CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Cây lúa (Oryza sativa L) là cây trồng có từ lâu đời, gắn liền với quá trình phát triển của loài người và đã trở thành cây lương thực chính của Châu Á nói chung, người Việt Nam nói riêng. Khi xã hội càng phát triển nhu cầu ăn ngon của người dân ngày càng tăng, trong đó lúa gạo không thể thiếu trong bữa ăn hằng ngày của người dân trong và ngoài nước. Năng suất cây trồng nói chung và lúa nói riêng chịu tác động của các yếu tố tự nhiên như đất, nước, dinh dưỡng, khí hậu, thời tiết đồng thời nó cũng chịu tác động trực tiếp của các yếu tố kinh tế - xã hội như trình độ canh tác, biện pháp kỹ thuật, khả năng đầu tư, thâm canh…Việc chăm sóc, bón phân nhằm phân bố hợp lý đơn vị diện tích lá/đơn vị diện tích đất, tận dụng nguồn năng lượng ánh sáng mặt trời, hạn chế sâu bệnh hại, tạo tiền đề cho năng suất cao.
Hiện nay tập quán canh tác chăm sóc lúa của người dân chủ yếu là bón phân vào đất nhằm cung cấp dinh dưỡng qua bộ rễ cho cây trồng. Nhưng lượng phân do cây trồng hút được rất hạn chế, lượng phân bị thất thoát một phần do bị rửa trôi, ăn sâu xuống lòng đất, bốc hơi và đi theo nguồn nước. Sử dụng phân bón qua lá phun cho lúa nhằm nâng cao hiệu lực sử dụng phân bón của cây trồng, bổ sung một số chất trung, vi lượng cần thiết mà qua bộ rễ cây trồng không hút được. Việc lựa trọn một số loại phân bón qua lá có các nguyên tố trung - vi lượng phù hợp, góp phần nâng cao năng suất và phẩm chất lúa gạo là vấn đề cấp thiết.
Chính vì vậy đề tài mang đủ cơ sở khoa học và thực tiễn. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và ở Việt Nam 2. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới Cây lúa là một trong những cây lương thực quan trọng đối với đời sống con người do vậy lúa được trồng và phân bố rộng khắp trên thế giới. Theo số liệu của FAO lúa được trồng ở 112 nước với tổng diện tích gieo trồng trên 148 triệu ha.
Diện tích trồng lúa trên thế giới phân bố không đều. Gần 90% tổng diện tích tập trung ở châu Á, 4,6% châu Phi và 4,7% châu Mỹ. Trong từng châu diện tích, năng suất của các vùng khác nhau không giống nhau. Tại châu Á lúa được trồng ở 26 nước trong số 45 quốc gia của châu lục.
Ở châu Mỹ lúa trồng ở 28 trong số 41 quốc gia trong số 53. Ở châu Âu lúa được trồng 11 trong số 28 nước còn ở châu úc và Đại dương 5 trong số 11 quốc gia có trồng lúa. Châu Á sản xuất khoảng 92% tổng sản lượng lúa gạo thế giới, châu Mỹ (4,7%), châu Phi (2,7%), châu Úc và Đại dương sản xuất khoảng 0,2% tổng sản lượng lúa gạo của thế giới. Mười nước châu Á: Bangledet, Myanma, Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia, CHDCND Triều Tiên, Thái Lan, Philippin và Nhật Bản sản xuất khoảng 90% sản lượng lúa gạo của châu Á và khoảng 88,6% sản lượng gạo của thế giới.
Riêng hai nước Ấn Độ và Trung Quốc sản xuất 67% tổng sản lượng lúa gạo của châu Á và khoảng 57% tổng sản lượng của thế giới. Những nước dẫn đầu về năng suất lúa ở châu Á là CHDCND Triều Tiên: 75 tạ/ha, Hàn Quốc: 62 tạ/ha, Nhật Bản: 59 - 62 tạ/ha, Trung Quốc: 57- 58 tạ/ha. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên thế giới giai đoạn 2005 - 2009 Diện tích Năng suất Sản lượng STT Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 1 2005 155,026 40,921 634,389 2 2006 155,774 41,163 641,094 3 2007 155,952 41,115 656,807 4 2008 159,250 43,068 685,674 5 2009 161,420 42,044 678,688 (Nguồn: FAOSTAT - 2010) 6 Thống kê của tổ chức lương thực thế giới (FAO, 2008) cho thấy, diện tích trồng lúa trên thế giới đã gia tăng rõ rệt từ năm 1961 đến 1980. Trong vòng 19 năm đó, diện tích trồng lúa trên thế giới tăng bình quân 1,53 triệu ha/năm.
Từ năm 1980, diện tích lúa tăng chậm và đạt cao nhất vào năm 1999 (156,8 triệu ha) với tốc độ tăng chậm với tốc độ tăng trưởng bình quân 630. Từ năm 2000 trở đi diện tích trồng lúa thế giới có nhiều biến động và có xu hướng giảm dần, đến năm 2005 còn ở mức 155,026 triệu ha. Để đảm bảo an ninh lượng thực trong điều kiện dân số tăng mạnh, thế giới đã có rất nhiều biện pháp nhằm gia tăng sản lượng lúa nên trong 5 năm gần đây diện tích, năng suất, sản lượng lúa trên thế giới đều tăng. Trong 3 năm đầu diện tích trồng lúa tăng chậm từ 155,026 lên 155,952 triệu ha, năm 2008 và 2009 thì diện tích tăng nhanh hơn.
Năm 2009 diện tích lúa của thế giới đạt 161.420 triệu ha, tăng so với năm 2008 là 2.170 triệu ha, so với năm 2005 là 6. Năng suất lúa bình quân trên thế giới cũng tăng khoảng 1,4 tấn/ha trong vòng 24 năm từ năm 1961 đến 1985, đặc biệt sau cuộc cách mạng xanh của thế giới vào những năm 1965 - 1970, với sự ra đời của các giống lúa thấp cây, ngắn ngày, không cảm quang, mà tiêu biểu là giống lúa IR5, IR8 nên năng suất lúa thế giới giới liên tục được cải thiện. Năm 2005 năng suất lúa đạt 40,921 tạ/ha, năm 2008 đạt 43,068 tạ/ha, tăng 2,615 tạ/ha. Năm 2009 năng suất lại giảm so với năm 2008 từ 43,068 tạ/ha xuống còn 42,044 tạ/ha.
Do diện tích và năng suất tăng nên sản lượng gạo toàn cầu cũng tăng lên từ 200 triệu tấn vào năm 1960 đến năm 2005 là 634,389 triệu tấn, tăng 434,389 triệu tấn. Năm 2009 sản lượng tăng cao nhất đạt 678,688 triệu tấn, tăng 44,299 triệu tấn. Theo dự báo của các nhà khoa học trên thế giới, năng suất trên thế giới đã đạt được ở gần mức tối đa, song sản lượng lúa trên thế giới sẽ giảm vì diện tích gieo trồng ngày một bị thu hẹp do quá trình độ thị hoá. Tình hình sản xuất lúa tại Việt nam Việt Nam là một nước có nền kinh tế nông nghiệp dựa trên sản xuất lúa gạo, trải qua hơn 4.000 năm lịch sử phát triển của cây lúa luôn gắn liền với sự phát triển của đất nước.
Nghề trồng lúa ở nước ta thuộc loại có lịch sử lâu đời nhất trong nghề trồng lúa ở nước Châu Á. Nằm giữa vùng Đông Nam Á, khí hậu nhiệt đới gió mùa, đặc biệt là lượng bức xạ cao, Việt Nam rất thích hợp với sự phát triển của cây lúa. Với nhiều đồng bằng châu thổ rộng lớn có lượng phù sa bồi đắp tương đối bằng phẳng và màu mỡ từ Bắc tới Nam (đồng bằng châu Sông Hồng, đồng bằng châu thổ Cửu Long) cùng một loạt châu thổ nhỏ hẹp ở ven sông, ven biển miền trung. Diễn biến diện tích, năng suất và sản lượng lúa ở Việt Nam giai đoạn 2005 - 2009 Diện tích Năng suất Sản lượng STT Năm (ha) (tạ/ha) (tấn) 1 2005 7.2 cho thấy, diện tích gieo cấy lúa nước ta thay đổi không đáng kể, năm 2005 cả nước trồng được 7.
Theo dự báo, trong giai đoạn tới diện tích trồng lúa có xu hướng giảm do tốc độ đô thị hóa ngày càng mạnh. Để đảm bảo an ninh lượng thực trong điều kiện diện tích có hạn, nước ta đã không ngừng đưa kỹ thuật tiến bộ mới, đặc biệt là các giống lai nên năng suất tăng từ 48,89 năm 2005 lên 52,278 tạ/ha năm 2009. Do năng suất cao nên sản lượng lúa tăng một cách nhanh chóng từ 35.900 triệu tấn năm 2005, đến 38. Theo 8 đánh giá của IRRI, Việt Nam là nước có tốc độ tăng trưởng về lúa nhanh nhất khu vực Châu Á Thái Bình Dương trong thập kỷ 90 tốc độ tăng sản lượng lúa gạo của Việt Nam tăng là 2,8% trong khi của thế giới tăng là 1,1% và khu vực là 1,0%.
Đối với vựa lúa lớn nhất cả nước đồng bằng sông Cửu Long, từ năm 1975 đến năm 2008 có những bước tiến rõ rệt. Từ vùng lúa nổi ở An Giang, Đồng Tháp, vùng trũng phèn Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, với chỉ một vụ lúa mùa, năng suất thấp và bấp bênh nay đã chuyển dần thành vùng lúa 2-3 vụ ngắn ngày năng suất cao, ổn định, cộng với những hệ thống canh tác đa dạng, đã góp phần rất đáng kể vào sản lượng lương thực và lượng nông sản hàng hoá xuất khẩu hàng năm của cả nước. Năng suất bình quân cả năm của toàn đồng bằng đã gia tăng từ 2,28 t/ha (1980) đến 3,64 tấn/ha (1989) 5,0 tấn/ha (2005) 5,3 tấn/ha (2008). Hiện nay, ĐBSCL có tổng diện tích gieo trồng lúa gần 3,9 triệu ha chiếm 53,4% diện tích gieo trồng lúa cả nước, cung cấp 20,7 triệu tấn lúa trong tổng sản lượng 38,7 triệu tấn lúa của cả nước chiếm tỷ lệ 53,5 % mà trong đó hơn 80% sản lượng gạo xuất khẩu.
Ở đồng bằng Sông Hồng trước cách mạng tháng tám năm 1945, lúa chỉ cho năng suất hai vụ/năm là 25-30 tạ/ha. Năm 1993, thâm canh lúa mùa và lúa Xuân đã cho năng suất từ 80 - 85 tạ/ha. Cho đến nay năng suất lúa trung bình đạt 100 tạ/ha. Đặc biệt các tỉnh như: Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Bắc Giang năng suất lúa bình quân có thể đạt tới 110 -130 tạ/ha.
Tình hình nghiên cứu lúa trên thế giới và ở Việt Nam 2. Tình hình nghiên cứu lúa trên thế giới 2. Tình hình nghiên cứu về giống lúa lai Cùng với sự phát triển của loài người, nghề trồng lúa được hình thành và phát triển. Trình độ thâm canh cây lúa của nông dân ngày một nâng cao.
Các giống lúa địa phương không ưa thâm canh, khả năng chống chịu kém, năng suất thấp. Vì thế việc tạo ra các giống lúa có năng suất cao, ưa thâm canh thích nghi với điều kiện sinh thái từng vùng là vấn đề hết sức cần thiết. 9 Viện nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) trải qua hơn 40 năm tồn tại và phát triển đã lai tạo, chọn lọc hàng trăm giống lúa tốt trồng phổ biến trên thế giới. Các giống lúa: IR8; IR5; IR6; IR30,… và những giống lúa khác đã tạo ra sự nhẩy vọt về năng suất.
Cùng với IRRI, các viện khác như CIRAT, ICRISAT… cũng đã chọn lọc ra những giống lúa tốt góp phần làm cho sản xuất lúa gạo trên thế giới có những thay đổi quan trọng. Đến năm 1990, sự thành công của các vùng áp dụng Cách mạng xanh làm cho sản lượng lúa của những nơi đó tăng lên gấp đôi so với trước [18].