Chương 1: Bối cảnh xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XXI và sự phát triển của Internet; Chương 2: Thực trạng việc sử dụng Internet của giới trẻ hiện nay; Chương 3: Internet và sự kết nối mạng lưới xã hội; Chương 4: Internet và sự thể hiện bản sắc; Chương 5: Những vấn đề đặt ra từ sự kết nối mạng lưới xã hội và thể hiện bản sắc của giới trẻ hiện nay trong không gian của Internet. Phạm Thị Thùy Linh [34] với bài viết “Ảnh hưởng của mạng internet đối với giới trẻ: Cái nhìn từ phía khoa học thần kinh” cho thấy, nghiện Internet đã trở thành một mối lo thực sự, và còn được so sánh với các rối loạn gây nghiện khác. Sự thay đổi trong cấu trúc và các chất hoá học trong não do sử dụng Internet quá nhiều gây ra một mối lo ngại với các nhà nghiên cứu và giáo dục học đối với sự phát triển của những người trẻ. Bài nghiên cứu này thảo luận những ảnh hưởng của mạng Internet 17 với thanh thiếu niên bằng cách phân tích ba khía cạnh cụ thể, bao gồm (1) việc tìm kiếm trên Internet, (2) chơi trò chơi điện tử, và (3) liên kết mạng xã hội.
Dựa trên các bằng chứng của khoa học thần kinh, nghiên cứu này đi đến kết luận rằng mạng Internet chắc chắn là một công cụ hữu hiệu cho những người trẻ, với điều kiện nó được sử dụng một cách hợp lý dưới sự hướng dẫn sát sao của các nhà giáo dục. Nguyễn Thị Minh Ngọc và cộng sự [40] đã thực hiện nghiên cứu cắt ngang nhằm mô tả thực trạng và một số yếu tố liên quan đến nghiện Internet của sinh viên y đa khoa trường Đại học Y Dược Hải Phòng năm 2019. Thông tin phỏng vấn 460 sinh viên theo bộ câu hỏi tự điền về việc sử dụng Internet; tình trạng nghiện Internet được đánh giá dựa trên bộ công cụ IAT-Internet Addicted Test. Số liệu được nhập bằng Excel 2016 và phân tích bằng SPSS 20.
Kết quả cho thấy 100% sinh viên sử dụng Internet; 38,5% sinh viên nghiện Internet. Tỉ lệ sinh viên nghiện Internet giảm dần từ năm 1 (55,9%) đến năm 4 (21,7%), sau đó lại tăng mạnh vào năm 5 (74,1%) và thấp nhất ở sinh viên năm 6 (11,4%). Sinh viên truy cập Internet tại nhà có tỉ lệ nghiện Internet cao nhất (66,1%). Nghiên cứu đã phát hiện một số yếu tố làm tăng nguy cơ nghiện Internet có ý nghĩa thống kê ở sinh viên y đa khoa gồm yếu tố cá nhân (giới tính nam, mục đích tham gia mạng xã hội/giải trí, truy cập bằng thiết bị di động với OR lần lượt tương ứng 1,66; 1,75 và 2,88 ), yếu tố gia đình, bạn bè (không nhận được sự nhắc nhở của người thân/bạn bè, có bạn bè quen qua mạng, sống một mình ( với OR lần lượt là 1,47; 2,16 và 2,56); yếu tố nhà trường (áp lực học tập bình thường, không tham gia câu lạc bộ/hoạt động ngoại khóa, chưa đi trực/trực ≤ 4 buổi/tháng (với OR lần lượt là 1,58; 1,71 và 3,92).
Nghiện Internet là hiện tượng tương đối phổ biến ở sinh viên y khoa cần được quan tâm. Cuối năm 2020, Với mong muốn tạo ra một diễn đàn để trao đổi chia sẻ kinh nghiệm công tác phòng chống và hỗ trợ cai nghiện internet, Phân hiệu Học Viện Phụ nữ Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề “Nghiện internet ở Thanh thiếu niên Việt Nam – Thực trạng và giải pháp”, mục tiêu của hội thảo là phác họa bức tranh chung về nghiện internet ở thanh thiếu niên Việt Nam hiện nay, tìm hiểu nguồn gốc thực trạng những hậu quả của nó đối với gia đình nhà trường và xã hội, thảo luận về những vấn đề biểu hiện tâm lý lâm sàng của nghiện internet, công cụ 18 chẩn đoán và biện pháp điều trị. Đồng thời thảo luận vai trò của truyền thông, nhà trường, xã hội…trong việc phòng chống nghiện internet. Từ đó tìm ra các biện pháp hiệu quả để phòng ngừa và điều trị nghiện internet ở Thanh thiếu niên Việt Nam hiện nay [118].
Chủ đề Internet cũng được các học viên cao học quan tâm chọn làm luận văn tốt nghiệp. Có thể kể ra một vài luận văn Xã hội học, Tâm lý học, như: Luận văn thạc sỹ xã hội học của Nguyễn Thị Phương Thảo [44] với đề tài “Tác động của Game online đối với việc học tập và nâng cao kiến thức của học sinh đô thị hiện nay” đã mô tả được chân dung của những người chơi game online trong độ tuổi đi học. Đồng thời phân tích những nguyên nhân tác động tới việc lựa chọn và thực hiện hành vi chơi game của học sinh tại thành phố Ninh Bình trên các khía cạnh: thâm niên chơi, mức độ chơi, thời gian chơi, thời điểm chơi, chi phí phải trả. Từ đó chỉ ra những tác động tích cực và tiêu cực của game online đối với vấn đề học tập và nâng cao kiến thức của học sinh trên địa bàn thành phố Ninh Bình cũng như một số vấn đề liên quan đến thời gian, tiền bạc, sức khỏe, tâm sinh lý, những sinh hoạt thường ngày.không chỉ đối với những học sinh này mà còn với gia đình họ.
Tập trung vào chủ đề bắt nạt trực tuyến ở Việt Nam đối với học sinh và những ảnh hưởng của nó, về xây dựng thang đo bắt nạt trực tuyến cho đối tượng học sinh phổ thông, chiến lược thích ứng của học sinh đối với bắt nạt trực tuyến, hậu quả của bắt nạt trực tuyến đối với học sinh trung học phổ thông, vai trò của cha mẹ đối với vấn đề này… có các nghiên cứu của Trần Văn Công và cộng sự [4], Nguyễn Phương Hồng Ngọc và Trần Văn Công [8; 39], Nguyễn Thị Thắm, Trần Văn Công [5], Trần Văn Công, Trần Thị Mai Phương, Nguyễn Thị Thu Hằng, Nguyễn Quỳnh Chi, Trần Ngọc Thúy Anh [7], Trần Văn Công, Nguyễn Phương Hồng Ngọc, Bahr Weiss [6], Trần Văn Công và Nguyễn Thị Hoài Phương [7], Trần Văn Công và Lê Thị Hồng Sơn [9], Trần Văn Công và Nguyễn Quỳnh Chi [10]. Trong đó, kết quả nghiên cứu của Nguyễn Phương Hồng Ngọc, Trần Văn Công [39] về mối quan hệ giữa chứng sợ thiếu điện thoại ở học sinh trung học phổ thông và sự gắn kết trong gia đình được thực hiện trên 365 học sinh trung học phổ thông cho thấy 90,6% số 19 học sinh sợ thiếu điện thoại ở các mức độ khác nhau. Kết quả nghiên cứu trên nhóm mẫu này cũng chỉ ra rằng không có tương quan giữa mức độ sợ thiếu điện thoại với mức độ giao tiếp và tính gắn kết giữa cha mẹ - con cái. Tuy nhiên có tương quan nghịch với mức độ thấp giữa số lần học sinh xem điện thoại mỗi ngày với mức độ giao tiếp giữa cha mẹ và con cái.
Nhóm nghiên cứu về tác động của Internet, khoa học công nghệ đến gia đình Việt Nam hiện nay gồm các nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thị Hồng Hạnh [21], Phạm Thị Thùy Linh [34], Đặng Văn Luận [33], Hoàng Bá Thịnh và Đoàn Thị Thanh Huyền [45]. Gia đình là một trong những thiết chế cơ bản của xã hội, khoa học công nghệ có tác động khá toàn diện đến các chiều cạnh sống của quá trình hình thành và phát triển gia đình [45]. Mạng Internet đã mang lại lợi ích to lớn cho nhiều người, nhưng đồng thời cũng là mối lo ngại do chính những tác động nguy hại của nó, đặc biệt là đối với trẻ vị thành niên [34]. Gia đình được mang đến những tác động tích cực từ Internet như: thông tin giáo dục, kiến thức kỹ thuật, tình hình thế giới, liên kết bạn bè.
nhưng cũng phải gánh chịu những hiểm hoạ từ kênh giao tiếp rất thuận lợi này. Những tiện ích công nghệ hiện đại (như điện thoại di động, Internet với các ứng dụng Skype, Facebook, Twitter, Email,) đem đến những cách thức giao tiếp tiện lợi, có thể sử dụng mọi lúc, mọi nơi; tạo điều kiện cho các thành viên trong gia đình, đặc biệt cho cha mẹ và con cái, xóa bỏ khoảng cách và kết nối với nhau [33]. Nhờ có các thiết bị công nghệ, cha mẹ tiết kiệm được quỹ thời gian, có thể giám sát được các hoạt động của con, đa dạng hóa các hình thức giải trí, và quan trọng nhất là cầu nối liên lạc giúp duy trì tình cảm giữa bố mẹ và con cái khi xa nhà. Điểm tích cực của việc sử dụng các thiết bị công nghệ đó chính là tăng cường, thắt chặt mối liên hệ giữa cha mẹ - con cái, giữa cha mẹ - nhà trường - bạn bè của con, qua đó cũng chính là để bổ trợ cho việc nuôi dạy, định hướng con cái.
Ngoài ra, thiết bị công nghệ còn là trợ thủ đắc lực cho các bậc phụ huynh tìm kiếm thông tin, chương trình học tập cho con; là công cụ kiểm soát các hoạt động của con và cũng là phương tiện giải trí hữu hiệu được ưa chuộng. Tuy nhiên, không thể phủ nhận những ảnh hưởng tiêu cực của các thiết bị công nghệ đến quan hệ cha mẹ - con cái. Trước hết, việc con cái sử dụng các thiết bị 20 công nghệ vượt quá quy định cho phép của bố mẹ sẽ dẫn tới sự lo lắng cũng như những hình phạt mà bố mẹ có thể áp dụng để giải quyết tình hình. Ngoài ra, giữa thời đại công nghệ như hiện nay, những mối lo như cha mẹ lạm dụng thiết bị công nghệ và không dành thời gian cho con cái cũng dẫn tới mối quan hệ cha mẹ - con cái bị lỏng lẻo và xa rời [21].
Bên cạnh đó, công nghệ cũng đã và đang có những ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ vợ chồng.9% các cuộc ly hôn do ngoại tình nhưng có tới 27,7% các cuộc ly hôn do mâu thuẫn về lối sống. Tương tự như vậy, chỉ có 10,4% các cặp vợ chồng không hài lòng về cuộc hôn nhân của mình vì lý do chồng hoặc vợ ngoại tình nhưng cũng có tới 8,5 % là do không hoà hợp về sinh lý và tới 45,3% là do những bất hoà trong ứng xử [24]. Trên thực tế, những tiện ích của công nghệ hiện đại cũng đang dần khiến khoảng cách của các mối quan hệ trở nên xa cách nhau hơn [33].