CHƯƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử phát triển và cấu tạo chung của ôtô 1. Lịch sử phát triển của ôtô A. Khái quát lịch sử phát triển của ôtô trên thế giới Chiếc ôtô chạy bằng động cơ xăng đầu tiên trên thế giới được chế tạo bởi Carl Benz, một kỹ sư người Đức và là người tiên phong trong ngành ôtô, vào năm 1885 tại Đức.
Không lâu sau đó, năm 1889 tại Stuttgart, Gottlieb Daimler và Wilhelm Maybach thiết kế một chiếc ôtô từ một chiếc xe thô sơ, tựa như một chiếc xe ngựa kéo được gắn động cơ. Từ năm 1892 một người Ý thuộc trường đại học Padua, Enrico Bernardi, đã xin bằng sáng chế cho một động cơ một xy lanh chạy bằng xăng, công suất 0,024 mã lực 122 cc. Động cơ này được Ông gắn vào chiếc xe ba bánh và biến nó trở thành sản phẩm ứng cử cho chiếc ôtô đầu tiên và chiếc môtô đầu tiên trên thế giới. [1] Năm 1892, Bernardi mở rộng chiếc xe ba bánh để có thể chở được hai người.
Lịch sử ngành công nghiệp ôtô gắn liền với sự sản xuất và tiêu thụ hàng loạt. [1] Năm 1928, mẫu Model T đã được cải tiến có thùng hàng chuyên chở phía sau. Phiên bản chiếc xe bán tải đã ra đời và thương hiệu Ford đã bán được hơn 160.000 chiếc một doanh thu khủng khiếp mở ra một phân khúc mới của thị trường xe ôtô. Năm 1946, đối thủ của Ford là thương hiệu Dodge cũng đã tung ra thị trường loại xe ôtô hấp dẫn, với cái tên là Power Wagon.
Loại xe này được sử dụng chủ yếu cho quân đội, xe có khả năng chuyên chở được 1 tấn hàng. Ford và Chevrolet cũng đã sản xuất ra thị trường một sản phẩm mới vào năm 1961, tuy nhiên về dòng Chevrolet Corvair là một sản phẩm được đánh giá có khả năng chuyên chở đến 5 tấn hàng. Điều đáng lưu ý, cả 2 dòng đều có mẫu mã là đầu 2 dạng phẳng, có 6 xi lanh và có tùy chọn hộp số tự động cũng như về tiện nghi cũng được đánh giá tốt vào thời điểm này. [1] Vào năm 1980 thì Ford Ranchero cũng xuất hiện thu hút mới và bán được 30.000 chiếc có dung tích xăng lớn.
Rồi những dòng xe Nhật xuất hiện và mang tới các mẫu bán tải mà khởi đầu là Nissan Datsun 1000, chiếc xe này chỉ sử dụng động cơ 1 lít công suất 37 mã lực, Nissan Datsun chỉ bán được 10 chiếc. Sau đó, Datsun được nâng và Toyota cũng đưa dòng xe bán tải Stout ra thị trường mới có chút thành công tại Mỹ. Hyundai thâm nhập vào thị trường Mỹ vào năm 1986 bằng việc tung ra dòng xe Excel hạng nhỏ, dòng xe này đã được hơn 100.000 chiếc xe trong bảy tháng đầu tiên kể từ ra mắt. Đầu thế kỷ 20, mô hình Ford trở thành hình mẫu cho nền kinh tế hiện đại: phân chia công việc, sự tiêu chuẩn hóa và nâng cao sức mua của công nhân, nhằm thúc đẩy tiêu dùng và tăng nhu cầu.
Cho đến ngày nay, nền công nghiệp ôtô ở mỗi nước có một lịch sử hình thành và phát triển riêng với những mức độ tầm cấp khác nhau. Lịch sử phát triển của ôtô Tại Việt Nam Từ năm 1958 đến năm 1991 Ngày 21/12/1958 chiếc ôtô đầu tiên do người Việt Nam thiết kế và chế tạo có tên là Chiến Thắng đã xuất hiện lần đầu tiên tại miền Bắc. Cùng năm 1958, nhà máy Chiến Thắng (Hà Nội) đã cho ra đời chiếc ôtô 4 chỗ ngồi do người Việt Nam tự chế tạo, lấy mẫu từ chiếc Fregate chạy bằng xăng của Pháp. Đây có thể coi là sự bắt đầu của ngành công nghiệp ôtô Việt Nam.
Những năm giữa thập niên 60 hãng xe của pháp Citroen đã thiết lập xưởng sản xuất đầu tiên ở Đông Dương và đặt trụ sở tại góc đường Lê Thánh Tông – Nguyễn Huệ (Sài Gòn). Về sau được lấy tên là “Sài Gòn Xe Hơi Công Ty”. [2] Năm 1969, các kỹ sư Citroen ở Sài Gòn sản xuất chiếc xe La Dalat được cải tiến từ chiếc xe Citroen Mehari thực hiện tại Việt Nam, chính thức tung ra thị trường vào năm 1970. Theo thống kê ước tính từ năm 1970 đến 1975, công ty xe 3 hơi Sài Gòn sản xuất hơn 5000 chiếc xe La Dalat, tức là trung bình hơn 1000 chiếc mỗi năm, tỉ lệ nội địa hóa tăng từ 25% đến 40% vào năm 1980.
Tiền thân là gốc Pháp nhưng La Dalat đã để lại ấn tượng không hề nhỏ khi mang tên Việt Nam. [2] Từ năm 1991 đến 2018 Liên doanh lắp ráp ôtô đầu tiên – Mekong Auto : Năm 1991 Mekong Auto ra đời, công ty với sự hợp tác liên doanh giữa 3 nước: Hàn Quốc, Việt Nam và Nhật Bản. Với sự hỗ trợ từ công nghệ và kỹ thuật từ hai đối tác Hàn Quốc và Nhật Bản thì năm 1992 Mekong Auto đã cho ra đời mẫu xe hai cầu đầu tiên. Mẫu xe này mang nhãn hiệu Mekong Star, với động cơ được sản suất tại nhà máy Cửu Long đặt ở thành phố Hồ Chí Minh do công ty Ssangyong (Hàn Quốc) cung cấp.
Tính đến năm 1997, sau 6 năm thì Mekong Auto đã bán ra khoảng hơn 30. Tuy nhiên đến năm đó Mekong Auto bỏ xe mang thương hiệu Mekong để chuyển sang lắp ráp kiểu xe mới Musso, vì nguồn cung cấp linh kiện là Ssangyong Motor không còn sản xuất mẫu xe đó nữa, từ đó tên tuổi của Mekong mờ nhạt dần trên thị trường. [2] Năm 2004 hai công ty là: Ôtô Trường Hải và Ôtô Xuân Kiên (Vinaxuki) cùng được cấp phép sản xuất, lắp ráp ôtô tại Việt Nam, giai đoạn đầu cả hai công ty đều liên doanh lắp ráp các sản phẩm ôtô thương mại như xe tải của các thương hiệu lớn nước ngoài. Đến những năm 2012, sau nhiều năm hoạt động không thành công, Vinaxuki gặp nhiều khó khăn và phải đóng cửa công ty.
[2] Từ năm 2018 đến nay Nền công nghiệp sản xuất ôtô của Việt Nam Phát triển muộn hơn so với các nước trong khu vực đến 30 năm, vì vậy phải nó đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức trên con đường phát triển. Trải qua nhiều nỗ lực thực hiện các chiến lược phát triển, những doanh nghiệp tiên phong trong công cuộc xây dựng là VMC (Công ty ôtô Hòa Bình) hợp tác lắp ráp và phân phối xe cho các thương hiệu BMW, Mazda và Kia cùng với Mekong lắp ráp xe Fiat, Ssangyong. Tuy nhiên, sau quá trình đầu tư của các hãng xe tên tuổi như Toyota, Honda, Daihatsu, Ford 4 và Mercedes, các doanh nghiệp trong nước đã bị yếu thế, dù chính phủ đã có những chiến lược hỗ trợ rất rõ ràng và kiên quyết như thu thuế nhập khẩu xe nguyên chiếc rất cao, tạo điều kiện phát triển ngành công nghiệp phụ trợ, vật tư đầu vào… Cột mốc gia nhập ASEAN (năm 1995) là thời điểm cho thấy những thất bại của nền công nghiệp sản xuất ôtô Việt Nam rõ nét hơn, khi ngành công nghiệp sản xuất linh kiện nội địa vẫn chưa đủ sức thay thế sản phẩm nhập khẩu. Trong khi đó, các nhà sản xuất lại dần rút khỏi Việt Nam vì chính sách ưu đãi thuế suất dành cho xe nhập khẩu trong khu vực Đông Nam Á được ký kết.
Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn nhưng với sự quan tâm của chính phủ dành cho nền công nghiệp ôtô, chúng ta tin tưởng rằng công nghiệp sản xuất ôtô của Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển nhanh để sánh vai với các nước trong khu vực. [1] Vào năm 2018 ngành công nghiệp ôtô của nước ta đã sang một trang mới của sự phát triển. Chúng ta đã sản xuất được ôtô mang thương hiệu VinFast tại nhà máy chế tạo ôtô ở Hải Phòng, sự ra mắt rầm rộ của thương hiệu ôtô du lịch Việt Nam mang tên VinFast trở thành tâm điểm thu hút sự quan tâm của xã hội. Vận mệnh của ngành công nghiệp sản xuất ôtô Việt Nam đang được tiếp sức để tiến đến mục tiêu như kỳ vọng mà nhiều năm qua chưa đạt được.
Tuy nhiên, đã có được công nghệ sản xuất ô tô nhưng nền công nghiệp ô tô của chúng ta vẫn đang còn rất nhiều thách thức. 2018 là năm đánh dấu sự biến hóa mạnh mẽ của ngành công nghiệp sản xuất ôtô Việt Nam. Trong bối cảnh nguy cơ thị trường trong nước tràn ngập xe nhập khẩu của khu vực, bởi thuế suất nhập khẩu chỉ bằng 5% thì sự xuất hiện của Nghị định số 116/2017/NĐ-CP được ban hành vào ngày 17/10/2017 được xem như là một cú hích giờ chót đem về nhiều lợi thế cho dòng xe sản xuất, lắp ráp nội địa, khi có nhiều rào cản mới đối với xe nhập khẩu. Tiếp theo đó, Quyết định 589/QĐ-TTg được ban hành với nội dung phê duyệt Kế hoạch cơ cấu lại ngành công nghiệp giai đoạn 2018 - 2020 xét đến 2025 bao gồm: Khuyến khích các doanh nghiệp lớn đầu tư phát triển ngành công nghiệp ôtô, không phân biệt doanh 5 nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhằm phát triển ngành công nghiệp ôtô Việt Nam.
Từ những văn bản quyết sách này, chúng ta dễ dàng nhận thấy sự quyết liệt của chính phủ trong bối cảnh Việt Nam đang có nguy cơ cao trở thành nơi tiêu thụ cho các trung tâm sản xuất được đặt tại Thái Lan và Indonesia. [1] Những thành công từ Thái Lan và Malaysia chắc chắn đã có ảnh hưởng đến chiến lược phát triển ngành công nghiệp ôtô Việt Nam trong việc siết chặt với xe nhập khẩu cũng như sự nỗ lực ra mắt một thương hiệu ôtô Made in Vietnam như VinFast. Hiện tại, những doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ôtô nội địa như Công ty CP ôtôTrường Hải (THACO), Công ty CP Hyundai Thành Công cùng với các doanh nghiệp như Toyota, Ford, Honda, Mitsubishi đã đưa tổng năng lực sản xuất – lắp ráp ôtô nước ta vào khoảng 600 ngàn xe/năm bao gồm hầu hết các chủng loại xe con, xe tải và xe khách, trong đó một số chủng loại xe đã đạt được tỷ lệ nội địa tương đối cao như xe tải đến 7 tấn đạt 55%, xe khách từ 24 chỗ trở lên đạt từ 45 – 55%, đưa đến cơ hội Việt Nam đã có thể xuất khẩu sản phẩm ôtô sang các thị trường như Lào, Campuchia, Myanmar, Trung Mỹ…Sản lượng và tỷ lệ xe sản xuất lắp ráp trong nước kể từ năm 2016 đã vượt dự báo cho Chiến lược phát triển ngành ôtô dành cho năm 2020 và những năm tiếp theo. Vì vậy, một chiến lược mới phải được nhanh chóng hình thành để phù hợp với sự tăng trưởng nhanh của ngành ôtô Việt Nam và cuộc cách mạng công nghiệp 4.