Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Giới thiệu chung về cây Phi điệp tím Hòa Bình 1. Nguồn gốc, phân loại Cây Phi điệp tím Hòa Bình hay còn gọi là Giã Hạc hay Giả Hạc, với danh pháp khoa học là Dendrobium anosmun Lindley, Phi điệp tím Hòa Bình là một loài Phong lan thuộc dòng Lan, Phi điệp tím Hòa Bình có đầy đủ các đặc tính của một phong Lan hoàng thảo như thân gồm nhiều giả hành mọc thành bụi, các giả hành phân thành các đốt như đốt tre nứa. Giá thể bám cho dòng lan này đều là các thân cây, xơ dừa hay rêu nếu như trong chậu.
Lan Giả Hạc ưu thích khí hậu nhiệt đới vì vậy dòng Lan này được phân bố chủ yếu ở các nước Đông Nam Á như: Thái Lan, Lào, Việt Nam, Campuchia… Tại Việt Nam có ở các tỉnh như Cao Bằng, Hòa Bình, Phú Thọ, Thanh Hóa, Tây Ninh… Tuy nhiên, tùy vào xuất xứ mà Phi điệp tím mang đặc trưng riêng. Đặc biệt, Phi điệp tím Hòa Bình có hình dạng, màu sắc, hương thơm và vẻ đẹp độc đáo riêng biệt so với Phi điệp tím khác bởi cánh hoa to hơn, màu sắc và hương thơm đặc biệt [7]. Hệ thống phân loại: Bảng 1. Vị trí phân loại của chi Dendrobium Giới Plantae Ngành Magnoliophyta Lớp Moncotyledoneae Phân Lớp Liliidae Bộ Orchidales Họ Orchidaceae Chi Dendrobium Loài Dendrobium annosmun Lindley 4 Hình 1.
Ảnh lan Phi điệp tím Hòa Bình Nguồn: hoalanhuyanh. Đặc điểm thực vật học của cây Phi điệp tím Hòa Bình - Thân: Phi điệp tím Hòa Bình thuộc dạng thân thong, thân có thể dài tới 2m buông rũ xuống. Phi điệp tím Hòa Bình mọc thành từng cụm, thuộc nhóm đa thân và thân có giả hành. Gỉa hành chứa diệp lục, dự trữ nước và chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của giả hành mới và duy trì sự sống.
Thân chia thành nhiều đốt, mỗi đốt chứa một mắt ngủ. Độ dài đốt phụ thuộc vào độ tuổi của cây, môi trường… Màu sắc thân Phi điệp tím Hòa Bình rất đa dạng từ màu xanh, chấm tím và tím tùy từng giai đoạn, đường kính thân có thể tới 1,5cm khi vào mùa nghỉ. Thân già các đời trước thì thường khô teo, màu nâu tím hoặc vàng như rơm [7],[11]. - Lá: Lá đơn mọc cách, xếp so le, mọng nước, dài 10-15cm, rộng từ 3-4 cm.
Mép lá nguyên, hệ gân song song, đầu lá nhọn [11]. - Rễ: Phi điệp tím Hòa Bình thuộc loại rễ bì sinh, đường kính nhỏ khoảng 1,5-2mm, có hình trụ. Rễ rất dài, chóp rễ có màu xanh [11]. - Hoa: Phi điệp tím không những mọc trên những giả hành mới mà còn mọc trên các giả hành cũ.
Hoa Phi điệp tím Hòa Bình nở vào cuối xuân - đầu hè (tháng 4 - 6 dương lịch), hoa to tới 10cm, mọc từ 1-3 chiếc ở các đốt đã 5 rụng lá. Trên cánh có phủ lông mịn và có ánh kim, trên lưỡi thường có hai mắt tím đậm. Hoa có hương thơm ngào ngạt và lâu tàn (2-3 tuần lễ). Nhiều hoa trên phát hoa, một cây nếu mạnh khỏe có thể ra tới 50-70 hoa [29],[32].
- Quả: Quả của Phi điệp tím Hòa Bình thuộc loại quả nang, nở ra theo 3-6 đường nứt dọc. Khi chín quả nở ra, các mảnh vỏ còn dính lại với nhau ở phía đỉnh và phía gốc. Bên trong chứa rất nhiều hạt, khi chín hạt có màu vàng. Hạt cấu tạo bởi một phôi chưa phân hóa, chứa đầy không khí.
Hạt rất nhiều và nhỏ, toàn bộ hạt trong một quả nặng chỉ bằng một phần mười mg, rất nhẹ nên dễ phát tán nhờ gió [11]. Một số điều kiện sinh thái 1. Ánh sáng Phi điệp là cây ưa sáng nên có thể trồng nơi có nhiều ánh sáng nhưng không nên phơi dưới thời tiết nắng nóng cả ngày, rễ có thể bị cháy lá non. Tốt nhất nên có một lớp lưới che bảo vệ cây, giúp cây hấp thụ đủ lượng ánh sáng cần thiết mỗi ngày.
Cây trồng không nên ở chỗ râm quá, cây sẽ quặt quẹo, lá xanh sẫm, thân lá còi cọc nhất là vào mùa đông, nếu thiếu nắng cây sẽ khó ra hoa. Nhiệt độ Lan Phi điệp tím chịu nóng và chịu lạnh rất tốt. vào mùa nóng cây có thể chịu được nhiệt độ lên đến 38 độ C, còn vào mùa lạnh cây có thể chịu được nhiệt độ xuống thấp tới mứa 3,3,độ C. Tuy nhiên, vào mùa đông nếu nhiệt độ không lạnh dưới 15-16 độ C kéo dài trong khoảng 4 đến 6 tuần lễ thì giả hạc khó ra nụ 1.
Độ ẩm và độ thông thoáng Phi điệp tím cũng cần nhiều độ ẩm vào thời điểm các thân non phát triển. Độ ẩm thông thường khoảng 60 - 70%. Loài này cũng thích sống trong điều kiện thoáng gió. Lượng nước Nước là điều kiện cần thiết cho sự phát triển của lan, việc tưới nước đúng cách sẽ giúp cây sinh trưởng ổn định và ra hoa đều.
Vào mùa hè khi lan ra mầm non và mọc mạnh cần tưới 2 đến 3 lần một tuần. Vào mùa thu, khi cây đã ngừng tăng trưởng, nên tưới nước thưa đi, mỗi tuần chỉ cần tưới một lần cho thân cây khỏi bị teo lại. Vào mùa đông, đây là thời gian lan chuẩn bị để ra hoa, ngừng hẳn việc tưới nước. Nếu độ ẩm quá thấp nên phun sương mỗi tháng 1-2 lần.
Dinh dưỡng Phi điệp tím cũng yêu cầu một lượng dinh dưỡng nhất định để sinh trưởng và phát triển. Các thành phần dinh dưỡng như: N - P - K và các nguyên tố trung và vi lượng. Sử dụng phân NPK tỷ lệ: 10 - 20 - 30 nồng độ 3g/L định kỳ 1 tuần 1 lần. Khoảng 2 tháng trước khi Phi điệp tím ra hoa, phun NPK 15 - 20 - 25 nồng độ 2 g/L một tuần một lần, đến khi hoa tàn thì dừng bón phân.
Giá trị sử dụng 1. Giá trị thẩm mỹ Lan Phi điệp tím Hòa Bình được mệnh danh là món trang sức đẹp nhất mà thiên nhiên ưu đãi ban tặng cho loài người. Màu sắc hoa quyến rũ, trên cánh có phủ lông mịn và ánh kim, trên lưỡi thường có 2 mặt tím đậm với hương thơm ngào ngạt và lâu tàn. Thân cao khỏe và rất siêng hoa , một giả hành một lúc có thể cho rất nhiều hoa.
Chính vì lẽ đó, Phi điệp tím Hòa Bình được con người dùng để thưởng lãm vẻ đẹp hay làm cảnh, trang trí, làm đẹp không gian sống [7], [11]. Giá trị kinh tế Khác với các dòng lan Phi điệp khác, Phi điệp tím Hòa Bình mang lại giá trị kinh tế cao bởi sự đẹp lạ và độc đáo của nó. Phi điệp tím Hòa Bình đã chiếm một vị trí quan trọng điểm tô trong các hội nghị, đám cưới, bàn tiệc hay trang trí cô dâu. 7 Phi điệp tím Hòa Bình được khai thác và bán với giá rất cao.
Năm 2019 giá lan Phi điệp tím tính theo kg vào khoảng 6 - 7 triệu/kg. Ngoài ra Phi điệp tím Hòa Bình được dùng để chiết xuất tinh dầu thơm trong công nghệ mỹ phẩm mang lại giá trị cho con người. Giá trị y học Ngoài giá trị làm cảnh, Lan Phi điệp tím Hòa Bình còn có giá trị làm thuốc mà ít ai biết được trong nhiều bệnh về da, suy nhược cơ thể, suy nhược thần kinh, đau họng, tăng cường sức đề kháng cho cơ thể… 1. Tổng quan về ADN mã vạch 1.
Giới thiệu về ADN mã vạch (DNA barcode) Phương pháp phân loại hình thái có lịch sử phát triển lâu đời và đã xây dựng được một hệ thống phân loại sinh vật nói chung và thực vật nói riêng tương đối đầy đủ và toàn diện. Phương pháp phân loại này chủ yếu dựa vào sự khác biệt hình thái của các cơ quan trong cơ thể thực vật, đặc biệt là cơ quan sinh sản (hoa). Tuy nhiên, phương pháp này cũng gặp rất nhiều khó khăn khi cần xác định những mẫu vật đang trong giai đoạn phát triển (chưa ra hoa), những mẫu có đặc điểm giống nhau do cùng thích nghi với điều kiện môi trường hoặc khó nhận biết do có nhiều điểm tương đồng ở bậc phân loại thấp như loài và dưới loài. Ngoài ra, phương pháp phân loại hình thái thường chỉ được thực hiện bởi các chuyên gia hình thái học, việc phân loại đôi khi tốn nhiều thời gian và công sức.
Từ giữa những năm 1990, với sự phát triển mạnh mẽ của sinh học phân tử, một phương pháp nghiên cứu mới trong lĩnh vực phân loại học đã hình thành và được gọi là phương pháp phân loại học phân tử. Phương pháp này dựa trên các dữ liệu thông tin về hệ gen (ADN) trong và ngoài nhân hoặc các sản phẩm của chúng (protein). Tùy mục đích hoặc đối tượng nghiên cứu, người ta có thể lựa chọn các gen (đoạn ADN) khác nhau hoặc các sản phẩm khác nhau của hệ gen. Trong phương pháp phân loại phân tử, các kỹ thuật thường được 8 ứng dụng để nghiên cứu tính đa dạng sinh học, mối quan hệ tiến hóa giữa các loài, xây dựng cây phát sinh chủng loại cũng như giúp nhận dạng đến cấp phân loại loài hoặc chi.
Ở thực vật, một số phương pháp chỉ thị phân tử được sử dụng để nhận dạng loài cũng như sử dụng enzyme giới hạn kết hợp với lai ADN (RFLP), dấu vân tay ADN (DNA fingerprinting), phản ứng chuỗi trùng hợp PCR và đặc biệt việc sử dụng các kỹ thuật mã vạch ADN (DNA barcode) ngày càng trở nên phổ biến. Các phương pháp này đều dựa trên thực tế rằng cấu trúc hóa học của ADN từ mọi loài là giống nhau và sự khác biệt duy nhất giữa chúng là trình tự các cặp base. Năm 2003, nhà nghiên cứu tại đại học Guelph, Canada - Paul Hebert - đã đề xuất một phương pháp xác định loài dựa trên ADN mã vạch (DNA barcode). Mã vạch ADN là trình tự nucleotide của một chuỗi ADN ngắn, có cùng nguồn gốc tổ tiên, trong đó có vùng ít bị thay đổi (vùng bảo thủ) và vùng thay đổi theo quá trình tiến hóa [36].
Ngoài ra việc lựa chọn một vùng trình tự làm ADN mã vạch còn cần phải mang những đặc điểm sau: Có độ dài thích hợp (không quá ngắn để có độ đa hình về trình tự giữa các taxon, không quá dài để có thể giải trình tự theo cách thông thường, thậm chí cả khi trong điều kiện chưa được tối ưu); không phải vùng dị hợp để có thể nhân bản trực tiếp trình tự mà không cần tách dòng; thuận lợi trong việc so sánh trình tự dựa trên vị trí khác biệt các base và không có đoạn trình tự chưa chắc chắn như một vài đoạn lặp microsatellite làm giảm chất lượng trình tự [25]. Dựa vào mức độ thay đổi trong trình tự ADN này để đánh giá sự sai khác di truyền giữa các sinh vật.