Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Hoa lily (Lilium spp.) là một trong những loài hoa cắt cành cao cấp có giá trị thương mại lớn trên thị trường quốc tế và Việt Nam nhờ hình thái hoa sang trọng, màu sắc phong phú và độ bền cành cao. Là loại cây trồng ôn đới có nguồn gốc chủ yếu từ các chương trình lai tạo nhập nội (chủ yếu từ Hà Lan), hoa lily thường được canh tác trong vụ Đông tại các vùng sinh thái có điều kiện thời tiết mát mẻ như trung du và miền núi phía Bắc. Thành phố Thái Nguyên là trung tâm kinh tế, khoa học và giáo dục của vùng, sở hữu điều kiện đất đai và khí hậu thuận lợi để mở rộng sản xuất hoa thương phẩm chất lượng cao.
Trước đây, Thái Nguyên đã thử nghiệm một số giống hoa lily như Sorbonne, Siberia, Yelloween. Giống hoa lily Robina là giống mới được nhập nội và đưa vào khảo nghiệm sản xuất tại Việt Nam từ năm 2012 với các đặc tính nổi bật: thân cây cao phù hợp làm hoa cắt cành, hoa to, cánh dày màu hồng đậm, hương thơm nhẹ và độ bền hoa tốt. Tuy nhiên, việc sản xuất giống hoa này tại địa phương còn gặp nhiều khó khăn do củ giống có tập tính ngủ nghỉ sâu, mẫn cảm với điều kiện nhiệt độ và chế độ dinh dưỡng. Để nâng cao năng suất, chất lượng cành hoa và hiệu quả kinh tế, việc hoàn thiện các biện pháp kỹ thuật về xử lý nhiệt độ thấp cho củ giống trước khi trồng kết hợp bổ sung dinh dưỡng qua lá và chất kích thích sinh trưởng là yêu cầu cấp thiết từ thực tiễn sản xuất.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Xác định được thời gian xử lý lạnh thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của giống hoa lily Robina tại Thái Nguyên.
- Xác định được loại phân bón lá và chất điều tiết sinh trưởng thích hợp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng hoa lily Robina tại Thái Nguyên.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu ảnh hưởng của việc xử lý lạnh củ giống đến khả năng sinh trưởng, phát triển, các giai đoạn phát dục, đặc điểm hình thái, chất lượng hoa, mức độ nhiễm sâu bệnh hại chính và hiệu quả kinh tế của giống hoa lily Robina.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến động thái tăng trưởng chiều cao thân, khả năng ra lá, thời gian các giai đoạn phát triển, năng suất, độ bền hoa và tình hình sâu bệnh hại của giống hoa lily Robina tại Thái Nguyên.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Củ giống hoa lily Robina nhập khẩu từ Hà Lan (chu vi củ 20 – 22 cm); các loại phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng: Atonik (hợp chất nitro thơm 18 g/l), GA3 (Gibberellin nồng độ 100 ppm), phân bón lá NPK Trung Quốc (thành phần Urea-N: 24,26%, P2O5: 10%, K2O: 10%, NO3: 3,32%, NH4: 2,42% cùng các nguyên tố vi lượng Cu, Fe, Mn, Mo, Mg, Zn, B, Co), phân bón lá Đầu Trâu 007 (thành phần 15% N, 30% P2O5, 15% K2O, Ca, Mg, Zn, Fe, Cu, Mn, B, bổ sung GA3 50 ppm, NAA 50 ppm).
- Phạm vi nghiên cứu:
- Địa điểm: Thí nghiệm đồng ruộng bố trí trong nhà có mái che tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- Thời gian: Vụ Đông Xuân 2014 – 2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và cơ sở khoa học
- Cơ sở khoa học của xử lý lạnh (Vernalization): Củ giống hoa lily có đặc tính ngủ nghỉ tự nhiên sau thu hoạch. Nhiệt độ thấp là yếu tố tiên quyết kích thích quá trình giải phóng trạng thái ngủ nghỉ, thúc đẩy sự phân hóa mầm hoa nguyên thủy tại đỉnh sinh trưởng (thường diễn ra sau 10 – 14 ngày sau trồng khi củ đã qua xử lý nhiệt độ mát) và đồng đều hóa thời gian bật mầm.
- Cơ sở sinh học dinh dưỡng qua lá: Lá cây có khả năng hấp thu trực tiếp các ion khoáng hòa tan qua khí khổng và lớp cutin. Dinh dưỡng qua lá giúp cây hấp thu nhanh (hiệu suất đạt tới 90% so với 40 – 50% khi bón qua đất), tránh sự cố định dinh dưỡng, hiện tượng đối kháng ion giữa K+ và Mg2+ trong đất, đồng thời bù đắp lượng đạm và vi lượng bị rửa trôi trên nền đất dốc vùng đồi núi.
- Cơ sở điều hòa sinh trưởng thực vật: Sự phát sinh hình thái và sinh trưởng của cây chịu sự chi phối bởi tương quan cân bằng giữa các nhóm phytohormon. Việc bổ sung ngoại sinh Auxin, Cytokinin, Gibberellin (GA3) và chất kích hoạt tế bào (Atonik) tác động trực tiếp đến sự phân chia, dãn dài tế bào thân, kéo dài cành hoa và tăng cường sức đề kháng với điều kiện bất thuận.
- Phân loại học và yêu cầu sinh thái: Chi Lilium thuộc họ Hành tỏi (Liliaceae). Theo phân loại của Hội hoa lily quốc tế (1982), lily gồm 8 nhóm lai chính. Lily là cây ưa sáng trung bình, sinh trưởng tốt ở nhiệt độ ban ngày 20 – 25°C, ban đêm 12°C, độ ẩm không khí 80 – 85%, đất tơi xốp giàu mùn với pH thích hợp từ 5,5 – 6,5 (đối với nhóm lai phương Đông).
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp thực nghiệm nông học so sánh trên đồng ruộng:
- Bố trí thí nghiệm 1 (Xử lý lạnh củ giống): Bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) gồm 7 công thức, 3 lần nhắc lại. Mỗi ô thí nghiệm nhắc lại 30 củ (tổng số 630 củ), mật độ trồng 20 củ/m2, chu vi củ 20 – 22 cm, bắt đầu xử lý ngày 18/9/2014 (âm lịch):
- CT1: Không xử lý lạnh (Đối chứng - Đ/c).
- CT2: Không xử lý lạnh, để củ trong điều kiện bình thường 5 ngày.
- CT3: Không xử lý lạnh, để củ trong điều kiện bình thường 10 ngày.
- CT4: Không xử lý lạnh, để củ trong điều kiện bình thường 15 ngày.
- CT5: Xử lý lạnh ở 15°C trong 5 ngày.
- CT6: Xử lý lạnh ở 15°C trong 10 ngày.
- CT7: Xử lý lạnh ở 15°C trong 15 ngày.
- Bố trí thí nghiệm 2 (Phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng): Bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) gồm 9 công thức, 3 lần nhắc lại. Mỗi ô thí nghiệm nhắc lại 30 củ (tổng số 810 củ), chu vi củ 20 – 22 cm, trồng ngày 08/10/2014 (âm lịch):
- CT1: Không phun (Đối chứng).
- CT2: Phun phân bón lá NPK Trung Quốc.
- CT3: Phun phân bón lá Đầu Trâu 007.
- CT4: Phun chế phẩm Atonik.
- CT5: Phun GA3 nồng độ 100 ppm.
- CT6: Phun NPK Trung Quốc + Atonik.
- CT7: Phun Đầu Trâu 007 + Atonik.
- CT8: Phun NPK Trung Quốc + GA3 100 ppm.
- CT9: Phun Đầu Trâu 007 + GA3 100 ppm.
(Phun bắt đầu từ 20 ngày sau trồng, định kỳ 10 ngày phun 1 lần theo nồng độ khuyến cáo).
Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
- Chỉ tiêu theo dõi: Định cây theo dõi cố định (5 cây/lần nhắc, chu kỳ 10 ngày/lần). Theo dõi tỷ lệ mọc mầm (sau 3, 6, 9, 12 ngày), động thái tăng trưởng chiều cao cây, động thái ra lá, kích thước lá (dài, rộng), đường kính thân (đo bằng thước palme cách gốc 20 cm), thời gian các pha phát dục (ra nụ, nụ chuyển màu, hoa nở hoàn toàn ở các mức 10%, 50%, 80%), năng suất chất lượng hoa (số nụ/cây, đường kính nụ, chiều dài nụ, số hoa/cây, đường kính hoa, tỷ lệ hoa nở hữu hiệu, năng suất thực thu), độ bền hoa tự nhiên trên vườn và độ bền hoa cắt cắm lọ, tỷ lệ và chỉ số bệnh hại (cháy lá, thui nụ, rệp hại).
- Hạch toán kinh tế: Tính toán tổng chi phí đầu vào, tổng thu nhập và lợi nhuận thuần trên quy mô 100 m2.
- Xử lý thống kê sinh học: Phân tích phương sai (ANOVA), tính sai khác có ý nghĩa nhỏ nhất ($LSD_{0.05}$) và hệ số biến động ($CV%$) bằng phần mềm chuyên dụng IRRISTAT và Microsoft Excel.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày vị trí kinh tế - thẩm mỹ của hoa lily trên thị trường hoa cắt cành, phân tích tiềm năng và lợi thế phát triển nghề trồng hoa tại tỉnh Thái Nguyên. Xác định tính cấp thiết của việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật (nhiệt độ xử lý củ giống, phân bón qua lá, chất kích thích sinh trưởng) đối với giống nhập nội mới Robina nhằm nâng cao năng suất, phẩm cấp thương phẩm, xác lập mục tiêu, yêu cầu và ý nghĩa học thuật - thực tiễn của đề tài.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương này tổng hợp hệ thống cơ sở lý luận và các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến cây hoa lily:
- Cơ sở khoa học về tác động của nhiệt độ thấp đối với việc phá ngủ củ giống và phân hóa mầm hoa; cơ chế hấp thu dinh dưỡng khoáng qua bề mặt lá; cơ chế tác động của các chất kích thích sinh trưởng (Auxin, GA3, Cytokinin, Atonik).
- Nguồn gốc phát sinh, hệ thống phân loại hoa lily theo nguồn gốc (8 nhóm lai của Hội hoa lily quốc tế), theo thời gian sinh trưởng và màu sắc; đặc điểm thực vật học (thân vảy, rễ thân, rễ gốc, lá, cấu tạo hoa, quả, hạt) và các yêu cầu sinh thái (nhiệt độ, ánh sáng ngày dài, ẩm độ 80 – 85%, đất trồng và dinh dưỡng).
- Các biện pháp nhân giống (giâm vảy, tách củ, nuôi cấy mô in vitro, gieo hạt), kỹ thuật thu hái, bảo quản cành hoa bằng hóa chất (STS, Sacaroza, AgNO3) và kiểm soát hiện tượng rụng nụ.
- Tổng quan thực trạng sản xuất và thị trường tiêu thụ hoa cắt trên thế giới (dẫn đầu là Hà Lan, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Colombia) và Việt Nam (tập trung tại Đà Lạt và các tỉnh miền núi phía Bắc; điểm qua các công trình nghiên cứu của Đặng Văn Đông, Đỗ Tuấn Khiêm, Nguyễn Thị Lý Anh, Phạm Thị Mai Chinh).
Phần 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết về vật liệu thực nghiệm (giống lily Robina, chế phẩm Atonik, GA3 100 ppm, phân bón lá Đầu Trâu 007, phân NPK Trung Quốc), địa điểm và thời gian thực hiện (vụ Đông Xuân 2014 – 2015 tại TP. Thái Nguyên). Mô tả chi tiết sơ đồ bố trí 2 thí nghiệm đồng ruộng theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) gồm 7 công thức xử lý lạnh (tổng 630 củ) và 9 công thức phân bón lá/KTST (tổng 810 củ). Quy định hệ thống các chỉ tiêu nông sinh học, phương pháp đo đếm định cây, công thức tính toán tỷ lệ mọc mầm, tỷ lệ hoa hữu hiệu, thang phân cấp mức độ bệnh hại, phương pháp hạch toán kinh tế và công cụ xử lý số liệu (Excel, IRRISTAT).
Phần 4: Kết quả và thảo luận
Chương này tập trung phân tích các dữ liệu thực nghiệm thu được qua 2 nội dung nghiên cứu chính:
1. Ảnh hưởng của xử lý lạnh đến giống hoa lily Robina
- Tỷ lệ và sức mọc mầm: Xử lý củ giống ở 15°C trong 15 ngày (CT7) cho sức mọc mầm nhanh nhất (sau 3 ngày đạt 70,2% và hoàn thành mọc mầm sau 6 ngày), tỷ lệ mọc mầm đạt 98,9%. Ngược lại, công thức không xử lý lạnh (CT1) có sức mọc mầm yếu nhất (sau 6 ngày mới bắt đầu mọc 28,3%, kéo dài 12 ngày), tỷ lệ nảy mầm chỉ đạt 92,2%.
| Công thức |
Sau 3 ngày (%) |
Sau 6 ngày (%) |
Sau 9 ngày (%) |
Sau 12 ngày (%) |
Số củ trồng |
Số củ nảy mầm |
Tỷ lệ mọc mầm (%) |
| CT1 (Không xử lý) |
- |
28,3 |
82,3 |
92,2 |
90 |
83 |
92,2 |
| CT2 (Không XL, để củ 5 ngày) |
26,7 |
46,5 |
87,8 |
94,4 |
90 |
85 |
94,4 |
| CT3 (Không XL, để củ 10 ngày) |
64,7 |
81,2 |
91,7 |
94,4 |
90 |
85 |
94,4 |
| CT4 (Không XL, để củ 15 ngày) |
80,0 |
93,3 |
97,8 |
97,8 |
90 |
88 |
97,8 |
| CT5 (Xử lý 15°C trong 5 ngày) |
20,7 |
47,6 |
91,5 |
96,7 |
90 |
87 |
96,7 |
| CT6 (Xử lý 15°C trong 10 ngày) |
68,6 |
92,4 |
97,8 |
97,8 |
90 |
88 |
97,8 |
| CT7 (Xử lý 15°C trong 15 ngày) |
70,2 |
98,9 |
98,9 |
98,9 |
90 |
89 |
98,9 |
- Đặc điểm sinh trưởng thân lá: Chiều cao cây ở thời điểm thu hoạch cao nhất ở CT7 (119,3 cm, vượt đối chứng 19,8 cm; $LSD_{0.05} = 10,4$). Đường kính thân ở CT7 đạt 1,0 cm (đối chứng 0,7 cm). Tổng số lá ở CT7 đạt cao nhất với 52,4 lá/cây, kích thước lá đạt 19,5 cm chiều dài và 3,0 cm chiều rộng (đối chứng đạt 47,5 lá, kích thước 18,4 × 2,7 cm).
- Các giai đoạn sinh trưởng, phát dục: Xử lý lạnh càng lâu giúp rút ngắn thời gian sinh trưởng. Tổng thời gian từ trồng đến thu hoạch giảm từ 89 ngày (CT1) xuống còn 81 ngày (CT7). Thời gian từ trồng đến khi 50% số cây ra nụ ở CT7 là 32 ngày (đối chứng 36 ngày), nụ chuyển màu là 85 ngày (đối chứng 90 ngày) và hoa thứ nhất nở hoàn toàn là 89 ngày (đối chứng 95 ngày).
- Hình thái, chất lượng hoa và độ bền: CT7 đạt các chỉ tiêu chất lượng cao nhất: số nụ/cây đạt 2,9 nụ; đường kính nụ 3,4 cm; chiều dài nụ 13,8 cm; số hoa/cây đạt 2,8 hoa; đường kính hoa 17,0 cm; tỷ lệ hoa nở đạt 90,5%; năng suất thực thu 85 cành (trên 90 củ trồng). Độ bền hoa cắt cắm lọ của CT7 đạt 17,0 ngày (đối chứng 15,2 ngày), độ bền tự nhiên trên vườn đạt 21,6 ngày (đối chứng 20,5 ngày).
- Tình hình sâu bệnh hại và hiệu quả kinh tế: Bệnh cháy lá xuất hiện sau trồng 30 – 35 ngày và thui nụ xuất hiện sau trồng 44 – 50 ngày. Tỷ lệ cây bị bệnh cháy lá ở CT7 thấp nhất (26,7%, mức +++) so với đối chứng (73,3%, mức ++++). Bệnh thui nụ ở CT7 là 20,0% (mức ++) so với đối chứng 46,7% (mức ++++). Hạch toán trên 100 m2 cho thấy CT7 mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất với tổng thu 67,990 triệu đồng, tổng chi 45,300 triệu đồng, lãi thuần đạt 22,690 triệu đồng (vượt đối chứng 7,165 triệu đồng).
2. Ảnh hưởng của phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến giống hoa lily Robina
Quá trình tăng trưởng chiều cao diễn ra mạnh nhất trong giai đoạn 30 – 50 ngày sau trồng, sau đó giảm dần và đạt kích thước tối đa sau 70 – 80 ngày.
| Công thức |
Chiều cao cây sau 30 ngày (cm) |
Chiều cao cây sau 50 ngày (cm) |
Chiều cao cây sau 80 ngày (cm) |
Đường kính thân (cm) |
| CT1 (Không phun - Đ/c) |
74,4 |
117,7 |
126,6 |
0,8 |
| CT2 (NPK Trung Quốc) |
75,9 |
120,2 |
131,2 |
0,9 |
| CT3 (PBL Đầu Trâu 007) |
77,0 |
121,7 |
132,3 |
0,9 |
| CT4 (Atonik) |
77,7 |
123,1 |
137,8 |
1,0 |
| CT5 (GA3 100 ppm) |
77,1 |
122,7 |
136,5 |
1,0 |
| CT6 (NPK TQ + Atonik) |
79,2 |
127,9 |
142,7 |
1,0 |
| CT7 (Đầu Trâu + Atonik) |
81,0 |
131,6 |
145,7 |
1,1 |
| CT8 (NPK TQ + GA3) |
77,1 |
123,9 |
139,7 |
1,1 |
| CT9 (Đầu Trâu + GA3) |
79,7 |
126,5 |
141,3 |
1,2 |
| $LSD_{0.05}$ |
- |
- |
11,3 |
0,96 |
| $CV%$ |
- |
- |
4,8 |
5,5 |
Công thức kết hợp phân bón lá Đầu Trâu 007 + Atonik (CT7) cho chiều cao cây lớn nhất (145,7 cm), tiếp theo là CT6 (NPK TQ + Atonik đạt 142,7 cm) và CT9 (Đầu Trâu + GA3 đạt 141,3 cm), đều vượt trội so với đối chứng không phun (126,6 cm). Đường kính thân ở các công thức sử dụng Đầu Trâu kết hợp GA3 (CT9) và Atonik (CT7) đạt từ 1,1 – 1,2 cm (đối chứng chỉ đạt 0,8 cm).
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Tổng kết các chỉ tiêu kỹ thuật tối ưu và đề xuất áp dụng quy trình xử lý củ ở nhiệt độ 15°C trong 15 ngày kết hợp phun bổ sung phân bón lá Đầu Trâu 007 và Atonik nhằm phát triển sản xuất hoa lily Robina thương phẩm tại Thái Nguyên.
Kết quả và đóng góp
Kết quả định lượng chính
- Chỉ số xử lý lạnh tối ưu: Công thức xử lý củ giống hoa lily Robina ở 15°C trong 15 ngày (CT7) đạt các thông số nông học vượt trội so với đối chứng không xử lý:
- Tỷ lệ mọc mầm đạt 98,9% (mọc mầm sớm sau 3 ngày đạt 70,2%, hoàn thành sau 6 ngày).
- Chiều cao cây thu hoạch đạt 119,3 cm (tăng 19,8 cm so với Đ/c đạt 99,5 cm); đường kính thân đạt 1,0 cm (Đ/c đạt 0,7 cm); số lá đạt 52,4 lá/cây.
- Thời gian sinh trưởng rút ngắn còn 81 ngày (rút ngắn 8 ngày so với Đ/c là 89 ngày).
- Chất lượng hoa: số nụ/cây đạt 2,9 nụ; đường kính nụ đạt 3,4 cm; số hoa nở đạt 2,8 hoa; đường kính hoa đạt 17,0 cm; tỷ lệ hoa nở đạt 90,5%; năng suất thực thu 85 cành/90 củ.
- Độ bền hoa cắt cắm bình đạt 17,0 ngày (tăng 1,8 ngày so với Đ/c); độ bền tự nhiên đạt 21,6 ngày.
- Giảm thiểu sâu bệnh: tỷ lệ bệnh cháy lá giảm từ 73,3% (Đ/c) xuống 26,7%; tỷ lệ thui nụ giảm từ 46,7% (Đ/c) xuống 20,0%.
- Lợi nhuận thuần đạt 22,690 triệu đồng/100 m2 (cao hơn đối chứng 7,165 triệu đồng).
- Hiệu quả phân bón lá và chất điều tiết sinh trưởng:
- Công thức phối hợp phân bón lá Đầu Trâu 007 + Atonik (CT7) kích thích chiều cao cây đạt tối đa 145,7 cm (tăng 19,1 cm so với Đ/c không phun đạt 126,6 cm).
- Công thức phối hợp phân bón lá Đầu Trâu 007 + GA3 (CT9) giúp đường kính thân đạt 1,2 cm (Đ/c đạt 0,8 cm).
Giải pháp và khuyến nghị kỹ thuật
- Áp dụng biện pháp xử lý lạnh củ giống hoa lily Robina ở nhiệt độ 15°C trong thời gian 15 ngày trước khi trồng trong điều kiện vụ Đông Xuân tại Thái Nguyên để phá ngủ nghỉ, tăng tỷ lệ nảy mầm và rút ngắn chu kỳ thu hoạch.
- Sử dụng phân bón lá Đầu Trâu 007 phối hợp cùng chất kích thích sinh trưởng Atonik hoặc GA3 (100 ppm) phun định kỳ 10 ngày/lần (bắt đầu từ 20 ngày sau trồng) để tối ưu hóa chiều cao thân, độ cứng cây và phẩm cấp cành hoa cắt.
Đóng góp khoa học của đề tài
Khóa luận đã bổ sung dữ liệu thực nghiệm có hệ thống về phản ứng sinh trưởng, phát dục và hiệu quả kinh tế của giống hoa lily Robina (giống nhập nội mới) dưới tác động của các mức xử lý nhiệt độ mát và chế phẩm dinh dưỡng/KTST tại tiểu vùng khí hậu trung du miền núi phía Bắc (Thái Nguyên).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Thí nghiệm mới được triển khai trong phạm vi 01 mùa vụ (vụ Đông Xuân 2014 – 2015) trên quy mô nhà có mái che tại thành phố Thái Nguyên; các mức nhiệt độ xử lý lạnh mới dừng lại ở ngưỡng 15°C trong thời gian ngắn (5 – 15 ngày), chưa đối chứng với quy trình xử lý lạnh sâu công nghiệp (5°C trong 4 – 6 tuần) do điều kiện thiết bị thực tế; chưa khảo sát đa dạng các loại giá thể canh tác khác nhau.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục bố trí lặp lại các công thức thí nghiệm trong các vụ Đông Xuân tiếp theo để khẳng định tính ổn định của các chỉ tiêu sinh học.
- Mở rộng nghiên cứu các dải nhiệt độ lạnh sâu khác nhau (5°C, 8°C, 10°C, 12°C) kết hợp các mốc thời gian lưu giữ củ giống nhằm hoàn thiện quy trình điều khiển thời điểm nở hoa chính xác phục vụ thị trường Tết Nguyên đán.
- Nghiên cứu các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) chuyên sâu để khắc phục triệt để bệnh cháy lá và hiện tượng thui nụ trên giống lily Robina.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Sinh viên, học viên, giảng viên chuyên ngành Nông học, Hoa viên cây cảnh, Trồng trọt và Bảo vệ thực vật làm tài liệu học tập, tham khảo phương pháp bố trí thí nghiệm thực địa RCBD trên cây hoa củ ôn đới.
- Cán bộ khuyến nông, kỹ thuật viên nông nghiệp và các hộ nông dân, nhà vườn sản xuất hoa thương phẩm tại Thái Nguyên và các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc.
- Phần giá trị nhất: Phương pháp thiết kế các công thức xử lý lạnh củ giống, quy trình phối trộn phân bón lá kết hợp chất kích thích sinh trưởng và bảng biểu hạch toán chi tiết chi phí - thu nhập - lợi nhuận thuần trên 100 m2.
Câu hỏi thường gặp
1. Giống hoa lily Robina có những đặc tính hình thái và sinh trưởng cơ bản nào?
Theo ghi nhận trong khóa luận, giống hoa lily Robina là giống nhập nội từ Hà Lan (đưa vào trồng tại Việt Nam từ năm 2012), có chiều cao cây dao động từ 80 – 120 cm, thời gian sinh trưởng từ 75 – 90 ngày. Cây mang lá to dài (dài 10 – 14 cm, rộng 3 – 3,5 cm), số lượng nụ từ 3 – 6 nụ/cây hướng lên trên, hoa có màu hồng đậm và mùi thơm nhẹ.
2. Xử lý lạnh ở 15°C trong 15 ngày (CT7) tác động vượt trội ra sao đến sức nảy mầm và thời gian sinh trưởng của củ giống?
CT7 đạt tỷ lệ mọc mầm cao nhất là 98,9%, mọc mầm rất nhanh (sau 3 ngày trồng đã mọc 70,2% và kết thúc mọc mầm sau 6 ngày). Biện pháp này giúp rút ngắn thời gian sinh trưởng từ trồng đến thu hoạch xuống còn 81 ngày (rút ngắn 8 ngày so với đối chứng không xử lý là 89 ngày), đồng thời thúc đẩy các pha phát dục (ra nụ, nụ chuyển màu, hoa nở) diễn ra sớm hơn từ 3 – 6 ngày.
3. Kích thước và chất lượng hoa lily Robina thay đổi thế nào khi được xử lý lạnh 15°C trong 15 ngày?
So với đối chứng không xử lý lạnh, CT7 cải thiện toàn diện các chỉ số chất lượng cành hoa: số nụ/cây tăng từ 1,7 lên 2,9 nụ; đường kính nụ tăng từ 2,6 lên 3,4 cm; chiều dài nụ tăng từ 11,8 lên 13,8 cm; số hoa nở/cây tăng từ 1,3 lên 2,8 hoa; đường kính hoa tăng từ 15,0 lên 17,0 cm; tỷ lệ hoa nở hữu hiệu tăng từ 78,8% lên 90,5%; độ bền hoa cắt cắm bình tăng từ 15,2 lên 17,0 ngày và độ bền tự nhiên trên vườn tăng từ 20,5 lên 21,6 ngày.
4. Phân bón lá Đầu Trâu 007 kết hợp với chất kích thích sinh trưởng Atonik hoặc GA3 tác động như thế nào đến chiều cao và độ cứng thân cây?
Kết quả thí nghiệm 2 chỉ ra rằng việc kết hợp phân bón lá Đầu Trâu 007 + Atonik (CT7) kích thích chiều cao cây đạt cao nhất sau 80 ngày là 145,7 cm (đối chứng không phun đạt 126,6 cm). Trong khi đó, công thức Đầu Trâu 007 + GA3 100 ppm (CT9) giúp thân cây phát triển mập mạp nhất với đường kính thân đạt 1,2 cm (đối chứng chỉ đạt 0,8 cm).
5. Lợi nhuận kinh tế giữa công thức xử lý lạnh tối ưu và đối chứng chênh lệch bao nhiêu trên quy mô 100 m2?
Trên diện tích 100 m2, công thức xử lý lạnh ở 15°C trong 15 ngày có tổng chi 45,300 triệu đồng, tổng thu 67,990 triệu đồng, đem lại lãi thuần 22,690 triệu đồng. Đối chứng không xử lý lạnh có tổng chi 44,800 triệu đồng, tổng thu 60,325 triệu đồng, đem lại lãi thuần 15,525 triệu đồng. Như vậy, xử lý lạnh ở 15°C trong 15 ngày giúp tăng thêm lợi nhuận thuần 7,165 triệu đồng/100 m2 nhờ tăng năng suất thực thu và giảm tỷ lệ bệnh cháy lá, thui nụ.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Tho đã giải quyết thành công các yêu cầu thực nghiệm nông học đối với giống hoa lily Robina nhập nội tại địa bàn thành phố Thái Nguyên trong vụ Đông Xuân 2014 – 2015. Kết quả nghiên cứu khẳng định việc xử lý lạnh củ giống ở nhiệt độ 15°C trong 15 ngày kết hợp bổ sung phân bón lá Đầu Trâu 007 và chế phẩm kích thích sinh trưởng (Atonik/GA3) là giải pháp kỹ thuật tối ưu giúp nâng cao tỷ lệ nảy mầm, rút ngắn thời gian sinh trưởng, cải thiện vượt trội phẩm cấp hoa cắt cành và gia tăng hiệu quả kinh tế. Công trình là tài liệu tham khảo có giá trị thực tiễn cao cho công tác nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật canh tác hoa lily thương phẩm tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.