mở đầu cho nhân cách con người. Ong cha ta xưa rất mực để cao chữ hiếu. Diéu này được thể hiện rõ nhất trong những câu ca dao, tục ngữ và các bài gia huấn. “Vi ai nay mới có minh? Mẹ cha sinh dưỡng công trình xiết bao.
Ơn này sánh với trời cao, Trong lòng ta dám lúc nào lãng quên. Dạy sao cho được con hiển, Để cho cha mẹ khỏi phiền đến ta. Một niềm phép tắc nết na, La tròn chữ hiếu mới là đạo con.” 10 Công cha nghĩa mẹ sẽ cứ ngày một cao đẩy hơn, phận làm con không bao giờ trả hết. *Biển đông còn lúc đây vơi, Chớ lòng cha mẹ suốt đời trào dang.” Người dân Việt phan lớn là làm nông nghiệp, dù tối ngày “bán mặt cho đất, bán lung cho trời” nhưng chữ hiếu đối với họ tuyệt đối được coi trọng, coi việc phụng thờ cha mẹ là một việc làm phúc đức nhất, hơn cả việc xuất gia tu hành: “Tu đâu cho bằng tu nha, Thờ cha kính me, ấy la chân tu.” Tự thâm tâm.
mỗi người cũng luôn cầu mong cho cha mẹ sống lâu để phụng dưỡng báo đáp công ơn: * Mỗi đêm mỗi thắp đèn trời, Cầu cho cha mẹ sống đời với con. ” Cha mẹ mất sớm không được phụng dưỡng là nỗi bất hạnh: "Cay muốn lặng mà gió chẳng ngừng Con muốn nuôi mà cha mẹ chẳng con." Trong dòng lịch sử hơn bốn ngàn năm, qua lòng hiếu thảo của người Việt Nam đã biểu hiện một nhân sinh quan vừa thấm nhuần tinh thần đạo lý của dân tộc, vừa chất lọc những nét tinh tuý từ các tôn giáo mang tinh thế giới đã tuần tự du nhập vào nước ta như Phật giáo, Nho giáo, Thiên Chúa giáo Quan niệm đẩy đủ và ngắn gọn về chữ hiếu của Nho giáo trong sách Hiếu kinh của Khổng Tử. “Niệm chữ hiếu cho tròn một tiết Thật suy ra trăm nết đều nên. " H "Hiéu” là phẩm hạnh đứng đầu trong hệ thống đạo đức của Nho giáo, là điểm xuất phát để từ đó đến trung với vua, và cách ứng xử với mọi người "(39;tr.
Hiếu được bat đầu bằng việc phụng dưỡng cha mẹ: “Hiếu thủy ư sự than"; rỗi sống với cha mẹ phải hết mực cung kính: “cư ắc chí kỳ kính”; khi nuôi cha mẹ phải vui vẻ thành tâm: “®đưỡng tắc chí kỳ lac”; khi cha mẹ đau yếu phải lo lắng chăm nom: “bệnh tắc chí kỳ wu"; khi cha me qua đời thì phải ưu phiền, sâu não: “tang tắc chí kỳ ai”; và khi cúng tế phải nhất mực nghiêm cẩn: “1é rắc chí kỳ nghiêm"(35;tr. Biết ơn rồi cung kính phụng dưỡng cha mẹ trọn đời, cả khi cha mẹ còn sống cũng như khi đã qua đời và ra tay làm việc đạo nghĩa nêu tên tuổi cho hậu thế. Đó cũng chính là những quan niệm về chữ hiếu của thay trò Khổng Tử. Tất nhiên, hiếu là biết yêu thương cha mẹ, biết đi thưa về trình, biết sớm hỏi chiéu thăm, biết lập gia thất, có con nối dõi tông đường, tránh được tội vô hậu.Nhưng theo Khổng Tử, như thế chưa đủ, còn phải có cái gì khác cần hơn, cao quí hơn đó là cái tâm, là lòng thành.
Phê phán quan niệm đương thời cho rằng chỉ cần nuôi cha mẹ là đủ, Khổng Tử có lời sau:" Ngày nay nói người có hiếu là nói người biết nuôi nấng. Đến như con chó, con ngựa cũng đều có nuôi nấng cả. Không có lòng tôn kính thì có gì phân biệt (Kim chỉ hiếu giả vị chỉ năng dưỡng, chí u khuyển mã giai năng hữu dưỡng, bất kính hà di biệt hd){24]. Có thể Khổng Tử hơi quá khi so sánh như thế, nhưng chắc chấn ông chỉ muốn một điều là nhấn mạnh đến cái tâm, lòng thành, lòng cung kính phải có của con cái đối với cha mẹ khi nuôi đưỡng.
Bên cạnh những ảnh hưởng sâu đậm của Nho giáo, xã hội, gia đình Việt Nam còn thấm đẫm tư tưởng của Phật giáo, một đạo đức tâm linh đã có một thời trở thành quốc giáo. 12 Theo lời Phật dạy, việc báo hiếu được chia làm hai hình thức: “vật chat” và “tinh than”. Thấy được công ơn thâm sâu của cha mẹ, con cái phải hết lòng cung kính phụng dưỡng, làm cha cha mẹ vui mừng, hạnh phúc, vinh hiển. Nhưng mục đích của đạo Phật là giải thoát con người khỏi những nỗi khổ đau của cuộc đời: Sanh, Lão, Bệnh, Tử.
Nên ngoài việc báo hiếu cha mẹ mang tính "vật chất", người con có hiếu phải biết làm sao để cha mẹ được giải thoát, ra khỏi vòng luân hồi thì mới trọn đạo hiếu, mới thiết thực báo ân cha mẹ. Để làm tròn đạo hiếu, người con cũng phải biết sống sao để mang lại lợi ích cho cha mẹ tức là phải tu thân, sống cho chân chính. Nghĩa của chữ hiếu không còn bó hẹp trong phạm vi gia đình, gia tộc nhưng là mở rộng cùng khấp muôn loài, muôn vật trong đại gia đình chúng sinh [4 I ;tr.49-50] Vì thấm nhuần tỉnh than đạo Phật, nên cha ông ta không ngại gì khi nói: *Thứ nhất là tu tại gia Thứ hai tu chợ, thứ ba tu chùa ". Như thế theo đạo Phật, tu thân để báo hiếu cha mẹ không có nghĩa là từ bỏ gia đình rồi đến sống ẩn dật trong chùa, nhưng điểu cẩn là phải mong đáp ơn cha mẹ, và phải biết cách báo đáp ati chân chính, thiết thực, có lợi cho cha mẹ.
Những câu ca dao như: “Tu đâu cho bằng tu nhà Thờ cha kính me ấy là chân tu.” Hay: “Lay cha ba lay một qui Lay me bốn lay con di lấy chồng. " 13 *Con về lập miếu thờ vua Đóng trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha. ” Công cha nghĩa mẹ bao la rộng lớn như vậy nên người con chí hiếu phải làm sao để có thể dén đáp ơn ấy cách trọn vẹn nhất. Theo đức Phật, cách báo hiếu tốt nhất và trọn vẹn nhất là độ thoát cha mẹ khỏi vòng sống chết luân hồi, giúp cha mẹ hưởng an vui theo lẻ thiện, an vui ngoài vòng vô minh đau khổ, thoát khỏi những nỗi đau khổ căn bản của cuộc đời: Sanh, Lão, Bệnh, Tử.
Tóm lại, đạo Phật rất chú trọng tới sự báo hiếu cho cha mẹ khi còn sống cũng như khi đã qua đời, lúc nào người con có hiếu cũng phải chú tâm sao cho cha mẹ được an vui, hạnh phúc. So với Phật giáo và Nho giáo, Thiên Chúa Giáo mới du nhập vào Việt Nam khoảng thế kỷ thứ 16, nghĩa là trên dưới 400 năm. Mặc dầu đến sau, nhưng Thiên Chúa Giáo cũng là một trong những tôn giáo có ảnh hưởng rất sâu đậm đến đời sống tỉnh thần của người Việt Nam, nhất là vấn để đạo hiếu. Lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ không chỉ được khắc ghi trong diéu ran thứ tư “Hãy thảo kính cha me” mà còn được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong Thánh kinh.
"Hởi con, hãy săn sóc cha con khi người đến tuổi già: lúc sinh thời, chớ làm người buồn tải, trí khôn người có suy giảm: con hãy vì lễ, đừng nhục mạ người lúc còn sung sức "{59;tr. Kinh Thánh còn dạy người ta phải quan tâm đến cha mẹ trong mọi hành vi, cử chỉ, con cái phải luôn cân nhắc, để không làm tổn thudng đến cha mẹ. Lòng hiếu thảo ấy được Thiên Chúa ghi nhận và có thể đến bù vào những lỗi lầm mà con cái đã phạm lỗi với cha mẹ. Người Thiên Chúa Giáo luôn tâm niệm rằng:nếu lòng hiếu thảo được Thiên Chúa ghi nhận thì sự không quan tâm đến Cha Mẹ, không những không 14 được Thiên chúa bỏ qua mà còn bị khiển trách nặng nề.
“Như người lộng ngôn kẻ bỏ bê cha, kẻ khinh dé mẹ là chọc giận Đấng tạo thành ra nó "{59;tưr. Theo quan niệm của Thiên Chúa Giáo, kẻ lộng ngôn là kẻ xúc phạm đến danh Thiên Chúa. Vì vậy, những ai ruồng rẫy cha mẹ thì không chỉ đắc tội với cha mẹ mà còn xúc phạm đến Trời. Người Thiên Chúa Giáo Việt Nam trước hết họ là người Việt Nam, mang tâm tư nguyện vọng dan tộc mình.
Do đó họ cũng rất coi trọng chữ Hiếu đối với ông bà và cha mẹ, khi còn sống cũng như khi qua đời. Tóm lại, bất kỳ một tôn giáo nào dù là Nho giáo, Phật giáo hay Thiên chúa giáo thì việc thảo kính cha mẹ, cũng được xem là một trong những phẩm chất tốt đẹp nhất của con người, là đạo lý tốt đẹp của nhân loại, là tình cảm cao quý nhân bản và là một trong những phẩm chất mà đạo làm con phải tuân giữ. Từ điển Tiếng Việt- Văn Tân - Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội - Hà Nội 1977 đã định nghĩa: “Hiếu thảo là có lòng kính yêu cha mẹ ".378] Văn học dân gian đã tóm tất ý nghĩa của hiếu thảo: “Là lòng kính yêu cha mẹ". Hiếu trước hết là kính yêu cha mẹ.
Sau nữa, hiếu phải đi đôi với thảo. Ngôn ngữ Việt Nam thường đặt từ “Dao” trước từ “Hiếu”- Đạo Hiếu tạo ra một từ, phép, khẳng định tâm thức hiếu thảo là một đường lối chỉ đạo sinh hoạt, một nghĩa vụ cao trọng, một quyết lệnh đạo đức thiêng liêng. Tác giả Đỗ Quang Vinh nhấn mạnh hiếu đối với cha mẹ không phải chỉ là một nghĩa vụ mà còn là một đạo lý. “Nghia vu" thì có tính cách tiêu cực mà bổn phận bắt buộc phải chu toàn, xét theo lẽ công bằng, kẻ thụ ân phải trả nợ ân nhân (obligation, duty indicating what action ought to be taken}.
Còn “Dao” 1S thì có tích cách tích cực, đó là đạo lý thuộc về lương tâm, phân biệt phải trái "{51;ir.10] Tiến sĩ Đặng Cảnh Khanh nhận định “Hiếu thảo đối với cha mẹ đã là một chuẩn mực có từ lâu trong xã hội. Thậm chi, theo nhiều nhà khoa học, nó bắt nguồn từ chính gốc gác mang tính sinh vật học của con người "(61 ;tr.23] * Tóm lại, có rất nhiều quan niệm về hiếu. Đối với mỗi thời đại, mỗi giai đoạn lứa tuổi, nội dung yêu cầu của lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ déu nhấn mạnh ở mỗi khía cạnh khác nhau, song tất cả các tác giả đều gặp nhau ở một số điểm chung sau đây: + Hiếu thảo là một tình cảm tự nhiên của con người xuất phát từ ý thức ân sâu của cha mẹ đã sinh thành dưỡng dục con cái thành người + Hiếu thảo là một điểm son của văn hóa Việt Nam, gắn liền với bản chất của con người Việt Nam. Hòa Thượng Thích Minh Châu viết: *.