Đặt vấn đề Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới, thời tiết quanh năm nóng ẩm từ đó tạo nên nguồn tài nguyên dược liệu thiên nhiên vô cùng phong phú. Trong những năm gần đây nhu cầu về thảo dược trong điều trị bệnh, làm đẹp, nâng cao sức khoẻ cho con người ngày càng cao. Các hoạt động mưu cầu cuộc sống của con người đã và đang gây sức ép lên sự sinh tồn và phát triển của các loài cây thuốc trong tự nhiên. Để đáp ứng yêu cầu đó, ngành dược liệu đã và đang phấn đấu không ngừng tìm hiểu thêm những dược liệu mới, công dụng mới giúp điều trị và nâng cao sức khoẻ cho cộng đồng.
Cho nên, thúc đẩy và không ngừng phát triển công tác nghiên cứu trồng cây thuốc là một yêu cầu cấp bách hiện nay. Cây râu mèo Việt Nam có tên khoa học là Orthosiphon stamineus Benth, tên khác Orthosiphon spiralis (Lour.) Merr…, còn có tên gọi là Bông Bạc, thuộc họ Hoa môi Lamiaceae. Từ lâu, trong dân gian đã lưu truyền về tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu của cây râu mèo. Cây râu mèo được xếp vào loại cây hiếm cần được bảo vệ và phát triển nguồn gen.
Tuy nhiên, cho đến nay, những công bố của các nhà y học về dược lý cây râu mèo không nhiều [26]. Đỗ Tất Lợi cây râu mèo mọc hoang ở nước ta, Inđônêxia, Philippin. Cây có tác dụng thông tiểu tiện dùng trong bệnh sỏi thận, sỏi túi mật, sốt ban, cúm, tê thấp, phù [11]. Ngoài ra theo Võ Văn Chi cây râu mèo còn dùng trị các bệnh như: viêm thận cấp và mãn, viêm bàng quang, sỏi đường niệu, thấp khớp, tạng khớp, viêm thận phù thũng, bệnh tiết niệu [7].hy 2 Nhận thức được vai trò và tác dụng to lớn của loài cây dược liệu râu mèo nên đã có một số đề tài nghiên cứu về loài cây này tuy nhiên số lượng còn hạn chế.
Những nghiên cứu đưa cây dược liệu vào nhân giống và trồng trọt sẽ góp phần chủ động nguồn nguyên liệu làm thuốc và nâng cao chất lượng dược liệu. Đưa công tác sản xuất dược liệu nói chung và sản phẩm dược liệu từ cây râu mèo nói riêng dần đi vào ổn định về số lượng và chất lượng. Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và ảnh hưởng của mật độ trồng tới sinh trưởng, phát triển cây râu mèo (Orthosiphon stamineus Benth ) tại Đồng Hỷ - Thái Nguyên”. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1.
Mục tiêu của đề tài Đánh giá được đặc điểm nông sinh học của cây râu mèo trồng tại Đồng Hỷ - Thái Nguyên từ đó nghiên cứu, xác định được mật độ trồng thích hợp để cây sinh trưởng phát triển và cho năng suất cao từ đó triển khai ra thực tiễn sản xuất góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất cho cây râu mèo. Yêu cầu của đề tài - Đánh giá đặc điểm nông sinh học của cây râu mèo - Đánh giá ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng, phát triển của cây râu mèo - Đánh giá ảnh hưởng của mật độ trồng đến mức độ nhiễm sâu bệnh hại - Đánh giá các chỉ tiêu cấu thành năng suất và năng suất của cây râu mèo. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học của đề tài Là cơ sở cho các nghiêm cứu tiếp theo về cây râu mèo.
Các kết quả nghiên cứu của đề tài có thể bổ sung thêm nguồn tài liệu tham khảo cho công luan.hy 3 tác nghiên cứu, chỉ đạo sản xuất, chọn tạo giống và nghiên cứu các các biện pháp kỹ thuật khác cũng như là cơ sở khoa học trong điều trị và chữa bệnh. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài bước đầu đã phân biệt đặc điểm hình thái, khả năng sinh trưởng và phát triển của cây râu mèo và xác định mật độ trồng thích hợp cho cây râu mèo nhằm góp phần hoàn thiện kỹ thuật trồng cây râu mèo cho năng suất chất lượng cao. Đa dạng hóa các sản phẩm hàng hóa từ cây trồng bản địa. Góp phần tăng thêm thu hút đầu tư vào cây dược liệu để tạo vùng sản xuất cung cấp được nhiều loại cây thuốc có ích.hy 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 2. Cơ sở lý luận Từ các tài liệu tham khảo trong nước và thế giới cho thấy nghiên cứu về các loài cây thuốc trên thế giới khá phong phú, với nhiều công trình nghiên cứu từ thời cổ đại đến ngày nay. Trên thế giới các công trình cứu về dược liệu nói chung tương đối nhiều tuy nhiên các công trình nghiên cứu về kỹ thuật trồng trọt cho cây râu mèo còn hạn chế, hầu hết các nghiên cứu mới chỉ tập chung về mặt phân loại, tên gọi, mô tả hình thái, giá trị sử dụng, các đặc tính sinh lý,…. Những nghiên cứu này tạo ra cơ sở khoa học cho việc bảo tồn loài cây này ở các nước trên thế giới trong những năm qua.
Theo “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam” râu mèo có tên khoa học là Orthosiphon spiralis (Lour.) Merr Tên đồng nghĩa: Orthosiphon stamineus Benth, Orthosiphon aristatus (Blume) Miq. Tên khác: Cây bông bạc Tên nước ngoài: Orthosiphon, thé de Java, barbiflore, moustache de chat (Pháp). Họ Hoa môi: Lamiaceae hon aristatus (Blume) Miq hoặc Orthosiphon stamineus Beth [4]. Ở nước ta, râu mèo phân bố rải rác ở một số tỉnh miền núi như Cao Bằng, Thanh Hoá (Vĩnh Lộc), Hà Tây (Ba Vì), Lâm Đồng, Phú Yên (Tuy Hoà), Vũng Tàu - Côn Đảo (Bà Rịa), Ninh Thuận (Phan Rang), Kiên Giang (Phú Quốc).
Cây ưa ẩm, ưa sáng và có thể hơi chịu bóng, thường mọc trên luan.hy 5 đất giàu chất mùn ở ven rừng, gần bờ nước hoặc trong thung lũng. Độ cao phân bố của cây từ khoảng 10m (ở Phú Yên) đến 600m (ở Cao Bằng). Cây sinh trưởng mạnh trong mùa xuân hè. Mùa đông có hiện tượng bán tán lụi ở phần thân cành trên mặt đất.
Cây ra hoa quả nhiều hàng năm, tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt, nhưng tỷ lệ hạt nẩy mầm thường rất thấp. Râu mèo tái sinh chồi khoẻ, nhất là từ những phần còn lại sau khi cắt [4]. Cây râu mèo mọc tự nhiên ở Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Philipin các nước Đông Dương và cả ở Châu Phi [4]. Trên thế giới, Inđônêxia là nước trồng nhiều râu mèo nhất.
Ngoài khối lượng dược liệu sử dụng nhiều trong nước, năm 1991 - 1995 nước này xuất khẩu sang thị trường châu Âu mỗi năm từ 170 tấn - 200 tấn râu mèo khô [12]. Thành phần hoạt chất chính của râu mèo gồm các chất thuộc nhóm flavonoid, terpenoid và dẫn xuất của acid caffeic… Trong đó, sinensetin, acid ursolic và acid rosmarinic là các thành phần hoạt chất chính của râu mèo [6]. Râu mèo có vị ngọt, nhạt, hơi đắng, tính mát, có tác dụng lợi tiểu, thanh nhiệt, trừ thấp, tiêu viêm. Râu mèo làm tăng lượng nước tiểu và thúc đẩy sự bài tiết urê, các clorua và acid uric.
Có tác dụng tốt đối với các chứng rối loạn đường tiêu hoá, bệnh thấp khớp, đau lưng, đau nhức khớp xương. Còn tác dụng tốt đối với bệnh xung huyết gan và bệnh đường ruột. Hiệu quả của nó là do tác dụng kết hợp của glycosid với các muối kiềm, các chất giống như tanin của dầu thơm và của một saponin. Dịch chiết bằng nước giàu hoạt chất hơn (28,8%) [4].
Trong y học cổ truyền Việt Nam, râu mèo được sử dụng làm thuốc lợi tiểu trong điều trị bệnh viêm thận, sỏi thận, tê thấp, phù thũng, viêm gan. Bộ phận dùng của râu mèo là phần trên mặt đất. Theo Dược điển Việt Nam III đã quy định Herba Othosiphonis spiralis là thân, cành mang lá, hoa đã phơi hay sấy khô của cây râu mèo [12]. Theo Từ điển cây thuốc Việt Nam của tác giả luan.hy 6 Võ Văn Chi [7] công dụng của cây râu mèo thường được dùng trị: Viêm thận cấp và mãn, viêm bàng quang, sỏi đường niệu, thấp khớp, tạng khớp.
Liều dùng: 30 - 50g dạng thuốc sắc. Cây râu mèo là cây có giá trị về mặt y học, tuy nhiên loài cây này vẫn chưa được nghiên cứu ở nhiều nơi, còn thiếu rất nhiều kiến thức về loài cây này. Vì vậy để phát triển và mở rộng nghiên cứu loại cây này phải có cơ sở khoa học dựa trên những nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học, sinh thái của loài, từ đó đề xuất giải pháp kỹ thuật trong tạo giống, trồng và chăm sóc thích hợp tạo điều kiện cho cây sinh trưởng, phát triển tốt hơn. Cơ sở khoa học để xác định mật độ trồng hợp lý.
Mật độ và khoảng cách gieo trồng là hai yếu tố ảnh hưởng nhiều đến năng suất. Giải quyết tốt vấn đề về mật độ tức giải quyết tốt mối quan hệ giữa sinh trưởng và phát triển của các cá thể làm cho quần thể cây khai thác tốt nhất khoảng không gian (không khí, ánh sáng) và mặt đất (khai thác nước, dinh dưỡng trong đất) nhằm thu được sản lượng cao nhất trên một đơn vị diện tích. Mật độ càng cao thì sự cạnh tranh diễn ra càng quyết liệt. Dưới đất cây cạnh tranh nhau về nước, dinh dưỡng trong đất và khoảng trống trong đất để phát triển rễ.
Khi đất không cung cấp đủ cho nhu cầu của cây thì cây sẽ phát triển kém, cây nhỏ, rễ kém phát triển. Trên khoảng không gian, để có thể lấy được ánh sáng khi phải cạnh tranh với các cây khác cây sẽ phải tăng trưởng chiều cao một cách tối đa chính vì vậy sẽ làm cho thân nhỏ, cây yếu, đường kính thân cành của lá nhỏ, sức chống chịu kém trước các điều kiện ngoại cảnh, khả năng chống đổ kém. Khi trồng ở mật độ thấp cây sẽ không phải cạnh tranh nhau nhiều do vậy cây sẽ có điều kiện phát triển tốt cho năng suất cá thể cao nhưng năng suất quần thể lại giảm, bên cạnh đó cây sẽ bị ảnh hưởng nhiều bởi điều kiện ngoại cảnh do tính quần thể bị giảm, bộ phận bên dưới mặt đất của cây sẽ bị phân luan.hy 7 nhánh do bộ rễ của cây sẽ phát triển theo chiều ngang vì không phải cạnh tranh nhiều với bộ rễ của các cây khác điều này sẽ làm giảm phẩm cấp của dược liệu. Mật độ trồng thích hợp sẽ giúp cho cây sử dụng được tối đa các điều kiện của đồng ruộng từ đó giúp cây sinh trưởng phát triển tốt, khả năng tích luỹ của cây tăng từ đó có thể tăng năng suất và tăng sản lượng cũng như hiệu quả kinh tế.