Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của thủy triều và nước dâng tới sóng trong bão bằng mô hình số trị tích hợp tại ven biển quảng ninh hải phòng

Nghiên cứu ảnh hưởng của thủy triều và nước dâng tới sóng trong bão tại ven biển Quảng Ninh, Hải Phòng bằng mô hình số trị tích hợp.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Hải dương học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ khoa học

2018

63
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Thủy Triều Đến Sóng Bão

Nghiên cứu sự ảnh hưởng của thủy triều và nước dâng đến sóng bão là cực kỳ quan trọng, đặc biệt tại các khu vực ven biển như Quảng Ninh - Hải Phòng. Các mô hình dự báo sóng thường bỏ qua yếu tố này, dẫn đến sai lệch trong dự đoán. Khu vực này có biên độ thủy triều lớn, sự thay đổi độ sâu do thủy triều và nước dâng bão sẽ ảnh hưởng đáng kể đến trường sóng. Nghiên cứu này sử dụng mô hình số trị tích hợp để đánh giá tác động này, so sánh kết quả giữa các kịch bản có và không tính đến ảnh hưởng của thủy triều và nước dâng. Mục tiêu là nâng cao độ chính xác của dự báo sóng bão, hỗ trợ công tác phòng chống thiên tai và quản lý tài nguyên ven biển. Theo [4], sóng trong gió mùa và bão là yếu tố hải văn cực kỳ nguy hiểm trên biển.

1.1. Tầm Quan Trọng Nghiên Cứu Sóng Bão Ven Biển

Việc nghiên cứu sóng bão ven biển Quảng Ninh-Hải Phòng mang tính cấp thiết do khu vực này chịu ảnh hưởng lớn từ các cơn bão. Sóng bão gây xói lở bờ biển, ảnh hưởng đến các công trình ven biển và hoạt động kinh tế. Số liệu quan trắc sóng, đặc biệt trong điều kiện bão, còn hạn chế, cần có những nghiên cứu chuyên sâu bằng mô hình số trị để bổ sung. Các nghiên cứu này đóng góp vào việc xây dựng bản đồ rủi ro thiên tai, giúp đưa ra các biện pháp ứng phó hiệu quả.

1.2. Tổng Quan Về Thủy Triều Nước Dâng Sóng Bão

Thủy triều là hiện tượng mực nước biển lên xuống theo chu kỳ do lực hấp dẫn của Mặt Trăng và Mặt Trời. Nước dâng bão là hiện tượng mực nước biển dâng cao đột ngột do áp thấp và gió mạnh của bão. Sóng bão là sóng lớn hình thành do gió mạnh trong bão. Ba yếu tố này tương tác phức tạp với nhau, ảnh hưởng đến độ cao sóng, hướng sóng và chu kỳ sóng. Việc hiểu rõ mối tương quan này rất quan trọng để dự báo chính xác trường sóng trong bão.

II. Thách Thức Dự Báo Sóng Bão Chính Xác Tại Quảng Ninh

Việc dự báo sóng bão chính xác tại Quảng Ninh - Hải Phòng là một thách thức lớn do nhiều yếu tố. Sự phức tạp của địa hình đáy biển, sự tương tác giữa thủy triều, nước dâng, và sóng bão, cùng với sự thiếu hụt số liệu quan trắc sóng tin cậy, gây khó khăn cho việc xây dựng và kiểm định mô hình. Các mô hình dự báo hiện tại thường bỏ qua ảnh hưởng của thủy triều và nước dâng, dẫn đến sai số đáng kể, đặc biệt trong điều kiện bão mạnh và triều cường. Yêu cầu cấp thiết là cần có một mô hình tích hợp, có khả năng mô phỏng chính xác các quá trình vật lý liên quan và được kiểm chứng bằng số liệu thực tế.

2.1. Hạn Chế Của Các Mô Hình Dự Báo Sóng Hiện Tại

Các mô hình dự báo sóng hiện tại thường dựa trên giả định mực nước biển trung bình, bỏ qua sự thay đổi độ sâu do thủy triềunước dâng. Điều này dẫn đến sai số lớn trong dự đoán độ cao sóng, đặc biệt tại các vùng ven biển có biên độ thủy triều lớn. Ngoài ra, các mô hình cũng thường đơn giản hóa các quá trình vật lý như ma sát đáy, sóng vỡ, và sự tương tác giữa sóng và dòng chảy.

2.2. Thiếu Hụt Dữ Liệu Quan Trắc Sóng Bão

Dữ liệu quan trắc sóng bão tại Quảng Ninh - Hải Phòng còn rất hạn chế. Các trạm quan trắc sóng thường bị hư hỏng hoặc ngừng hoạt động trong điều kiện bão lớn. Dữ liệu vệ tinh có độ phân giải không gian và thời gian thấp, không đủ để mô tả chi tiết trường sóng ven biển. Việc thiếu hụt dữ liệu này gây khó khăn cho việc kiểm định và hiệu chỉnh mô hình.

III. Phương Pháp Mới Mô Hình Tích Hợp Thủy Triều Sóng Bão

Nghiên cứu này sử dụng mô hình số trị tích hợp (SuWAT) để mô phỏng ảnh hưởng của thủy triều và nước dâng tới sóng trong bão tại Quảng Ninh - Hải Phòng. Mô hình này kết hợp mô hình thủy triều - nước dâng và mô hình sóng, cho phép tính toán sự tương tác giữa các yếu tố này. Mô hình được kiểm định bằng số liệu quan trắc mực nước và sóng tại khu vực nghiên cứu. Các kịch bản tính toán được thực hiện với và không có ảnh hưởng của thủy triều và nước dâng để đánh giá mức độ ảnh hưởng. Đây là cách tiếp cận tiên tiến, cho phép mô phỏng chi tiết hơn các quá trình vật lý và nâng cao độ chính xác của dự báo sóng bão.

3.1. Giới Thiệu Mô Hình SuWAT Sóng Thủy Triều Nước Dâng

Mô hình SuWAT là một hệ thống mô phỏng tích hợp, bao gồm các mô-đun tính toán thủy triều, nước dâng do bão và sóng biển. Mô hình này sử dụng phương pháp số để giải các phương trình thủy động lực học và phương trình lan truyền sóng. Điểm mạnh của SuWAT là khả năng mô phỏng sự tương tác giữa các yếu tố thủy văn, khí tượng và sóng biển, từ đó cung cấp thông tin chi tiết và chính xác về trường sóng trong bão.

3.2. Tích Hợp Mô Hình Thủy Triều Nước Dâng Mô Hình Sóng

Việc tích hợp mô hình thủy triều, nước dâng và mô hình sóng trong SuWAT được thực hiện thông qua việc trao đổi thông tin về mực nước, dòng chảy và gió. Mô hình thủy triều và nước dâng cung cấp thông tin về mực nước biển và dòng chảy cho mô hình sóng. Mô hình sóng sử dụng thông tin này để tính toán sự lan truyền và biến đổi của sóng. Quá trình này được lặp đi lặp lại trong quá trình mô phỏng để đảm bảo tính nhất quán và chính xác.

IV. Kết Quả Thủy Triều Ảnh Hưởng Sóng Bão Ven Biển Như Nào

Kết quả nghiên cứu cho thấy thủy triều và nước dâng có ảnh hưởng đáng kể đến sóng trong bão tại Quảng Ninh - Hải Phòng. Việc tính toán ảnh hưởng của thủy triều và nước dâng giúp cải thiện đáng kể độ chính xác của dự báo độ cao sóng. Ảnh hưởng này đặc biệt rõ rệt trong điều kiện bão mạnh và triều cường. Sự thay đổi độ sâu do thủy triều và nước dâng làm thay đổi quá trình lan truyền, khúc xạ và vỡ sóng, dẫn đến sự khác biệt về độ cao sóng và hướng sóng. Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng định lượng về tầm quan trọng của việc tính đến ảnh hưởng của thủy triều và nước dâng trong dự báo sóng bão.

4.1. So Sánh Trường Sóng Có Không Xét Thủy Triều

So sánh kết quả mô phỏng giữa hai kịch bản, một có xét đến ảnh hưởng của thủy triều và nước dâng, một không, cho thấy sự khác biệt rõ rệt về trường sóng. Độ cao sóng trong kịch bản có xét đến thủy triều và nước dâng thường cao hơn so với kịch bản không xét đến, đặc biệt tại các khu vực ven bờ và cửa sông. Sự khác biệt này có thể lên đến vài mét trong điều kiện bão mạnh.

4.2. Ảnh Hưởng Đến Độ Cao Sóng và Hướng Sóng

Thủy triều và nước dâng không chỉ ảnh hưởng đến độ cao sóng mà còn làm thay đổi hướng sóng. Sự thay đổi độ sâu do thủy triều và nước dâng làm khúc xạ sóng, khiến sóng đổi hướng và tập trung năng lượng vào một số khu vực nhất định. Điều này có thể làm tăng nguy cơ xói lở bờ biển và ngập lụt ven bờ.

V. Ứng Dụng Dự Báo Sóng Bão Cải Thiện Ứng Phó Bão Lụt

Kết quả nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc cải thiện dự báo sóng bãonâng cao hiệu quả ứng phó với bão lụt tại Quảng Ninh - Hải Phòng. Mô hình tích hợp có thể được sử dụng để dự báo độ cao sóng, hướng sóng và thời gian sóng lớn đến bờ, giúp chính quyền và người dân có thêm thời gian chuẩn bị và sơ tán. Thông tin dự báo sóng bão chính xác cũng rất quan trọng cho các hoạt động khai thác cảng biển, nuôi trồng thủy sản và du lịch ven biển.

5.1. Cải Thiện Dự Báo Độ Cao Sóng Ven Biển

Mô hình tích hợp cung cấp thông tin dự báo độ cao sóng chính xác hơn so với các mô hình truyền thống. Điều này giúp chính quyền địa phương đưa ra các quyết định chính xác hơn về việc sơ tán dân, đóng cửa cảng biển và các biện pháp phòng chống thiên tai khác.

5.2. Hỗ Trợ Quy Hoạch và Quản Lý Ven Biển Bền Vững

Thông tin về trường sóng bão, đặc biệt là ảnh hưởng của thủy triều và nước dâng, rất quan trọng cho việc quy hoạch và quản lý ven biển bền vững. Các nhà quản lý có thể sử dụng thông tin này để xác định các khu vực dễ bị xói lở, ngập lụt, và xây dựng các công trình bảo vệ bờ biển phù hợp.

VI. Kết Luận Tối Ưu Mô Hình Dự Báo Sóng Bão Ven Biển

Nghiên cứu đã chứng minh ảnh hưởng quan trọng của thủy triều và nước dâng đến sóng trong bão tại Quảng Ninh - Hải Phòng. Việc sử dụng mô hình tích hợp là một bước tiến quan trọng trong việc nâng cao độ chính xác của dự báo sóng bão. Hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc cải thiện độ phân giải của mô hình, thu thập thêm số liệu quan trắc sóng bão, và đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến trường sóng. [4] Sóng và dòng chảy sóng còn là nhân tố tác động đến các quá trình lan truyền ô nhiễm vùng ven bờ.

6.1. Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo và Phát Triển Mô Hình

Các hướng nghiên cứu tiếp theo bao gồm việc cải thiện độ phân giải của mô hình, tích hợp các quá trình vật lý quan trọng như tương tác sóng - dòng chảy, sóng vỡ, và đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến trường sóng. Cần có các nghiên cứu chuyên sâu về tác động của sóng bão đến các hệ sinh thái ven biển.

6.2. Đề Xuất Giải Pháp Ứng Phó Biến Đổi Khí Hậu Ven Biển

Biến đổi khí hậu làm tăng tần suất và cường độ của các cơn bão, cũng như làm gia tăng mực nước biển. Điều này làm tăng nguy cơ xói lở bờ biển, ngập lụt ven bờ và ảnh hưởng đến các hệ sinh thái ven biển. Cần có các giải pháp ứng phó biến đổi khí hậu tổng thể, bao gồm xây dựng các công trình bảo vệ bờ biển, quản lý sử dụng đất hợp lý và nâng cao nhận thức cộng đồng về rủi ro thiên tai.

23/05/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của thủy triều và nước dâng tới sóng trong bão bằng mô hình số trị tích hợp tại ven biển quảng ninh hải phòng

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Các lĩnh vực biển trong vòng vài thập kỷ trở lại đây đã và đang trở thành một trong những vấn đề đƣợc quan tâm và phát triển. Về kinh tế, biển đang trở thành mũi nhọn trong chiến lƣợc phát triển của các quốc gia có ƣu thế về biển. Đối với Việt Nam là một quốc gia ven biển, có đƣờng bờ biển trải dài từ Bắc vào Nam, có nhiều tiềm năng và điều kiện thuận lợi trong việc phát triển đa dạng các ngành kinh tế biển thì việc tận dụng lợi thế đó nhằm đƣa Việt Nam từng bƣớc “ trở thành một quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển” ngày càng trở nên quan trọng. Để có những thông tin và hiểu biết nhất định giúp cho việc quản lý, khai thác và bảo vệ biển cần có những số liệu quan trắc thực tế, các nghiên cứu chuyên sâu bằng mô hình số trị.

Trong các yếu tố hải văn, sóng biển là yếu tố đƣợc quan tâm bậc nhất đối các hoạt động và lƣu thông trên biển. Chính vì vậy mà các bản tin cảnh báo, dự báo sóng luôn đƣợc quan tâm không chỉ trong những thời điểm có thời tiết nguy hiểm trên biển (bão, áp thấp nhiệt đới, gió mùa mạnh.) mà hàng ngày để lập kế hoạch cho các hoạt động trên biển. Từ trƣớc tới nay, các mô hình dự báo sóng thƣờng không xem xét tới ảnh hƣởng của thủy triều và nƣớc dâng do bão, tức là tính sóng trên nền mực nƣớc biển trung bình. Khu vực ven biển Quảng Ninh-Hải Phòng là nơi có biên độ thủy triều lớn, do vậy độ sâu ven biển sẽ có nhiều khác biệt tại những pha thủy triều cao và thấp, nhất là khi bão đổ bộ gây nƣớc dâng lớn vào kỳ triều cƣờng.

Sự thay đổi trƣờng độ sâu và dòng chảy khi bão đổ bộ có thể làm khác biệt trƣờng sóng trong bão. Chính vì vậy, luận văn này tập trung nghiên cứu ảnh hƣởng của thủy triều kết hợp với nƣớc dâng do bão tới sóng trong bão. Để nghiên cứu, đánh giá ảnh hƣởng của thủy triều và nƣớc dâng tới sóng biển, mô hình số trị hải dƣơng tích hợp sóng, thủy triều và nƣớc dâng do bão đƣợc áp dụng để tính toán trƣờng sóng trong bão theo 2 phƣơng án là có và không xét tới ảnh hƣởng của thủy triều và nƣớc dâng. Khu vực áp dụng nghiên cứu là ven biển Quảng Ninh-Hải Phòng.

Nội dung của luận văn bao gồm 03 chƣơng chính, phần kết luận và phần các bảng phụ lục: Chƣơng I: Giới thiệu chung. Chƣơng II: Số liệu và phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng III: Kết quả nghiên cứu. Kết luận và kiến nghị 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.phong CHƢƠNG I.

GIỚI THIỆU CHUNG 1. Tổng quan về sóng Trƣờng sóng trên biển là một trong các yếu tố động lực biển quan trọng tác động lên tàu thuyền, các công trình và mọi hoạt động trên biển. Trƣờng sóng vùng ven bờ cũng là nguyên nhân chính gây xói lở bờ biển, biến đổi đáy biển vùng ven bờ tác động đến các công trình bảo vệ bờ, công trình cảng và luồng ra vào cảng. Sóng và dòng chảy sóng còn là nhân tố tác động đến các quá trình lan truyền ô nhiễm vùng ven bờ.

Nƣớc ta nằm trong vùng tác động của bão và các loại gió mùa. Sóng trong gió mùa và bão là yếu tố hải văn cực kỳ nguy hiểm trên biển [4]. Tình hình nghiên cứu sóng vùng biển khơi: Thời kỳ trƣớc những năm 70 các phƣơng pháp tính sóng đều dựa vào các toán đồ xây dựng trên cơ sở các tƣơng quan thực nghiệm giữa các tham số sóng, yếu tố tạo sóng và các tính toán, dự báo sóng nghiệp vụ hàng ngày đã đạt đƣợc trình độ mô phỏng đƣợc từng thành phần phổ sóng và tính toán cho vùng biển với bƣớc lƣới đủ chi tiết để phục vụ cho các mục tiêu khác nhau. Vào những năm 1970-1980 các mô hình tính sóng theo phƣơng trình CBNL sóng dạng phổ chủ yếu thuộc thế hệ I là loại phƣơng trình dựa trên giả định các thành phần phổ sóng hoàn toàn độc lập với nhau trong khi lan truyền.

Các mô hình tính sóng theo giả định này gọi là các mô hình phổ sóng truyền độc lập DP (Decouple Propagation). Ví dụ mô hình MRI của Cục Khí tƣợng Nhật JMA. Từ những năm 1980 xuất hiện mô hình tính sóng thế hệ II, có tính toán đến sự tƣơng tác giữa các sóng trong khi lan truyền. Hiện nay trên thế giới sử dụng loại mô hình tính sóng thế hệ III cho phép tính đƣợc năng lƣợng phổ bằng cách tích phân trực tiếp phƣơng trình CBNL sóng không phụ thuộc vào điều kiện các dạng cho trƣớc của phổ cả ở vùng nƣớc sâu và ven bờ (mô hình WAM, SWAN).

Hiện nay tại Mỹ có các số liệu sóng ở dạng các tham số sóng gồm độ cao, chu kỳ, hƣớng sóng, cho hệ sóng gió và sóng lừng ứng với từng Obs và theo thời gian yêu cầu (10-20 năm) đƣợc cung cấp cho tất cả các điểm vùng nƣớc sâu dọc bờ biển theo hai nguồn số liệu: + Số liệu khôi phục của hệ thống tƣ liệu ven bờ (CEDRS), + Số liệu khôi phục của hệ thống phân tích trạng thái mặt biển (SEAS) [4]. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tình hình nghiên cứu trường sóng vùng ven bờ: Trƣớc những năm 70 các tính toán sóng ven bờ thƣờng đƣợc thực hiện theo phƣơng pháp thủ công dựa vào các toán đồ khúc xạ, hệ số biến dạng vv. Griswold là một trong những ngƣời đầu tiên sử dụng máy tính để lập các bản đồ tia sóng khúc xạ thông qua việc giải phƣơng trình vi phân tia sóng.

Hiện nay phần lớn các tính toán lan truyền sóng từ vùng nƣớc sâu vào khu vực ven bờ đều dựa trên việc giải số trị phƣơng trình lan truyền sóng trên vùng biển ven bờ có độ dốc thoải của Berkhof 1972 có tính đến hiệu ứng nhiễu xạ giữa bản thân các sóng tại vùng ven bờ. Mô hình lan truyền sóng vùng ven bờ RCPWAVE dựa theo phƣơng trình trên của Trung tâm Công nghệ Ven bờ thuộc Hải quân Mỹ (CERC) là một mô hình đƣợc sử dụng rộng rãi để mô phỏng trƣờng sóng ven bờ trong các tính toán phục vụ xây dựng các công trình ven biển và bảo vệ bờ biển. Mô hình SWAN thuộc thế hệ III của Viện Thủy lực Hà Lan đƣợc sử dụng để tính toán sóng vùng khơi và lan truyền các thành phần phổ sóng vào vùng ven bờ [4].Tình hình nghiên cứu sóng ở Việt Nam a) Thời kỳ trước năm 1975 Chủ yếu tiến hành quan trắc sóng bằng máy ngắm sóng Ivannov, còn việc điều tra đo đạc các yếu tố sóng vùng nƣớc sâu hầu nhƣ bị bỏ trống. Một số các công trình nghiên cứu do các tác giả nƣớc ngoài và trong nƣớc về chế độ sóng đều ở dạng các tính toán thủ công theo phƣơng pháp thống kê chế độ.

b) Thời kỳ từ năm 1975 đến nay Là thời kỳ phát triển mạnh mẽ nhất của khoa học công nghệ biển ở nƣớc ta. Nghiên cứu sóng đƣợc phát triển trong cả hai phƣơng diện: đo đạc, điều tra khảo sát cơ bản trƣờng sóng vùng nƣớc sâu ven bờ và các phƣơng pháp tính toán, dự báo. Gió lớn có liên quan tới bão và có thể sinh ra sóng lớn. Khi nƣớc dâng lên từ trong mắt bão kết hợp với gió, dòng chảy và thủy triều, nƣớc dâng bão đƣợc tạo ra.

Sự dâng mực nƣớc ở bờ biển gia tăng sự nguy hiểm - thƣờng là hàng chục met - là nguyên nhân dẫn đến phá hủy vùng ven bờ biển. Năm 1981 đã bắt đầu các thử nghiệm tính toán số trị trƣờng sóng vùng khơi biển Đông theo phƣơng pháp Abuziarov. Năm 1989 đã tiến hành xây dựng phƣơng pháp dự báo số trị trƣờng sóng vùng biển Đông bằng phƣơng pháp giải phƣơng trình CBNL sóng dạng phổ trong đó đã sử dụng phƣơng trình CBNL sóng với các thành phần phổ sóng tách biệt để tính toán và dự báo sóng 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tính sóng trong bão và gió mùa đã đƣợc đề cập đến trong nhiều chƣơng trình nghiên cứu biển nhƣ chƣơng trình 48B, chƣơng trình biển KT03, chƣơng trình khoa học công nghệ biển KHCN06.

Tính sóng vùng ven bờ cũng đƣợc chú ý phát triển cùng với các yêu cầu về thiết kế các công trình ven biển, bảo vệ bờ biển chống sạt lở, xói lở bờ, bảo vệ các công trình tuyến kênh hàng hải ra vào cảng chống sa bồi và quản lý khai thác vùng bờ biển nƣớc ta. Về các phƣơng tiện máy và thiết bị đo đạc trƣờng sóng cũng đƣợc phát triển rất mạnh trong thời gian từ năm 1975 tới nay. Trƣớc năm 1980 đã sử dựng các loại máy tự ghi sóng ven bờ - sóng ký dây và máy tự ghi sóng vùng nƣớc sâu - GM16 của Liên Xô thời đó. Từ 1980 tới nay, nhờ các dự án do nƣớc ngoài tài trợ, các nguồn kinh phí của các chƣơng trình điều tra nghiên cứu biển và kinh phí đầu tƣ chiều sâu tại một số các cơ quan nghiên cứu biển nƣớc ta đã đƣợc trang bị các loại máy tự ghi sóng của Anh, phao đo sóng của Hà Lan, Na Uy, máy tự ghi sóng của Mỹ, Nhật vv…Tuy nhiên đại đa số các số liệu đo đạc đƣợc là các số liệu khảo sát trong thời gian ngắn không hoàn toàn đặc trƣng cho đặc điểm khốc liệt về trƣờng sóng ở vùng biển nƣớc ta, đó là trƣờng sóng trong bão và gió mùa.

[4] Với dự báo sóng biển: Ở Việt Nam, nghiên cứu dự báo sóng biển bằng mô hình số trị cũng đã đƣợc đặt ra từ lâu, nhƣng tiến bộ chậm so với thế giới. Hiện tại đã có những tiến bộ vƣợt bậc hơn do tiếp thu công nghệ và nghiên cứu khai thác mô hình dự báo sóng dạng mã nguồn mở. Các mô hình số trị dự báo sóng thế hệ thứ 3 đã đƣợc một số tác giả nghiên cứu áp dụng, điển hình nhƣ: - Tại Trung tâm KTTV Biển (nay là Trung tâm Hải văn, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam): Đề tài cấp bộ “Nghiên cứu xây dựng hệ thống dự báo tác nghiệp khí tượng thuỷ văn biển (gồm dòng chảy, sóng và nước dâng do bão) vùng Biển Đông và ven biển Việt Nam” đã áp dụng WAM cho dự báo sóng ngoài khơi, SWAN cho dự báo sóng ven bờ. - Tại Viện Cơ học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt nam: Đề tài cấp nhà nƣớc KT-03-04 đã xây dựng quy trình tính toán sóng ven bờ, sử dụng các mô hình RCPWAVE, STWAVE.

Tuy nhiên trong khuôn khổ đề tài này không dự báo sóng cho khu vực Biển Đông. [1] - Tại một số cơ quan khác (Đại học Xây dựng Hà Nội, Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, .

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Thủy Triều Và Nước Dâng Tới Sóng Trong Bão Tại Ven Biển Quảng Ninh-Hải Phòng" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tác động của thủy triều và nước dâng trong bối cảnh bão tại khu vực ven biển Quảng Ninh và Hải Phòng. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các yếu tố tự nhiên mà còn đánh giá ảnh hưởng của chúng đến môi trường và đời sống con người. Một trong những điểm nổi bật của tài liệu là việc chỉ ra mối liên hệ giữa thủy triều và sự gia tăng sóng trong bão, từ đó giúp các nhà quản lý và cộng đồng địa phương có những biện pháp ứng phó hiệu quả hơn.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Nghiên cứu ảnh hưởng của thủy triều đến biến động nguồn tài nguyên nước mặt khu vực Hải Phòng. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tác động của thủy triều đối với nguồn tài nguyên nước, một yếu tố quan trọng trong việc quản lý và bảo vệ môi trường ven biển.