Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu. Chương 2: N ghiên cứu ảnh hưởng của văn hóa doanh nghiệp đến sự cam kết gắn bó của người lao động tại công ty Cổ phần Viễn thông FPT Chi nhánh Huế Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển văn hóa doanh nghiệp nhằm nâng cao sự cam kết cho người lao động tại công ty Cổ phần Viễn thông FPT Chi nhánh Huế PHẦN III: Kết luận và kiến nghị SVTH: guyễn Trần Thu Trang 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. guyễn Khắc Hoàn PHẦ II: ỘI DU G VÀ KẾT QUẢ GHIÊ CỨU CHƯƠ G 1: TỔ G QUA VỀ VẤ ĐỀ GHIÊ CỨU 1.1 Các khái niệm của văn hoá doanh nghiệp Tùy thuộc vào nền văn hóa, cách nhìn nhận của mỗi tác giả, mỗi tổ chức mà có những khái niệm khác nhau về văn hoá doanh nghiệp. Dưới đây là một số cách định nghĩa văn hoá doanh nghiệp tiêu biểu.
Một số học giả đưa ra cách nhìn nhận mang tính khái quát, tổng quan về văn hoá doanh nghiệp như sau: Theo Deal và Kennedy – hai tác giả của cuốn sách “Văn hóa tổ chức” xuất bản năm 1982: “Văn hoá doanh nghiệp đơn giản là cách thức mà doanh nghiệp triển khai hoạt động kinh doanh của mình”. Theo tác giả Cameron và Quinn (2011), “Văn hoá doanh nghiệp được hiểu như những đặc điểm, phN m chất đặc trưng của tổ chức để phân biệt với tổ chức khác trong cùng một lĩnh vực hoạt động”. Bằng cách nhấn mạnh ý nghĩa, tầm quan trọng của các yếu tố, các giá trị văn hóa vô hình trong doanh nghiệp, một số học giả phát biểu như sau: Trong cuốn sách “Changing Culture: N ew Organizational Approaches”, tác giả Williams, A. cho rằng “Văn hóa doanh nghiệp là những niềm tin, thái độ và giá trị tồn tại phổ biến và tương đối ổn định trong doanh nghiệp”.Schein - cựu giáo sư tại Trường Quản lý MIT Sloan danh tiếng nhận định rằng “Văn hóa doanh nghiệp là tổng hợp các quan niệm chung mà các thành viên trong doanh nghiệp học được trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trường xung quanh” (Edgar H.
Một số học giả khác lại đưa ra định nghĩa về văn hoá doanh nghiệp dựa trên các yếu tố hữu hình: Tổ chức Lao động quốc tế (International Labour Organization – ILO) định nghĩa: “Văn hoá doanh nghiệp là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuN n, thói quen và SVTH: guyễn Trần Thu Trang 10 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. guyễn Khắc Hoàn truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết”. Tại Việt N am cũng có nhiều các tác giả quan tâm và nghiên cứu, đưa ra các khái niệm khác nhau về văn hoá doanh nghiệp phải kể đến là: Theo PGS.TS Phạm Xuân N am: “Văn hóa doanh nghiệp là một hệ thống các ý nghĩa, giá trị niềm tin chủ đạo, nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên của một tổ chức cùng đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của từng thành viên” (Phạm Xuân N am, 1996).TS Dương Thị Liễu: “Văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ giá trị tinh thần mang đặc trưng riêng biệt của doanh nghiệp có tác động tới tình cảm, lý trí và hành vi của tất cả thành viên doanh nghiệp” (Dương Thị Liễu, 2012) Tóm lại, theo quan điểm của tác giả trong nghiên cứu này: Văn hoá doanh nghiệp là toàn bộ các giá trị văn hoá được xây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, bao gồm: giá trị, quan niệm, niềm tin, tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp ấy, hình thành thói quen hành vi, tình cảm, nếp suy nghĩ của mọi thành viên trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích của doanh nghiệp.2 Vai trò của văn hoá doanh nghiệp - Tạo ra sự khác biệt cho doanh nghiệp: giá trị của văn hoá doanh nghiệp không thể sao chép một cách hoàn hảo, không tổ chức nào có thể bắt chước được sự trung thành, tận tâm, gắn bó và cống hiến của thành viên trong doanh nghiệp. - Thu hút và giữ chân nhân tài: Văn hoá doanh nghiệp cũng ngày càng quan trọng hơn trong cuộc chiến thu hút và giữ chân nhân tài của các công ty trên thế giới, đặc biệt là khi các doanh nghiệp đang đối mặt với tình trạng “chảy máu chất xám” đang phổ biến hiện nay.
Điển hình là hãng hàng không Southwest Airlines đã tạo ra một môi trường văn hoá doanh nghiệp hấp dẫn người lao động, nhờ đó họ thu hút được nhiều nhân tài hơn mức cần thiết - Tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp: Hiện nay, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp không còn chỉ là sản phN m, doanh thu, thương hiệu… mà trước tiên và cốt lõi nhất chính là văn hóa doanh nghiệp. văn hoá doanh nghiệp giúp tổng hợp các yếu tố sức mạnh tạo nên lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. SVTH: guyễn Trần Thu Trang 11 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. guyễn Khắc Hoàn - Thúc đN y cá nhân gắn bó với tổ chức: Định hướng phát triển rõ ràng mà văn hoá doanh nghiệp mang lại giúp cho người lao động hiểu rõ hơn con đường mà doanh nghiệp sẽ đi theo, nếu nhận thấy sự phù hợp ngay từ đầu họ sẽ gắn bó lâu dài.
Một tổ chức xây dựng được văn hoá doanh nghiệp mạnh đồng nghĩa với việc tạo ra một môi trường làm việc thoải mái, tích cực, tôn trọng lẫn nhau và tạo điều kiện cho họ sáng tạo, phát huy các thế mạnh cá nhân. - Kết nối thành viên thành một thể thống nhất: Văn hoá doanh nghiệp hướng các thành viên trong tổ chức cùng thống nhất quan điểm, nhận thức và hành động. Văn hoá doanh nghiệp sẽ dung hòa mọi xung đột xảy ra, duy trì và giúp doanh nghiệp phát triển bền vững.3 Các yếu tố cấu thành văn hoá doanh nghiệp Theo Schein, văn hóa doanh nghiệp thể hiện qua ba cấp độ khác nhau di chuyển từ cái nhìn thấy được tới cái hàm ý và vô hình: Cấu trúc hữu hình; N hững giá trị được tuyên bố; N hững quan niệm chung. (1) Cấu trúc hữu hình doanh nghiệp: Cấu trúc hữu hình bao gồm những yếu tố được thể hiện ra bên ngoài, dễ nhìn thấy và cảm nhận khi bước vào một tổ chức mới.
Đặc điểm quan trọng của cấp độ hiện vật này là dễ nhận thấy ngay từ lần tiếp xúc đầu tiên với doanh nghiệp, từ đó rất dễ quan sát nhưng khó diễn đạt ý nghĩa của nó ngoại trừ việc mô tả và cảm nhận. N ếu họ muốn hiểu rõ hơn ý nghĩa của các hiện vật, họ cần phải phân tích các giá trị, định mức và quy tắc của tổ chức, từ đó nhận thấy sự ảnh hưởng đến hành vi của các thành viên. Cấp độ này có đặc điểm chung là chịu ảnh hưởng nhiều từ tính chất công việc của doanh nghiệp, quan điểm của người lãnh đạo. Tuy nhiên, trong 3 cấp độ văn hóa thì cấp độ này dễ thay đổi và ít khi thể hiện được những giá trị thực sự trong văn hoá doanh nghiệp.
(2) N hững giá trị được tuyên bố: Cấp độ này bao gồm các giá trị, niềm tin, chiến lược, mục tiêu và quy tắc của tổ chức. Một khi các giá trị này được chia sẻ rộng rãi, sẽ trở thành ý thức hay triết lý của tổ chức. Các yếu tố này được xem là kim chỉ nam, hoạch định, mang tính định hướng cho hoạt động của người lao động tại doanh nghiệp, giúp họ có cách xử lý các vấn đề tốt hơn. N ó thường được công bố rộng rãi ra công SVTH: guyễn Trần Thu Trang 12 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.
guyễn Khắc Hoàn chúng, trở thành các giá trị được tuyên bố, góp phần vào việc xây dựng nền văn hoá của doanh nghiệp. Cấp độ văn hóa này cũng có tính hữu hình vì chúng ta có thể nhận biết ngay từ văn bản, quy định, cách diễn đạt và cách thể hiện của người lao động. (3) N hững quan niệm chung: Khi các giá trị tuyên bố được thừa nhận và phổ biến rộng rãi, ăn sâu vào tâm trí của hầu hết các thành viên trong nền văn hoá doanh nghiệp thì chúng mặc nhiên được công nhận và không thể thay đổi, trở thành những quan niệm chung. Bao gồm những niềm tin, nhận thức, suy nghĩ và tình cảm có tính vô thức mặc nhiên được công nhận trong doanh nghiệp.
Các quan niệm chung cơ bản là các phần tử vô hình, không thể xác định được trong các tương tác hàng ngày giữa các thành viên của tổ chức. Vì thế cấp độ này khó nhận ra, cần thời gian tiếp xúc mới có thể nắm được.2 Sự cam kết gắn bó của người lao động với tổ chức 1.1 Khái niệm về sự cam kết gắn bó của người lao động với tổ chức Allen và Meyer (1990) định nghĩa cam kết gắn bó là trạng thái tâm lý thể hiện sự gắn bó, mong muốn góp phần công sức vào mục tiêu của tổ chức. Được chia thành ba thành phần chính: (1) Cam kết tình cảm: là mối quan hệ xuất phát từ tình cảm thực sự, thống nhất mục tiêu, tương thích mong muốn của người lao động với giá trị của tổ chức. (2) Cam kết lợi ích: đề cập đến những lợi ích và đặc quyền mà người lao động bị mất khi rời khỏi một tổ chức, nên khả năng họ rời bỏ tổ chức sẽ ít hơn.
(3) Cam kết chuN n mực: ý thức của người lao động về trách nhiệm và nghĩa vụ ở lại trong một tổ chức. Macey (2009) đưa ra hai yếu tố về cam kết gắn bó của người lao động với tổ chức bao gồm “Cảm thấy gắn kết” và “N hìn thấy gắn kết”. Các chế độ đãi ngộ, điều kiện làm việc, môi trường làm việc mà tổ chức mang lại sẽ tạo ra nhiều cảm giác khiến cá nhân có thêm động lực làm việc, cảm thấy bản thân cần cố gắng vì sự phát triển chung của tổ chức, tự nguyện gắn bó với tổ chức, tạo nên sự “Cảm thấy gắn kết”. Yếu tố thứ hai “N hìn thấy gắn kết” thể hiện ở sự chủ động, sáng tạo, thích ứng với tổ chức.
Cá nhân cố gắng phấn đấu, nỗ lực, tự nguyện sẵn sàng đảm nhận thêm những công việc phát sinh vì họ tự hiểu rằng, càng thể hiện năng lực bản thân thì càng được tổ chức ghi nhận, lợi ích cá nhân cũng được gắn liền theo đó. SVTH: guyễn Trần Thu Trang 13 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. guyễn Khắc Hoàn Trong luận văn này, khái niệm cam kết gắn bó của cá nhân với tổ chức dựa theo quan điểm của Macey (2009).