Tổng quan luận án
Cà phê chè (Coffea arabica) là cây trồng có giá trị kinh tế cao, chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu cây trồng nông nghiệp tại tỉnh Lâm Đồng. Theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Lâm Đồng (2017), diện tích gieo trồng cà phê toàn tỉnh đạt 173.872 ha, trong đó diện tích cho thu hoạch là 162.726 ha, sản lượng cà phê nhân đạt 474.120 tấn/năm, đóng góp khoảng 60% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp địa phương. Thực hiện Quyết định số 2261/QĐ-UBND ngày 21 tháng 10 năm 2015 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Lâm Đồng về việc quy hoạch phát triển cà phê giai đoạn 2016–2020, địa phương chủ trương ổn định diện tích canh tác khoảng 150.000 ha (trong đó cà phê chè chiếm 15–20%), định hướng nâng cao năng suất đạt 3,1–3,2 tấn nhân/ha/năm và sản lượng 460.000 tấn nhân thông qua hoàn thiện các biện pháp kỹ thuật thâm canh.
Đất nâu đỏ phát triển trên đá bazan tại Lâm Đồng có diện tích 229.216 ha (chiếm 23,5% diện tích tự nhiên). Do điều kiện địa hình dốc, lượng mưa lớn tập trung theo mùa kết hợp với độc canh thâm canh kéo dài, đất bị xói mòn, rửa trôi mạnh và suy thoái độ phì, đặc biệt là hàm lượng kali và lưu huỳnh dễ tiêu ở mức thấp. Các nghiên cứu dinh dưỡng cà phê tại Việt Nam trước đây chủ yếu tập trung vào cây cà phê vối (Coffea canephora) và hai nguyên tố đạm, lân; dữ liệu khoa học về việc sử dụng kết hợp phân kali và lưu huỳnh cho cây cà phê chè giai đoạn kinh doanh trên đất bazan còn thiếu hụt. Luận án "Nghiên cứu sử dụng phân kali và lưu huỳnh cho cây cà phê chè (Coffea arabica) giai đoạn kinh doanh trên đất nâu đỏ bazan tại tỉnh Lâm Đồng" được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống này.
Mục tiêu chung của đề tài: Đề xuất được biện pháp sử dụng phân kali và lưu huỳnh hợp lý nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế trong canh tác cà phê chè giai đoạn kinh doanh trên đất nâu đỏ bazan tại tỉnh Lâm Đồng.
Các mục tiêu cụ thể được xác định như sau:
- Đề xuất được liều lượng phân kali và lưu huỳnh hợp lý cho cây cà phê chè nhằm đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao, cải thiện được độ phì nhiêu trên đất nâu đỏ bazan tại tỉnh Lâm Đồng.
- Đề xuất được dạng phân kali và lưu huỳnh hợp lý cho cây cà phê chè nhằm đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao, cải thiện được độ phì nhiêu trên đất nâu đỏ bazan tại tỉnh Lâm Đồng.
- Đề xuất được thời điểm bón và tỷ lệ bón phân kali và lưu huỳnh hợp lý cho cây cà phê chè nhằm đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao, cải thiện được độ phì nhiêu trên đất nâu đỏ bazan tại tỉnh Lâm Đồng.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Cây cà phê chè (Coffea arabica L. var Catimor) giai đoạn kinh doanh; các dạng phân bón chứa kali (KCl, $\text{K}_2\text{SO}_4$) và lưu huỳnh (SA, $\text{K}_2\text{SO}_4$); đất nâu đỏ phát triển trên đá bazan (Rhodic ferralsols).
- Không gian nghiên cứu: Thí nghiệm đồng ruộng được triển khai tại xã Trạm Hành, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
- Thời gian nghiên cứu: Các theo dõi, thu thập số liệu được thực hiện liên tục trong các năm 2018, 2019 và 2020.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các nghiên cứu trong nước và quốc tế về vai trò sinh lý và quản lý dinh dưỡng kali, lưu huỳnh trên cây cà phê:
Về dinh dưỡng kali:
- Trên thế giới: Forestier (1969) xác định triệu chứng thiếu kali xuất hiện ở cặp lá thứ 3–4 từ ngọn và khuyến cáo mức bón 150–300 kg $\text{K}_2\text{O}$/ha/năm để duy trì năng suất 3–4 tấn nhân/ha. De Geus (1973) tính toán lượng $\text{K}_2\text{O}$ lấy đi từ đất hàng năm là 145 kg/ha. Iyenngar và Awatranami (1975) đề xuất mức 450 kg $\text{K}_2\text{O}$/ha/năm cho cà phê chè năng suất cao. Willson (1987) chỉ ra hiện tượng đối kháng ion giữa $\text{K}^+$ và $\text{Mg}^{2+}$, khi thừa kali làm giảm hấp thu magiê khiến hạt cà phê có màu vàng nhạt và giảm chất lượng thử nếm. Barel và Jacquet (1994), De Barros Silva (2002) chứng minh bón thừa kali khiến nước uống bị khé và chát; mức bón 200 kg $\text{K}_2\text{O}$/ha cho hoạt tính enzym polyphenol oxidase cao nhất (65,5 U/g), tạo vị dịu cho tách cà phê. Snoeck và Lambot (2004) khẳng định bón kali dạng $\text{K}_2\text{SO}_4$ cho chất lượng nước uống tốt hơn dạng $\text{KCl}$ do tránh được sự tích lũy ion $\text{Cl}^-$. Kant (2005) ghi nhận năng suất cà phê nhân bón $\text{K}_2\text{SO}_4$ cao hơn bón $\text{KCl}$ từ 4,2% đến 19,8%. Mancuso (2014) đánh giá hiệu quả của phân $\text{KCl}$ và bột đá phonolite trên cà phê chè tại Brazil.
- Tại Việt Nam: Phan Quốc Sủng (1987) khuyến cáo bón 200 kg $\text{K}_2\text{O}$/ha/năm chia 3 lần. Tôn Nữ Tuấn Nam và Trương Hồng (1999, 2003) nghiên cứu ảnh hưởng của kali đến bệnh khô cành quả do nấm Colletotrichum gloeosporioides và chất lượng nhân cà phê vối. Nguyễn Xuân Trường (2000), Nguyễn Thị Quý Mùi (2001), Lê Hồng Lịch (2005), Y Kanin H’Dơk và Trình Công Tư (2007), Nguyễn Tiến Sĩ (2009) xác định liều lượng và kỹ thuật bón kali cho cà phê vối trên đất bazan Tây Nguyên dao động từ 200 đến 400 kg $\text{K}_2\text{O}$/ha. Đối với cà phê chè, Vũ Hồng Tráng (2011) đề xuất 300 kg $\text{K}_2\text{O}$/ha tại miền núi phía Bắc; Bùi Văn Hùng (2011) khuyến cáo 120 kg $\text{K}_2\text{O}$/ha tại Phủ Quỳ, Nghệ An; Nguyễn Văn Bộ (2017) đề xuất 300–350 kg $\text{K}_2\text{O}$/ha cho cà phê chè tại Lâm Đồng. Trần Minh Tiến và cộng sự (2015, 2020) nghiên cứu hiệu lực của $\text{KCl}$ và khoáng polyhalite đối với năng suất và độ phì đất.
Về dinh dưỡng lưu huỳnh:
- Trên thế giới: Lott (1960), Buringh (1979) cảnh báo bón phân không chứa lưu huỳnh gây thiếu hụt S trên đất cát và đất bazan. Hagstrom (1986) ghi nhận bón phân SA dài ngày làm giảm pH đất từ 7,0 xuống 4,1. Charrier và Berthaud (1988) khẳng định các axit amin chứa lưu huỳnh quyết định hương vị và cấu trúc nhân cà phê. Ayyappan và cộng sự (1989), Malavolta (1991) chỉ ra mối tương quan thuận giữa hàm lượng lưu huỳnh trong lá (0,17–0,24%), lưu huỳnh dễ tiêu trong đất và năng suất cà phê chè.
- Tại Việt Nam: Hoàng Thanh Tiệm và Nguyễn Chi Triêm (1984), Tôn Nữ Tuấn Nam (1995, 1999) thử nghiệm phun và bón SA để chữa bệnh bạc lá non do thiếu lưu huỳnh trên cà phê vối tại Đắk Lắk; Lương Đức Loan và Trình Công Tư (1996) so sánh hiệu lực bón SA và urê qua lá; Lâm Văn Hà (2014), Đinh Thị Tiếu Oanh (2018) khảo sát thực trạng bón lưu huỳnh không cân đối tại Lâm Đồng.
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết: Đồng bộ hóa liều lượng kết hợp, lựa chọn dạng phân phối hợp giữa $\text{KCl}$ và $\text{K}_2\text{SO}_4$, cũng như xác định thời điểm và tỷ lệ phân chia các đợt bón kali và lưu huỳnh chuyên biệt cho cà phê chè Catimor giai đoạn kinh doanh trên đất nâu đỏ bazan tại Lâm Đồng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở lý thuyết sinh lý dinh dưỡng khoáng thực vật và khoa học đất:
- Chu kỳ phát triển quả cà phê gồm 4 giai đoạn: giai đoạn đầu đinh (tháng thứ 1–2 sau thụ phấn), giai đoạn tăng nhanh thể tích (tháng thứ 3–5), giai đoạn tích lũy chất khô và hình thành nhân (tháng thứ 6–8), giai đoạn quả chín. Nhu cầu kali và lưu huỳnh tăng vọt trong giai đoạn tích lũy chất khô để tổng hợp đường, protein và chất béo.
- Cơ chế sinh hóa: Kali hoạt hóa 60 loại enzym, điều tiết đóng mở khí khổng, cân bằng áp suất thẩm thấu và trung hòa axit hữu cơ trong chu trình Krebs. Lưu huỳnh tham gia cấu tạo các axit amin chứa lưu huỳnh (cystin chứa 27% S, cystein chứa 26% S, methionin chứa 21% S), tổng hợp coenzym A, ferrodoxin và hình thành các hợp chất thơm (chứa gốc sulfhydryl -SH, tritecpen, ergosterol, lanosteron).
- Cơ chế hấp thu: Hệ thống hấp thu $\text{K}^+$ ái lực cao (4–40 $\mu\text{M}$, liên quan gen HKT1, HvHAK1) và ái lực thấp (1–20 $\mu\text{M}$, qua kênh ion, gen KZM, ATK1, ATK2); sự hấp thu $\text{SO}_4^{2-}$ qua protein vận chuyển thuộc nhóm gen SULTR1–SULTR5 và trao đổi với ion $\text{HCO}_3^-$.
Tiêu chuẩn phân cấp độ phì đất trồng cà phê tại Việt Nam theo Vũ Cao Thái (1985) được sử dụng làm khung tham chiếu:
| Phân cấp |
Carbon hữu cơ OC (%) |
N tổng số (%) |
$\text{P}_2\text{O}_5$ dễ tiêu (mg/100 g đất) |
$\text{K}_2\text{O}$ dễ tiêu (mg/100 g đất) |
| Cấp 1 (Tốt) |
> 3,5 |
> 0,20 |
> 6,0 |
> 25,0 |
| Cấp 2 (Trung bình) |
2,5 – 3,5 |
0,12 – 0,20 |
3,0 – 6,0 |
10,0 – 25,0 |
| Cấp 3 (Kém) |
< 2,5 |
< 0,12 |
< 3,0 |
< 10,0 |
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:
- Bố trí thí nghiệm: Các thí nghiệm đồng ruộng được thiết kế theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) với 3 lần nhắc lại trên vườn cà phê chè Catimor kinh doanh tại xã Trạm Hành, thành phố Đà Lạt.
- Nền phân bón đồng nhất cho 1 ha/năm trong các thí nghiệm: 280 kg N + 120 kg $\text{P}_2\text{O}_5$ + 500 kg vôi bột + 10 tấn phân gà.
- Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi:
- Sinh trưởng: Đo chiều dài cành cấp 1, đếm số cặp cành cấp 1 phát sinh mới, số đốt dự trữ trên cành cấp 1.
- Sâu bệnh hại: Đánh giá tỷ lệ và chỉ số bệnh gỉ sắt (Hemileia vastatrix), bệnh khô cành quả (Colletotrichum gloeosporioides), bệnh nấm hồng (Corticium salmonicolor).
- Năng suất và yếu tố cấu thành: Đếm số cành mang quả, số đốt mang quả/cành, số quả/đốt; đo thể tích 100 quả, khối lượng 100 nhân, tỷ lệ tươi/nhân; xác định năng suất lý thuyết (NSLT) và năng suất thực thu (NSTT, tấn nhân/ha).
- Phẩm chất nông sản: Phân loại kích thước nhân qua hệ thống sàng (tỷ lệ nhân trên sàng 18, sàng 16, tỷ lệ nhân tròn/peaberry); đánh giá cảm quan chất lượng tách cà phê theo quy chuẩn của Hiệp hội Cà phê Đặc sản Hoa Kỳ (SCAA) và Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN).
- Tính chất hóa học đất: Phân tích mẫu đất tầng 0–30 cm gồm $\text{pH}_{\text{KCl}}$ (đo điện thế tỷ lệ 1:2,5), OC (%) (Walkley-Black), N tổng số (Kjeldahl), $\text{P}_2\text{O}_5$ tổng số và dễ tiêu (Bray 2/Oniani), $\text{K}_2\text{O}$ tổng số và dễ tiêu (quang kế ngọn lửa), $\text{Ca}^{2+}$ và $\text{Mg}^{2+}$ trao đổi (Trilon B), $\text{S}$ tổng số và dễ tiêu (so màu vẩn đục $\text{BaSO}_4$), dung tích hấp thu CEC (Schollenberger).
- Phân tích kinh tế: Tính toán tổng chi phí sản xuất, tổng giá trị sản xuất (doanh thu), lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận.
- Xử lý số liệu: Phân tích phương sai (ANOVA), kiểm định sai khác trung bình bằng $\text{LSD}_{0,05}$, tính hệ số biến động CV (%), xây dựng phương trình hồi quy tuyến tính tương quan giữa năng suất và lượng phân bón bằng phần mềm thống kê chuyên ngành.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương 1 tổng thuật các cơ sở lý luận và thực tiễn về đặc điểm thực vật học, sinh thái của cây cà phê chè (Coffea arabica L. var Catimor), bao gồm cấu trúc cành đốt ngắn (3–4 cm), bộ tán hẹp, khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt. Tác giả phân tích các tiêu chuẩn lý hóa tính đất trồng cà phê (độ dày tầng canh tác > 100 cm, độ xốp > 60%, dung trọng 0,9 g/cm³, tỷ trọng 2,54 g/cm³). Trương Hồng (2013) cung cấp số liệu phân tích đất nâu đỏ bazan tại Tây Nguyên: $\text{pH}_{\text{KCl}} = 4,43$; $\text{OC} = 4,14%$; $\text{N} = 0,20%$; $\text{P}_2\text{O}_5\text{ tổng số} = 0,27%$; $\text{K}_2\text{O}\text{ tổng số} = 0,03%$; $\text{P}_2\text{O}_5\text{ dễ tiêu} = 3,06\text{ mg}/100\text{ g}$; $\text{K}_2\text{O}\text{ dễ tiêu} = 12,31\text{ mg}/100\text{ g}$; $\text{Ca}^{2+} = 2,39\text{ lđl}/100\text{ g}$; $\text{Mg}^{2+} = 1,88\text{ lđl}/100\text{ g}$; $\text{S}\text{ tổng số} = 0,11%$.
Chương này cũng tổng hợp thực trạng sản xuất cà phê tại Lâm Đồng (174.744 ha năm 2018, năng suất bình quân cà phê chè 2,93 tấn nhân/ha), sự phân vùng sinh thái thích hợp (Vùng 1: Đà Lạt, Lạc Dương, Đơn Dương; Vùng 2: Lâm Hà, Đức Trọng, Đam Rông) và việc sở hữu 2 nhãn hiệu độc quyền "Cà phê Arabica Langbiang" và "Cà phê Cầu Đất". Đồng thời, các khảo sát của Đinh Thị Tiếu Oanh (2018), Lâm Văn Hà (2014) và Nguyễn Văn Bộ (2017) phản ánh thực trạng bón thừa đạm, lân, lưu huỳnh nhưng thiếu kali ở các nông hộ vùng Tây Nguyên.
Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết địa bàn nghiên cứu tại vườn cà phê chè của ông Lương Trọng Nghĩa (xã Trạm Hành, Đà Lạt), các chỉ tiêu khí hậu thời tiết trong giai đoạn 2018–2020 và quy trình canh tác chuẩn. Nội dung thực nghiệm được phân thành 3 khối thí nghiệm:
- Thí nghiệm 1: Nghiên cứu các mức phối hợp liều lượng kali và lưu huỳnh trên nền phân bón cơ sở (280 kg N + 120 kg $\text{P}_2\text{O}_5$ + 500 kg vôi + 10 tấn phân gà/ha/năm).
- Thí nghiệm 2: Nghiên cứu các dạng phân bón cung cấp kali và lưu huỳnh ($\text{KCl}$, $\text{K}_2\text{SO}_4$, SA và các công thức phối trộn).
- Thí nghiệm 3: Nghiên cứu các phương thức phân chia thời điểm và tỷ lệ bón kali và lưu huỳnh qua các đợt trong năm (đầu mùa mưa, giữa mùa mưa, cuối mùa mưa và mùa khô).
Chương 2 quy định chi tiết phương pháp xác định các chỉ tiêu sinh trưởng, cấu thành năng suất, tỷ lệ sâu bệnh, lấy mẫu đất, phương pháp phân tích phòng thí nghiệm, kiểm tra chất lượng nước uống cà phê theo tiêu chuẩn quốc tế SCAA và quy trình xử lý thống kê toán học bằng ANOVA và kiểm định $\text{LSD}_{0,05}$.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm qua 3 tiểu mục tương ứng với 3 nội dung nghiên cứu:
- Ảnh hưởng của liều lượng kali và lưu huỳnh:
- Sinh trưởng và bệnh hại: Liều lượng kali và lưu huỳnh phù hợp thúc đẩy tăng trưởng số cặp cành cấp 1, chiều dài cành và số đốt dự trữ; làm giảm rõ rệt tỷ lệ và chỉ số bệnh gỉ sắt, khô cành quả và nấm hồng (theo dõi trung bình 2 vụ 2018 và 2019).
- Năng suất: Mức bón 330 kg $\text{K}_2\text{O}$ kết hợp 60 kg S/ha/năm đạt các chỉ tiêu về số đốt mang quả/cành, số quả/đốt, NSLT và NSTT cao nhất; phân tích hồi quy tuyến tính trong 2 năm 2018 và 2019 xác nhận mối tương quan chặt giữa năng suất cà phê nhân với lượng kali và lưu huỳnh bón.
- Phẩm chất nhân và nước uống: Bón 330 kg $\text{K}_2\text{O}$ + 60 kg S/ha làm tăng tỷ lệ nhân trên sàng 18 và sàng 16, giảm tỷ lệ nhân tròn, tăng khối lượng 100 nhân, giảm tỷ lệ quả tươi/nhân và cải thiện điểm số thử nếm chất lượng nước uống SCAA.
- Kinh tế và đất đai: Công thức bón 330 kg $\text{K}_2\text{O}$ + 60 kg S/ha mang lại lợi nhuận cao nhất; đồng thời nâng cao hàm lượng $\text{K}_2\text{O}$ dễ tiêu và S dễ tiêu trong đất nâu đỏ bazan mà không gây suy thoái các chỉ tiêu hóa học khác.
- Ảnh hưởng của dạng phân bón kali và lưu huỳnh:
- So sánh giữa các nguồn phân bón đơn lẻ ($\text{KCl}$, $\text{K}_2\text{SO}_4$, $\text{SA}$) và dạng phối hợp.
- Dạng phân phối hợp giữa $\text{KCl}$ và $\text{K}_2\text{SO}_4$ theo tỷ lệ tương ứng với liều lượng nghiên cứu (1 $\text{KCl}$ : 1,26 $\text{K}_2\text{SO}_4$) cho kết quả vượt trội về sinh trưởng cành cấp 1, giảm mức độ hại của bệnh gỉ sắt và khô cành quả.
- Năng suất lý thuyết, năng suất thực thu, tỷ lệ nhân loại 1 (trên sàng 18, 16) và khối lượng 100 nhân đạt tối ưu ở công thức phối hợp $\text{KCl} + \text{K}_2\text{SO}_4$.
- Chất lượng tách cà phê khi sử dụng kết hợp $\text{KCl}$ và $\text{K}_2\text{SO}_4$ đạt điểm cảm quan cao hơn hẳn công thức bón hoàn toàn bằng $\text{KCl}$ (tránh được vị khé, chát do thừa clo) và công thức bón $\text{SA}$ (tránh làm chua hóa đất bazan, duy trì dung tích hấp thu CEC ổn định). Lợi nhuận kinh tế đạt mức cao nhất ở dạng phân phối hợp này.
- Ảnh hưởng của thời điểm và tỷ lệ bón phân kali và lưu huỳnh:
- Phân kali chia bón 4 đợt trong năm (mỗi đợt 25% tổng lượng $\text{K}_2\text{O}$ vào các tháng 3, 5, 7 và 9) giúp cung cấp dinh dưỡng nhịp nhàng theo các pha sinh trưởng: nở hoa, nuôi quả non tăng thể tích, tích lũy chất khô vào nhân và chín quả; hạn chế mất phân do rửa trôi trong các tháng cao điểm mưa.
- Phân lưu huỳnh chia bón 2 đợt (50% S vào tháng 3 và 50% S vào tháng 9) đáp ứng kịp thời cho quá trình phát triển cành lá đầu mùa và hoàn thiện chất lượng nhân vào cuối mùa mưa.
- Phương thức bón này cho số đốt mang quả trên cành cấp 1, số quả/đốt, NSTT, kích thước hạt nhân, điểm chất lượng nước uống và tỷ suất lợi nhuận cao nhất trong vụ thu hoạch năm 2020, đồng thời duy trì độ phì nhiêu dinh dưỡng trong đất ổn định.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã đạt được các đóng góp mới cụ thể về mặt khoa học và thực tiễn:
- Đã xác định được liều lượng phân kali và lưu huỳnh tối ưu cho cây cà phê chè giai đoạn kinh doanh trồng trên đất nâu đỏ bazan tại tỉnh Lâm Đồng là 330 kg $\text{K}_2\text{O}$ và 60 kg S trên nền phân bón hàng năm cho 1 ha gồm 280 kg N + 120 kg $\text{P}_2\text{O}_5$ + 500 kg vôi bột + 10 tấn phân gà.
- Đã xác định được dạng phân kali và lưu huỳnh phù hợp cho cây cà phê chè là phân $\text{KCl}$ kết hợp với phân $\text{K}_2\text{SO}_4$ theo tỷ lệ khối lượng thương phẩm tương ứng là 1 $\text{KCl}$ : 1,26 $\text{K}_2\text{SO}_4$.
- Đã xác định được chế độ bón tối ưu: Phân kali được chia làm 4 đợt bón (mỗi đợt bón 25% tổng lượng $\text{K}_2\text{O}$, thực hiện vào các tháng 3, 5, 7 và 9); Phân lưu huỳnh được chia làm 2 đợt bón (mỗi đợt bón 50% tổng lượng S, thực hiện vào tháng 3 và tháng 9).
Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ luận án:
- Áp dụng gói kỹ thuật bón phân đồng bộ (liều lượng 330 kg $\text{K}_2\text{O}$ + 60 kg S/ha; phối hợp dạng phân 1 $\text{KCl}$ : 1,26 $\text{K}_2\text{SO}_4$; chia bón 4 đợt kali và 2 đợt lưu huỳnh) vào quy trình thâm canh cà phê chè Catimor kinh doanh tại xã Trạm Hành, thành phố Đà Lạt và các vùng trồng cà phê chè có điều kiện sinh thái tương tự tại tỉnh Lâm Đồng.
- Khuyến cáo người sản xuất không lạm dụng phân đơn $\text{KCl}$ hoặc phân $\text{SA}$ để tránh tích lũy ion $\text{Cl}^-$ làm giảm chất lượng nước uống và tránh làm chua hóa đất nâu đỏ bazan.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Phạm vi thực nghiệm đồng ruộng của đề tài được triển khai tập trung tại xã Trạm Hành, thành phố Đà Lạt, trên giống cà phê chè Catimor và nhóm đất nâu đỏ bazan trong khung thời gian 3 vụ (2018–2020).
- Luận án chưa theo dõi trên các tiểu vùng có độ cao và khí hậu khác biệt hoặc các giống cà phê chè mới được đưa vào sản xuất gần đây tại Lâm Đồng.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Tiếp tục mở rộng thử nghiệm công thức phối hợp phân kali và lưu huỳnh trên các giống cà phê chè mới (như THA1, TN1...) và trên các loại đất khác (đất xám, đất feralit mùn trên núi) tại các tiểu vùng sinh thái khác của Lâm Đồng (Lạc Dương, Lâm Hà, Đơn Dương).
- Tiến hành các nghiên cứu dài hạn đánh giá động thái biến đổi của hệ sinh thái vi sinh vật đất và cân bằng dinh dưỡng vi lượng khi áp dụng liên tục quy trình bón phân kết hợp kali - lưu huỳnh qua nhiều chu kỳ thu hoạch.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Khoa học cây trồng, Nông học, Thổ nhưỡng và Dinh dưỡng cây trồng: Tham khảo về phương pháp thiết kế thí nghiệm nông học đa yếu tố (liều lượng, dạng phân, thời kỳ bón), kỹ thuật phân tích hóa tính đất, phương pháp giám định bệnh hại và quy trình đánh giá phẩm chất hạt cà phê theo tiêu chuẩn SCAA.
- Giảng viên, nhà nghiên cứu tại các trường đại học, viện nghiên cứu (Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Huế, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên - WASI): Sử dụng dữ liệu thực nghiệm để phục vụ giảng dạy môn học Dinh dưỡng cây trồng, Cây công nghiệp, Quản lý độ phì đất và xây dựng các đề tài nghiên cứu liên quan.
- Cơ quan quản lý ngành nông nghiệp, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Lâm Đồng và các tỉnh Tây Nguyên: Sử dụng các kết quả định lượng về liều lượng, tỷ lệ phối hợp và thời điểm bón để bổ sung, hoàn thiện quy trình kỹ thuật canh tác cà phê chè chất lượng cao trên địa bàn.
- Các hợp tác xã, doanh nghiệp và nông hộ trồng cà phê chè: Ứng dụng trực tiếp công thức phân bón $\text{KCl} + \text{K}_2\text{SO}_4$ và lịch bón định kỳ nhằm tăng tỷ lệ nhân loại 1, nâng cao điểm chất lượng nước uống và gia tăng lợi nhuận kinh tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Liều lượng phân kali và lưu huỳnh tối ưu được luận án xác định cho cà phê chè kinh doanh tại Lâm Đồng là bao nhiêu?
Luận án xác định liều lượng tối ưu hàng năm cho 1 ha cà phê chè Catimor kinh doanh trên đất nâu đỏ bazan là 330 kg $\text{K}_2\text{O}$ và 60 kg S, bón trên nền phân bón cơ sở gồm 280 kg N + 120 kg $\text{P}_2\text{O}_5$ + 500 kg vôi bột + 10 tấn phân gà.
2. Tại sao luận án đề xuất phối hợp phân kali dưới hai dạng $\text{KCl}$ và $\text{K}_2\text{SO}_4$ thay vì chỉ bón $\text{KCl}$?
Việc bón đơn thuần phân $\text{KCl}$ làm tích lũy ion $\text{Cl}^-$ trong mô cây, gây tác động tiêu cực làm nước uống bị khé và chát (theo Barel & Jacquet, 1994; Snoeck & Lambot, 2004). Việc phối hợp $\text{KCl}$ và $\text{K}_2\text{SO}_4$ theo tỷ lệ 1 : 1,26 vừa cung cấp đủ 330 kg $\text{K}_2\text{O}$ và 60 kg S nguyên chất, vừa cải thiện kích thước hạt nhân, nâng cao hoạt tính enzym polyphenol oxidase, giữ hương vị dịu thơm cho tách cà phê và tránh làm chua hóa đất so với việc sử dụng phân SA.
3. Lịch trình và tỷ lệ phân chia các đợt bón phân kali và lưu huỳnh trong năm được khuyến nghị như thế nào?
Tổng lượng phân kali (330 kg $\text{K}_2\text{O}$) được chia đều làm 4 đợt bón (25% mỗi đợt vào tháng 3, tháng 5, tháng 7 và tháng 9). Tổng lượng phân lưu huỳnh (60 kg S) được chia làm 2 đợt bón (50% vào tháng 3 và 50% vào tháng 9). Lịch trình này đồng pha với các giai đoạn phát triển hoa, quả non, tích lũy chất khô vào nhân và giảm thiểu thất thoát phân bón do rửa trôi mùa mưa.
4. Đặc điểm hóa tính cơ bản của đất nâu đỏ bazan trồng cà phê tại Tây Nguyên được luận án trích dẫn từ công trình của Trương Hồng (2013) gồm các chỉ số nào?
Kết quả phân tích mẫu đất tầng 0–30 cm của Trương Hồng (2013) gồm: $\text{pH}_{\text{KCl}} = 4,43$; carbon hữu cơ $\text{OC} = 4,14%$; $\text{N tổng số} = 0,20%$; $\text{P}_2\text{O}_5\text{ tổng số} = 0,27%$; $\text{K}_2\text{O}\text{ tổng số} = 0,03%$; $\text{P}_2\text{O}_5\text{ dễ tiêu} = 3,06\text{ mg}/100\text{ g}$; $\text{K}_2\text{O}\text{ dễ tiêu} = 12,31\text{ mg}/100\text{ g}$; $\text{Ca}^{2+} = 2,39\text{ lđl}/100\text{ g}$; $\text{Mg}^{2+} = 1,88\text{ lđl}/100\text{ g}$; $\text{S tổng số} = 0,11%$.
5. Giống cà phê chè Catimor sử dụng trong nghiên cứu có những đặc tính hình thái và nông học nào?
Catimor là giống lai giữa Hibrido de Timor và Caturra (chọn lọc thế hệ F6 tại Việt Nam từ nguồn nhập của Viện Nghiên cứu Cà phê Colombia và Oeiras - Bồ Đào Nha). Giống có dạng cây thấp (2–3 m), tán hẹp (1,2–1,5 m), cành cơ bản khỏe, góc cành nhỏ hơn $80^\circ$, lóng đốt ngắn (3–4 cm), lá non màu đồng nhạt, khả năng phân cành thứ cấp mạnh, kháng cao với bệnh gỉ sắt, khối lượng 100 nhân đạt 12–16 g và tỷ lệ quả tươi/nhân từ 5 đến 7,5.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Dương Công Bằng đã giải quyết hoàn chỉnh vấn đề sử dụng phân kali và lưu huỳnh cho cây cà phê chè giai đoạn kinh doanh trên đất nâu đỏ bazan tại tỉnh Lâm Đồng thông qua chuỗi thí nghiệm đồng ruộng có đối chứng và xử lý thống kê chuẩn mực. Công trình đã xác lập liều lượng tối ưu 330 kg $\text{K}_2\text{O}$ + 60 kg S/ha/năm trên nền phân cơ sở, chứng minh tính ưu việt của dạng phân phối hợp $\text{KCl} + \text{K}_2\text{SO}_4$ theo tỷ lệ khối lượng thương phẩm 1 : 1,26, đồng thời xác định phương thức phân chia 4 đợt bón kali và 2 đợt bón lưu huỳnh trong năm. Kết quả nghiên cứu không chỉ gia tăng năng suất thực thu, cải thiện tỷ lệ nhân loại 1 và nâng cao chất lượng cảm quan nước uống cà phê theo tiêu chuẩn SCAA mà còn góp phần bảo vệ độ phì đất và tối ưu hóa hiệu quả kinh tế cho người sản xuất.