩm thuộc họ đậu (Ambang Z.Squier) tìm thấy những quả lạc được chôn trong các ngôi mộ cổ Ancongan Lima, thủ đô Peru.
Lạc được đựng trong các vại cùng với một số thực phẩm khác. Niên đại của các ngôi mộ cổ này có từ năm 1500 - 1200 trước Công nguyên. Theo Engen thì lạc được trong cách đây khoảng 3.800 năm, thuộc thời kỳ tiền đồ gốm ở Las Haldas. 2 Theo các nhà sử học, người Inca - thổ dân Nam Mỹ đã trồng lạc như một loài cây thực phẩm dọc vùng duyên hải Pêru với tên "ynchis".
Theo Garcilaso de la vega (1609), người Tây Ban Nha gọi những cây lạc trồng ở Peru la "mani". Những ghi chép đầu tiên về cây lạc của thuyền trưởng Gorzalo Fernandez, ông cũng là người đầu tiên phổ biến tên "mani" của cây lạc. Tên này hiện vẫn được dùng phổ biến ở Cu Ba và một số nước thuộc châu Mỹ - Latinh. Kapovickas (1968) cho rằng vùng Bolovian (Nam Bolovia - Tây Bắc Achentina) là vùng nguyên sản của loài lạc trồng.
Theo ông vùng này có 5 trung tâm phát nguyên của lạc trồng. Gregory (1976) bổ sung thêm trung tâm thứ 6. Đó là các vùng: 1- Vùng Guarani (Paragoay, Parana) 2- Vùng Goias và Minas Gerais (Tocantin, San. Franxiscô) 3- Vùng Rondonia và Tây Bắc Mato (nam Amazon) 4- Bolovian (Tây Nam Amazon) 5- Vùng Peruvian (trên Amazon và ven biển miền Tây) 6- Đông Bắc Braxin (bổ sung của Gregory) Theo Gregory (1979, 1980), tất cả các loài hoang dại thuộc chi Arachis chỉ tìm thấy ở Nam Mỹ và phân bố từ đông - bắc Braxin đến tây - nam Achentina và từ bờ biển nam Uruguay đến tây bắc Mato Grosso.
Tức là từ phía nam sông Amazon và sườn đông dãy Andes đến bờ Đại Tây Dương. Có lẽ cây lạc đầu tiên được đưa từ Nam Mỹ (Peru) tới châu Âu vào năm 1574 theo báo cáo của Nicolas Monades. Karopovickas (1968) cho rằng lạc được đưa từ bờ biển phía tây Pêru tới Mexico và sau đó ngang qua Thái Bình Dương theo các thuyền buôn Tây Ban Nha tới Philippin va các nước khác thuộc châu Á - Thái Bình Dương. Tóm lại, từ vùng nguyên sản ở Nam Mỹ, bằng nhiều con đường - lạc đã được đưa đi khắp nơi trên thế giới và nó nhanh chóng thích ứng với các vùng nhiệt đới, á nhiệt đới và các vùng có khí hậu ẩm.
Đặc biệt, lạc đã tìm được mảnh đất phát triển thuận lợi châu Phi và vùng nhiệt đới châu Á. Lạc được trong rộng rãi ở châu Phi rồi từ đây, theo các thuyền buôn nô lệ, lạc lại được đưa trở lại châu Mỹ (cả bắc Mỹ và 3 nam Mỹ và châu Âu. Chính sự giao lưu chéo rộng rãi này đã hình thành nhiều vùng gen thứ cấp và làm phong phú thêm hệ gen của lạc. Đặc điểm thực vật học của cây lạc a.
Bộ rễ - Lạc thuộc loại rễ cọc, có một rễ chính ăn sâu, hệ rễ bên phát triển rộng, rễ chính phát triển nhanh dần từ khi cây từ 6 - 7 lá đến khi hết hoa rộ và tăng nhanh nhất vào lúc hoa nở rộ, sau đó chậm dần. 80% trọng lượng rễ được phân bố ở tầng đất mặt (0 - 30 cm). - Cũng như cây đậu tương và cây đậu xanh, trên thân lạc có rất nhiều các nốt sần sống cộng sinh với rễ. Nốt sần tăng nhanh về số lượng cũng như kích thước khi lạc có 6 - 7 lá thật cho đến khi cây nở hoa (gieo cụm thì nốt sần xuất hiện sớm hơn và nhiều hơn.
Chúng có khả năng tổng hợp đạm của khí quyển (nitơ) tạo thành đạm dễ tiêu cung cấp cho cây và đất. Thân - cành: - Thân tương đối cao và phụ thuộc vào đặc điểm di truyền: Giống có dạng đứng thì có chiều cao 40 - 80 cm, giống có dạng bò thì có chiều cao là 15 - 30 cm. - Tốc độ sinh trưởng chiều cao thân tăng dần trong thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng (thời kỳ cây con) và đạt cao nhất trong thời kỳ hoa rộ (khoảng 10 - 15 ngày), sau đó giảm dần. - Trong thời kỳ chín nếu gặp điều kiện ngoại cảnh thuận lợi thì tốc độ tăng trưởng về chiều cao vẫn tăng.
- Ở nước ta lạc được trồng chủ yếu là nhóm lạc thân đứng, có hai cấp cành là; cành cấp I và cành cấp II với tổng số cành từ 6 - 10 cành. Trong đó có từ 4 - 6 cành cấp I và 2 - 4 cành cấp II. - Quy luật phân cành: + Cành cấp I: Mọc từ nách lá thân chính. + Cành cấp II: Mọc ra từ các cành cấp I đầu tiên.
Bộ lá: 4 - Ở các đốt đầu tiên trên thân chính mang 2 lá mầm mọc đối nhau. - Những giống có lá mầm màu vàng thường rụng lá sớm hơn những giống có lá mầm màu xanh. - Lạc là loại lá kép hình lông chim, có 4 lá chét mọc đối nhau, có 2 lá kèm hình dải nhọn bao quanh thân. - Số lá trên thân chính có từ 20 - 25 lá.
- Thời kỳ ra hoa đến hình thành quả là lúc thân cây phát triển mạnh, lá nhiều (40 - 60 lá/cây) và diện tích lá là lớn nhất, sau đó lá già và rụng dần, diện tích lá giảm. Hoa: - Cấu tạo của hoa lạc gồm có: Cánh hoa, đài hoa, chỉ nhị, nhụy và bao phấn. - Đặc điểm: Hoa mọc ra từ các mắt của cành. Mỗi vị trí có thể có từ 3 - 5 hoa và là cây tự thụ phấn rất nghiêm ngặt.
Khi cây lạc đã có từ 8 - 9 lá thật thì hoa nở. - Hoa lạc nở vào khoảng 6 - 8 giờ sáng. Nhưng quá trình thụ phấn thường được tiến hành trước khi hoa nở 5 - 10h và quá trình thụ tinh diễn ra sau khi thụ phấn khoảng 10h. Quả và hạt lạc: - Quả lạc có hình trụ thuôn, thắt lại ở giữa các hạt.
Vỏ quả cứng, có gân mạng, mỗi quả có từ 1 - 3 hạt, cũng có khi 4 hạt nhưng ít (đa số 2 hạt). - Hạt lạc hình trứng, có vỏ lụa màu vàng, đỏ, cánh sen hoặc trắng. Hạt định hình sau khi tia quả đâm xuống đất khoảng 30 ngày. - Chất khô dự trữ ở hạt chủ yếu là protein và lipit, nó được tổng hợp ngay tại hạt từ nguyên liệu là gluxit.
Đặc điểm giống lạc V79 Hiện nay có rất nhiều giống lạc phổ biến trên thị trường, bao gồm cả giống địa phương và giống nhập khẩu, lai tạo thành công ở Việt Nam. Các giống LO2, BG 78, 1660, … thích hôïp vôùi caùc tænh thuoäc khu 4 cuõ vaø duyeân haûi Nam Trung Boä. Các giống Raèng, Giaáy, Nuø, Moû, Ly, V79, DH008, DT0023ø. ôû caùc tænh mieàn Ñoâng Nam Boä, ñoàng baèng soâng Cöûu Long vaø Taây Nguyeân.
5 Giống Lạc V79 được tạo ra bằng cách gây đột biến giống Bạch Sa, với tia Rơnghen. Được công nhận giống năm 1995 - Trường Đại học Nông nghiệp và Viện KHKT Nông nghiệp Việt Nam.