Tổng quan nghiên cứu

Khu vực ven bờ Quảng Ninh - Hải Phòng giữ vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế biển Bắc Bộ, sở hữu hơn 250 km đường bờ biển tại Quảng Ninh với 2.078 hòn đảo và trên 125 km bờ biển tại Hải Phòng. Vùng biển này chịu tác động trực tiếp của chế độ nhật triều điển hình có biên độ lớn nhất cả nước, dao động từ 3,0 m đến 4,5 m với mực nước trung bình nhiều năm đạt khoảng 186 cm đến 200,49 cm. Thống kê giai đoạn 1952 - 2017 ghi nhận 86 cơn bão đổ bộ và ảnh hưởng trực tiếp đến dải ven biển từ Quảng Ninh đến Hà Tĩnh, gây ra hiện tượng nước dâng bão lịch sử lên tới xấp xỉ 3,0 m và sóng lớn cực đại vượt 5,6 m tại trạm Hòn Dáu.

Phần lớn các mô hình dự báo sóng nghiệp vụ truyền thống thường tính toán sóng trên nền mực nước tĩnh trung bình, bỏ qua sự biến động thực tế của mực nước do thủy triều và nước dâng bão tạo ra. Sự biến đổi mạnh mẽ của độ sâu tức thời và dòng chảy trong bão làm thay đổi đáng kể quá trình khúc xạ, tiêu tán ma sát đáy và sóng vỡ ở vùng nước nông ven bờ. Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là xây dựng và thiết lập mô hình số trị hải dương tích hợp nhằm làm rõ mức độ tương tác giữa thủy triều, nước dâng và sóng biển. Đề tài cung cấp cơ sở khoa học định lượng có độ tin cậy cao, phục vụ công tác quy hoạch đê biển, bảo vệ hạ tầng cảng biển và giảm thiểu thiệt hại do thiên tai ngập lụt vùng ven biển Đông Bắc Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng khung lý thuyết động lực học biển hiện đại thông qua hệ thống mô hình tích hợp ba thành phần SuWAT (Surge, Wave and Tide), bao gồm:

  • Hệ phương trình nước nông phi tuyến hai chiều: Mô phỏng dao động mực nước và lưu lượng dòng chảy do triều và gió bão, kết hợp trực tiếp lực áp lực từ gradient ứng suất bức xạ sóng được xác định theo lý thuyết của Longuet-Higgins và Stewart (1962, 1964).
  • Mô hình phổ sóng thế hệ thứ ba SWAN (Simulating Waves Nearshore): Giải phương trình cân bằng tác động sóng hai chiều trong hệ tọa độ Descartes, tính toán các quá trình truyền năng lượng sóng, sóng vỡ do nước nông, tương tác phi tuyến ba sóng - bốn sóng và ma sát đáy.
  • Lý thuyết ứng suất bề mặt và hệ số kéo: Ứng dụng mô hình tương tác gió - sóng của Janssen (1991), trong đó ứng suất bề mặt được tính là tổng của ứng suất rối và ứng suất do sóng tạo ra, làm biến đổi hệ số kéo ma sát khí quyển theo trạng thái sóng thực tế.
  • Khái niệm chỉ số phân triều Vandestock: Phân loại tính chất nhật triều với giá trị tính toán đạt mức 8,1 tại Cô Tô, khẳng định đặc trưng nhật triều đều tuyệt đối ở vùng vịnh Bắc Bộ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu khai thác bộ cơ sở dữ liệu khí tượng hải văn nhiều năm (1952 - 2017), bao gồm số liệu đường đi và cường độ của 86 cơn bão từ Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp (JTWC), chuỗi số liệu quan trắc mực nước - sóng liên tục từ năm 1961 đến 2017 tại các trạm hải văn Cô Tô, Hòn Dáu và Hòn Ngư, cùng số liệu đo đạc sóng từng giờ từ trạm phao nước sâu 30 m trong dự án hợp tác Na Uy.

Mô hình bão giải tích Fujita (1952) được lựa chọn để tái tạo trường khí áp và gió bão từ các tham số tâm bão, bán kính gió cực đại và áp suất trung tâm. Mô hình SuWAT được thiết lập với cấu trúc lưới lồng hai cấp chạy song song qua giao thức MPI:

  • Lưới D1 (toàn Biển Đông): Phạm vi tọa độ 6 - 22°N và 103 - 120°E, độ phân giải không gian 4 phút (khoảng 7.400 m), kích thước 226 x 211 điểm tính.
  • Lưới D2 (chi tiết ven biển Bắc Bộ): Phạm vi tọa độ 16,5 - 22°N và 105,5 - 110°E, độ phân giải không gian 1 phút (khoảng 1.850 m).

Bước thời gian tính toán được tối ưu hóa theo điều kiện ổn định Courant: 4 giây cho mô-đun thủy triều - nước dâng bão và 900 giây cho mô-đun sóng SWAN, chu kỳ trao đổi dữ liệu hai chiều giữa hai mô-đun là 900 giây (15 phút).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Mô phỏng kiểm nghiệm trên các cơn bão thực nghiệm mang lại kết quả định lượng chuẩn xác:

  • Kiểm định nước dâng bão Frankie (tháng 7/1996): Bão đổ bộ vào ven biển Hải Phòng - Thái Bình gây nước dâng cực đại hơn 1,3 m, nâng tổng mực nước quan trắc tại Hòn Dáu lên 3,28 m. Mô hình SuWAT tái hiện sát thực tế diễn biến nước dâng với sai số đỉnh cực trị chỉ 0,2 m.
  • Kiểm định nước dâng bão Doksuri (tháng 9/2017): Đỉnh nước dâng quan trắc tại Hòn Ngư đạt 1,0 m và tại Hòn Dáu đạt 0,8 m; mực nước tổng cộng quan trắc đạt 3,74 m tại Hòn Ngư và 4,0 m tại Hòn Dáu. Sai số đỉnh nước dâng tính toán tại Hòn Dáu đạt mức rất nhỏ là 0,15 m.
  • Kiểm định trường sóng ngoài khơi bão Wukong (tháng 9/2000): Tại trạm phao độ sâu 30 m, sai số bình phương trung bình (RMSE) của độ cao sóng có nghĩa đạt 0,85 m, sai số tuyệt đối của độ cao sóng cực đại là 1,1 m.
  • Ảnh hưởng tương tác triều - nước dâng đến độ cao sóng: Tại các vùng bãi cạn và luồng hàng hải ven bờ Quảng Ninh - Hải Phòng, độ cao sóng có nghĩa trong bão khi xét tương tác triều cường và nước dâng tăng từ 15% đến 25% so với phương án tính toán trên nền mực nước tĩnh trung bình.

Thảo luận kết quả

Khi bão đổ bộ trùng với pha triều cường, tổng mực nước dâng cao làm gia tăng độ sâu tức thời tại vùng ven bờ. Sự gia tăng độ sâu làm giảm thiểu hiệu ứng ma sát đáy và làm chậm quá trình vỡ sóng sớm ở phía ngoài bãi cạn, cho phép các sóng có chu kỳ dài và mức năng lượng cao truyền sâu hơn vào sát bờ và chân công trình bảo vệ.

Ngược lại, ở pha triều kiệt, độ sâu nước nông làm sóng vỡ sớm ở ngoài xa, giảm chiều cao sóng tiến sát mép bờ. Sự biến đổi hệ số kéo ma sát khí quyển theo lý thuyết sóng của Janssen làm tăng lượng truyền động lượng từ gió vào nước, giải thích nguyên nhân mực nước dâng bão tính toán khi có kết nối sóng luôn cao hơn từ 10% đến 18% so với mô hình thủy lực đơn thuần. Các kết quả này được thể hiện rõ nét qua biểu đồ chuỗi thời gian so sánh mực nước quan trắc - tính toán và bản đồ đẳng trị phân bố trường sóng cực đại trong khu vực vịnh Bắc Bộ.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Tích hợp mô hình số trị SuWAT vào quy trình nghiệp vụ: Đề nghị Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia áp dụng chính thức mô hình tương tác sóng - triều - nước dâng vào hệ thống cảnh báo nghiệp vụ trước năm 2028, nhằm nâng cao độ chính xác dự báo ngập lụt ven bờ lên trên 90%.
  2. Tăng cường mạng lưới trạm quan trắc hải văn tự động: Bộ Tài nguyên và Môi trường cần đầu tư bổ sung 3 đến 5 trạm phao đo sóng và hải văn tự động ngoài khơi vịnh Bắc Bộ ở độ sâu trên 20 m trước năm 2027, khắc phục tình trạng thiếu hụt dữ liệu sóng liên tục phục vụ hiệu chỉnh mô hình.
  3. Điều chỉnh quy chuẩn thiết kế công trình ven biển: Đề xuất Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cùng Bộ Giao thông Vận tải cập nhật tiêu chuẩn thiết kế đê biển, cảng nước sâu khu vực Đình Vũ, Lạch Huyện, Cát Hải; bổ sung cao trình đỉnh đê dự phòng từ 0,5 m đến 1,0 m để thích ứng với tác động cộng hưởng của triều cường, nước dâng và sóng bão cực đoan.
  4. Xây dựng bản đồ phân vùng rủi ro ngập lụt và sóng lớn: Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh cần phối hợp các viện nghiên cứu lập bản đồ ngập lụt ven biển chi tiết tỷ lệ 1:10.000 cho các khu kinh tế ven biển trọng điểm trong giai đoạn 2026 - 2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan dự báo khí tượng thủy văn và cảnh báo thiên tai: Nắm bắt phương pháp luận và công nghệ mô phỏng tương tác ba thành phần (sóng, triều, nước dâng) để nâng cấp bản tin dự báo bão tác nghiệp.
  • Kỹ sư thiết kế công trình thủy công, cảng biển và đê điều: Khai thác số liệu trường sóng và mực nước cực trị trong bão giai đoạn 1952 - 2017 để tính toán tải trọng sóng và ổn định mái đê chính xác.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Hải dương học, Khí tượng, Thủy văn: Sử dụng làm tài liệu tham khảo chuyên sâu về phương pháp sai phân số trị, ghép nối mô hình SWAN và mô hình thủy động lực học qua giao thức song song MPI.
  • Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn địa phương: Tham khảo cơ sở dữ liệu ngập lụt và sóng bão để xây dựng kịch bản ứng phó khẩn cấp và phương án di dời dân cư vùng trũng thấp ven biển.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao phải kết hợp đồng thời thủy triều và nước dâng khi tính toán sóng bão?

Biên độ thủy triều tại Quảng Ninh - Hải Phòng lên tới 4,5 m. Khi kết hợp với nước dâng bão từ 1,0 m đến 3,0 m, độ sâu thực tế thay đổi đáng kể, làm thay đổi hoàn toàn năng lượng sóng truyền vào bờ so với tính toán trên nền mực nước tĩnh.

Mô hình SuWAT có ưu điểm gì nổi bật so với các mô hình đơn lẻ?

SuWAT cho phép trao đổi dữ liệu hai chiều liên tục mỗi 900 giây giữa mô-đun thủy lực và mô-đun sóng SWAN, đồng thời tích hợp ứng suất bức xạ sóng và hệ số kéo mặt biển biến đổi, giúp mô phỏng chính xác hiện tượng nước dâng do sóng.

Khu vực ven biển Quảng Ninh - Hải Phòng có đặc thù nào gây khó khăn cho mô phỏng số trị?

Khu vực này có hơn 2.000 đảo lớn nhỏ che chắn, địa hình đáy biển phức tạp với các luồng lạch sâu xen kẽ bãi bồi, kèm theo biên độ nhật triều rất lớn đòi hỏi bước lưới tính toán phải đủ mịn và sơ đồ sai phân ổn định cao.

Mức độ tin cậy của mô hình qua các trường hợp kiểm định thực tế ra sao?

Mô hình đạt độ chính xác cao khi kiểm định qua các cơn bão mạnh: sai số đỉnh nước dâng bão Frankie là 0,2 m, bão Doksuri là 0,15 m; sai số bình phương trung bình của sóng ngoài khơi trong bão Wukong đạt 0,85 m.

Kết quả nghiên cứu có thể mở rộng ứng dụng cho các khu vực biển khác không?

Quy trình thiết lập lưới lồng và liên kết mô hình SuWAT hoàn toàn có thể hiệu chỉnh và áp dụng hiệu quả cho toàn bộ dải ven biển miền Trung và Nam Bộ, nơi thường xuyên chịu tác động của bão và áp thấp nhiệt đới.

Kết luận

  • Luận văn đã làm sáng tỏ cơ chế tương tác thủy động lực học giữa thủy triều, nước dâng bão và trường sóng tại dải ven biển trọng điểm Quảng Ninh - Hải Phòng.
  • Thiết lập thành công hệ thống mô hình số trị tích hợp SuWAT với cấu trúc lưới lồng hai cấp độ phân giải 4 phút và 1 phút, đảm bảo độ ổn định và thời gian chạy tối ưu qua MPI.
  • Chứng minh định lượng rằng tương tác triều cường và nước dâng bão làm gia tăng chiều cao sóng có nghĩa ven bờ từ 15% đến 25% so với phương pháp tính toán truyền thống.
  • Đóng góp bộ dữ liệu phân tích chi tiết về chế độ khí hậu sóng, gió và 86 cơn bão trong 65 năm (1952 - 2017) tại khu vực vịnh Bắc Bộ phục vụ quy hoạch kỹ thuật.
  • Cung cấp cơ sở khoa học tin cậy để các cơ quan quản lý và viện nghiên cứu tiếp tục triển khai các kịch bản dự báo thời gian thực và xây dựng công trình thích ứng với biến đổi khí hậu trong giai đoạn tới.