CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÂN SỰ 1. Khái niệm, mục tiêu, vai trò của quản lý nhân sự 1. Khái niệm quản lý nhân sự Nhân sự: Bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo doanh nghiệp) tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp. Nguồn nhân lực: đây là nguồn lực của mỗi con người, gồm có thể lực và trí lực.
Thể lực phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của con người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc, nghỉ ngơi v. Trí lực là nguồn tiềm tàng to lớn của con người, đó là tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách v. Các hoạt động sử dụng và phát triển sức tiềm tàng của nguồn nhân lực: hoạch định, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng v. Mục tiêu của quản lý nhân sự Mục đích là nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức và duy trì phát triển sức tiềm tàng của con người.
Tổ chức có thể là một hãng sản xuất, một công ty bảo hiểm, một cơ quan của nhà nước, một bệnh viện, một viện đại học, liên đoàn lao động, nhà thờ, hãng hàng không hay quân đội… Tổ chức đó có thể lớn hay nhỏ, đơn giản hay phức tạp. Ngày nay tổ chức có thể là một tổ chức chính trị hay một tổ chức vận động tranh cử. Từ nội dung đó, quản lý nhân sự có 4 nhiệm vụ khó khăn lớn đó là: nhận diện, tận dụng, phát triển và tuyển dụng tiềm năng. Nhưng trong nội dung luận văn, tác giả chỉ đi sâu vào hai nhiệm vụ sau của quản lý nhân sự đó là phát triển tiềm năng và tuyển dụng tiềm năng.
Do vậy, các nội dung nghiên cứu phân tích thực trạng công tác quản lý nhân sự tại Công ty TNHH một thành viên khai thác công trình thủy lợi Vĩnh Bảo từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhân sự của công ty trong chương II và III sẽ tập trung vào hai nhiệm vụ này. Vai trò của quản lý nhân sự Tầm quan trọng của Quản lý nhân sự xuất phát từ vai trò quan trọng của con người, quản lý các nguồn lực khác cũng sẽ không có hiệu quả nếu doanh nghiệp không quản lý tốt nhân sự, vì suy đến cùng mọi hoạt động quản trị đều được thực hiện bởi con người. Quản lý nhân sự đóng vai trò chiến lược trong chiến lược phát triển chung của tổ chức, của doanh nghiệp. Mọi hoạt động của doanh nghiệp đều do con người cụ thể hoàn thành.
Chính con người chứ không phải doanh nghiệp đề ra các chính sách, ý tưởng Do đó, yêu cầu cơ bản nhất của Quản lý nhân sự là phải làm sao cho hoạt động của doanh nghiệp phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp, liên hệ chặt chẽ và thống nhất với chiến lược của doanh nghiệp. Để thỏa mãn được mục tiêu nói trên, quản lý nhân sự cần thể hiện cụ thể vai trò của mình trong các mặt sau sau đây: Thứ nhất, Quản lý nhân sự nhằm mục đích sử dụng tiết kiệm nhân lực của tổ chức thông qua việc thực hiện một cách có hiệu quả và khoa học tất cả các khâu: tuyển dụng, đào tạo phát triển, sắp xếp sử dụng hợp lý sức lao động của mỗi tổ chức; xác định chính xác nhu cầu lao động, nguồn lao động để từ đó có giải pháp tối ưu đáp ứng kịp thời. Thứ hai, Quản lý nhân sự tạo điều kiện cho phát triển kỹ thuật, nâng cao hiệu suất lao động, xây dựng những tố chất lao động mới thích nghi với sự biến đổi không ngừng của môi trường, đảm bảo cho tổ chức phát triển liên tục và bền vững. Thứ ba, Quản lý nhân sự thúc đẩy cá nhân phát triển và sử dụng tối đa các kỹ năng của mình, phát triển tiềm năng sáng tạo của từng người, nối kết những cố gắng chung tạo nên sức mạnh của tập thể, quyết định hiệu quả và hoàn thành các mục tiêu chung của tổ chức.
Thứ tư, Quản lý nhân sự giúp cho các nhà quản trị đúc kết các bài học kinh nghiệm, tìm ra ngôn ngữ chung và biết nhạy cảm với nhu cầu của nhân viên, biết cách đánh giá nhân viên chính xác, biết cách lôi kéo nhân viên say 7 mê với công việc, biết cách phối hợp thực hiện mục tiêu của tổ chức với mục tiêu của cá nhân. Nội dung công tác quản lý nhân sự 1. Hoạch định tài nguyên nhân sự Hoạch định tài nguyên nhân sự là quá trình xem xét một cách có hệ thống các nhu cầu về nguồn nhân lực để vạch ra kế hoạch làm thế nào để đảm bảo mục tiêu "đúng người, đúng việc, đúng nơi, đúng lúc". Quá trình hoạch định nguồn nhân lực cần được thực hiện trong mối quan hệ mật thiết với quá trình hoạch định và thực hiện các chiến lược và chính sách kinh doanh của tổ chức.
Theo Nguyễn Vân Điềm (2013), Giáo trình quản trị nhân lực, nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội. Quá trình hoạch định thường được thực hiện theo 7 bước sau: (i) Phân tích môi trường kinh doanh, xác định mục tiêu và chiến lược phát triển, kinh doanh cho doanh nghiệp. (ii) Phân tích hiện trạng quản trị nguồn nhân lực trong doanh nghiệp, đề ra các chiến lược nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. (iii) Xác định hoặc dự báo khối lượng công việc và tiến hành phân tích.
(iv) Dự báo hoặc xác định nhu cầu nguồn nhân lực. (v) Phân tích quan hệ cung cầu nguồn nhân lực, khả năng điều chỉnh và đề ra các chính sách, kế hoạch, chương trình thực hiện giúp cho doanh nghiệp thích ứng với các nhu cầu mới và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực. (vi) Thực hiện các chính sách, kế hoạch, chương trình quản lý nguồn nhân lực của doanh nghiệp. (vii) Kiểm tra và đánh giá: thường xuyên kiểm tra, kiểm soát các kế hoạch và chương trình có phù hợp với mục tiêu đã đề ra hay không và đánh giá các kế hoạch để rút kinh nghiệm.
Công tác tuyển dụng Tuyển dụng nhân sự là quá trình tìm kiếm, sàng lọc và lựa chọn những 8 cá nhân có đủ năng lực đáp ứng được nhu cầu của một công việc trong một tổ chức, đồng thời giúp bổ sung lực lượng lao động cần thiết nhằm hoàn thành mục tiêu của tổ chức. Nói cách khác, tuyển dụng là quá trình cung cấp một yếu tố đầu vào và đặc biệt cho tổ chức, doanh nghiệp, chính là yếu tố con người. Công tác tuyển dụng có những vai trò quan trọng và rất cần thiết để tổ chức thực hiện được mục tiêu đã đề ra. Yêu cầu của việc tuyển dụng nhân viên: Tuyển dụng những người có sức khỏe, chuyên môn cần thiết, có thể làm việc với năng suất lao động cao, hiệu suất công tác tốt; Tuyển được những người có kỷ luật, trung thực, gắn bó với công việc, với doanh nghiệp.
Nguồn tuyển chọn nhân viên: bao gồm hai nguồn là nguồn nội bộ và nguồn bên ngoài; Nguồn nội bộ: việc tuyển dụng nhân viên từ trong nội bộ doanh nghiệp tuy có nhiều lợi thế về nguồn nhân lực hiện có nhưng cũng rất phức tạp. Các nguồn tuyển dụng chính bao gồm: Bạn bè của nhân viên; Nhân viên cũ; Ứng viên tự nộp đơn tìm việc; Nhân viên của doanh nghiệp khác: đối tượng này có thể rút ngắn thời gian đào tạo, huấn luyện, có thể nắm bắt công việc và làm việc hiệu quả hơn tuyển dụng một nhân viên hoàn toàn mới; Sinh viên tại các trường đại học, cao đẳng; Công nhân lành nghề tự do. Tóm lại, việc tuyển dụng nhân viên có tính chất quyết định sự thành công hay thất bại tới công tác quản trị nguồn nhân sự của doanh nghiệp. Nó giúp doanh nghiệp có được lực lượng lao động đáp ứng được yêu cầu của mình và có được một cơ cấu lao động hợp lý với doanh nghiệp, đồng thời mang lại lợi ích cho cả doanh nghiệp, người lao động và xã hội.
Công tác tuyển dụng nhân sự luôn có một vai trò quan trọng không chỉ đối với doanh nghiệp, đối với người lao động mà còn cả với xã hội. Các nhà quản trị cần coi công tác tuyển dụng như một nền tảng và nền tảng đó cần có sự vững chắc cao để những bước tiếp theo trong quá trình thực hiện mục tiêu của tổ chức được đảm bảo, bất kể quy mô tổ chức lớn hay nhỏ. Đào tạo huấn luyện và phát triển lao động Đào tạo giúp từng bước phát triển và nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ của người lao động thông qua quá trình làm việc, trên cơ sở đó đánh giá khả năng của họ một cách toàn diện trong từng giai đoạn, đáp ứng được yêu cầu công việc và đạt được năng suất lao động cao nhất có thể, tạo ra thế cạnh tranh mạnh mẽ và tự tin của doanh nghiệp (Hà Minh Trung, 2012). Mỗi tổ chức, mỗi doanh nghiệp sau khi tuyển dụng đều có chương trình hay chính sách đào tạo nhân viên của mình, để giúp họ có thể phát huy tối đa năng lực bản thân góp phần vào việc nâng cao năng suất lao động của doanh nghiệp.
Những nhân viên chưa có tay nghề, trình độ cao, chưa trải qua việc học tập và được giảng dạy sẽ được cung cấp những khóa học, những chương trình đào tạo của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, những nhân viên đã có trình độ nhất định, sẽ được đào tạo chuyên môn hơn nữa để nâng cao năng lực bản thân lên mức độ cao nhất. Người lao động khi mới vào tổ chức thì đều cần có thời gian để làm quen với dây chuyền sản xuất, kỹ thuật công nghệ của tổ chức. Đối với những người có tay nghề cao, lâu năm, việc định hướng cho họ không tốn quá nhiều thời gian và kinh phí, cũng như chi phí đào tạo.
Người lao động mới đáp ứng được ngay các yêu cầu công việc mà không phải tiến hành đào tạo thêm là minh chứng cho việc tổ chức đã thực hiện công tác tuyển dụng cực kỳ thành công và có hiệu quả. Công tác bố trí, sắp xếp lao động Việc bố trí nhân sự là quá trình tổ chức phân công công việc vào các vị trí trong công ty.