Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGHĨA VỤ CUNG CẤP THÔNG TIN VÀ PHÁP LUẬT VỀ NGHĨA VỤ CUNG CẤP THÔNG TIN CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG 1. Khái quát chung về nghĩa vụ cung cấp thông tin của người sử dụng lao động trong quan hệ lao động 1. Khái quát về quan hệ lao động 1. Khái niệm quan hệ lao động Trong bất kì xã hội nào, lao động luôn là hoạt động đóng vai trò quan trọng, quyết định đến sự tồn tại và phát triển của con người, cộng đồng và xã hội.
Trước đây, các mối quan hệ lao động thường xoay quanh mối quan hệ giữa chủ - thợ trong môi trường công nghiệp, do đó quan hệ lao động được gọi bằng thuật ngữ quan hệ công nghiệp. Quan hệ công nghiệp do nhà kinh tế học người Mỹ J.T Dun Lop đưa ra lần đầu tiên vào những năm mới thế kỷ trước. Năm 1958, trong cuốn "The Industrial Relations" - được xem là cuốn sách đầu tiên về đề tài này. Sau đó, đã có nhiều học giả đưa ra các định nghĩa khác nhau về quan hệ lao động.
Do quan hệ lao động không phải là một quan hệ thuần nhất, nó chịu sự tác động của nhiều nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội, hơn nữa nó lại xem xét dưới nhiều góc độ, đặc biệt là các khoa học kinh tế, lao động, xã hội và pháp luật cho nên các định nghĩa mà họ đưa ra cũng không hoàn toàn như nhau1. Nhìn chung, quan hệ lao động ngày nay bắt nguồn từ mối quan hệ việc làm giữa người lao động (NLĐ) và người sử dụng lao động (NSDLĐ) tại nơi làm việc. Trong đó, NLĐ và NSDLĐ thỏa thuận về việc làm có trả công, các điều kiện, thời gian, địa điểm, phương thức… Trước đây, theo quan niệm truyền thống, trong quan hệ lao động chỉ tồn tại hai chủ thể là NLĐ và NSDLĐ. Tuy nhiên, quan điểm trên dần trở nên không phù 1.
Lê Thị Hoài Thu, chủ nhiệm (2012), Pháp luật về quan hệ lao động Việt Nam - Thực trạng và phương hướng hoàn thiện, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc gia, Hà Nội, tr. 9 hợp khi chúng ta xây dựng và phát triển các chế định về tổ chức đại diện tập thể của NLĐ cũng như vai trò quản lý nhà nước về lao động ngày càng được nâng cao. Theo các chuyên gia của ILO quan hệ lao động là những mối quan hệ cá nhân và tập thể những NLĐ và NSDLĐ tại nơi làm việc, nảy sinh từ các tình huống lao động cũng như những mối liên hệ giữa các đại diện của họ với nhau, giữa các đại diện của họ với nhà nước ở cấp ngành và cấp quốc gia. Những quan hệ này xoay quanh các khía cạnh pháp lý, kinh tế, xã hội và tâm lý bao gồm cả những vấn đề: tuyển dụng, thuê mướn, sắp xếp công việc, đào tạo, kỷ luật, đề bạt, cho thôi việc, chấm dứt HĐLĐ, tiền lương, thời giờ làm thêm, tiền thưởng, phân chia lợi nhuận, đào tạo nghề, y tế, an toàn, vệ sinh, giải trí, chỗ ở, thời giờ làm việc, nghỉ ngơi, chế độ thất nghiệp, ốm đau, tai nạn, tuổi cao và khuyết tật 2.
Như vậy, theo quan điểm này quan hệ lao động là tổng thể các mối quan hệ về việc làm và các vấn đề liên quan đến việc làm giữa trung tâm là NLĐ và NSDLĐ, bên cạnh đó là các tổ chức đại diện tập thể và cơ quan quản lý nhà nước. Quan niệm về quan hệ lao động ở Việt Nam và trên thế giới là khá tương đồng3. Bên cạnh đó, vẫn có một số quan niệm chưa thực sự làm rõ bản chất và chủ thể của quan hệ lao động. Theo Giáo trình Luật Lao động của Đại học Luật Hà Nội thì quan hệ lao động được hiểu là quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ trong quá trình lao động.
Quan hệ này là một trong các bộ phận cấu thành của quan hệ sản xuất, thuộc nhóm các quan hệ tổ chức, quản lý và phụ thuộc vào quan hệ sở hữu. Trong quan hệ lao động, một bên tham gia với tư cách là NLĐ, có nghĩa vụ phải thực hiện công việc theo yêu cầu của bên kia và có quyền nhận thù lao từ công việc đó; bên thứ hai là NSDLĐ, có quyền sử dụng sức lao động của NLĐ và có nghĩa vụ trả thù lao về việc sử dụng lao động đó4. Như vậy, theo quan điểm này, dường như mối quan hệ 2. David Macdonal dand Caroline Vandenabeele (1996), Glossary of Industrial Relations and Related Terms, International Labour Organisation, ILO Regional Office for Asia and the Pacific, Bangkok, tr.
Nguyễn Văn Bình (2014), Hoàn thiện pháp luật về đối thoại xã hội trong quan hệ lao động ở Việt Nam , Luận án tiến sĩ Luật học, Hà Nội, tr. Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), Giáo trình Luật Lao động Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 10 lao động chỉ có hai chủ thể là NLĐ và NSDLĐ mà bỏ qua sự tham gia của tổ chức đại diện và cơ quan quản lý nhà nước. Điều này chưa thực sự phù hợp với các quan niệm quốc tế và các quy định của pháp luật lao động Việt Nam hiện hành.
Từ những phân tích nêu trên, có thể hiểu quan hệ lao động là các mối quan hệ cá nhân và tập thể phát sinh trong mối quan hệ lao động chủ yếu giữa NLĐ và NSDLĐ, bên cạnh đó là sự tham gia của các tổ chức đại diện và cơ quan quản lý nhà nước. Các quan hệ này xoay quanh các vấn đề về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể liên quan đến việc làm và những nội dung liên quan đến việc làm. Tính chất quan hệ lao động Như đã phân tích, quan hệ lao động phát sinh trước hết và chủ yếu giữa NLĐ và NSDLĐ xoay quanh mối quan hệ việc làm. Do đó, quan điểm về tính chất của quan hệ lao động ở Việt Nam hiện nay cho rằng, đây là một loại quan hệ đặc biệt, mang "tính lưỡng phân"5.
a) Quan hệ lao động vừa là một quan hệ kinh tế vừa là một quan hệ xã hội Trong quan hệ lao động, các chủ thể tham gia đều hướng đến một mục tiêu nhất định, đó chính là tính kinh tế của mối quan hệ này. NSDLĐ thuê mướn, trả công cho NLĐ để sử dụng sức lao động, tạo ra giá trị thặng dư nhằm thu lại lợi nhuận cho doanh nghiệp của mình. NLĐ sử dụng sức lao động của mình, làm việc để hưởng lương nhằm nuôi sống bản thân và gia đình. Các tổ chức đại diện lao động cũng có những mục tiêu hoạt động của mình.
Họ đại diện NLĐ, bảo vệ quyền lợi NLĐ nhằm làm cho mối quan hệ lao động được hài hòa, phát triển, kéo theo đó là sự phát triển của tổ chức đại diện lao động. Những khoản kinh phí để duy trì và hoạt động của các tổ chức này đều từ nguồn kinh phí của NSDLĐ. Trong khi đó, một chủ thể đặc biệt của quan hệ lao động là nhà nước. Với chức năng quản lý của mình, nhà nước có các phương án điều tiết bằng các công cụ hữu hiệu nhằm làm cho mối quan hệ lao động được duy trì và phát triển tốt theo định hướng của nhà 5.
Lê Thị Hoài Thu, chủ nhiệm (2012), Pháp luật về quan hệ lao động Việt Nam - Thực trạng và phương hướng hoàn thiện, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc gia, Hà Nội, tr. Qua đó kéo theo sự phát triển của nền kinh tế, nhà nước thu các loại thuế để duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước. Như vậy, mục đích tham gia quan hệ lao động của các chủ thể đều mang tính kinh tế nhất định. Bên cạnh đó, quan hệ lao động là một quan hệ cơ bản và đặc thù trong xã hội.
Hầu như một cá nhân, công dân nào cũng đều có sức lao động và nhu cầu lao động. Qua sự trao đổi, thống nhất với NSDLĐ, NLĐ bán sức lao động của mình để tìm kiếm thu nhập. Do đó, trong quan hệ này, rất nhiều vấn đề sẽ phát sinh ảnh hưởng đến quyền lợi không chỉ của NLĐ, NSDLĐ mà còn của toàn xã hội như đình công, thất nghiệp, khủng hoảng kinh tế… đây đều là những vấn đề không còn gói gọn trong mối quan hệ lao động và nó thể hiện tính xã hội của loại quan hệ này. b) Quan hệ lao động vừa là một quan hệ cá nhân vừa là một quan hệ tập thể Trong mối quan hệ lao động, NLĐ trước hết tham gia quan hệ với tư cách cá nhân, họ dùng sức lao động của mình, tham gia ký kết, thực hiện HĐLĐ.
Tự mình chịu trách nhiệm với quá trình thực hiện công việc của mình. Với tư cách là người thuê mướn sức lao động, NSDLĐ cũng có thể là cá nhân khi họ nhân danh chính mình tham gia quan hệ lao động, ký kết hợp đồng, sử dụng sức lao động của NLĐ và trả công cho họ. Do đó, trước hết, quan hệ lao động mang tính cá nhân sâu sắc. Tính cá nhân này còn thể hiện ở chỗ, mỗi NLĐ có một sức lao động riêng, đó là đặc thù của mỗi người mà không ai giống ai.
Do đó, năng suất lao động của họ cũng tương xứng với tiền công mà họ được trả. Điều này càng làm cho tính cá nhân của quan hệ lao động được thể hiện rõ hơn. Bên cạnh đó, trong quan hệ lao động, NSDLĐ thường có xu hướng thuê mướn nhiều NLĐ để tạo thành một tập thể. Trong tập thể này, NLĐ cùng làm việc, sinh hoạt và hỗ trợ nhau trong công việc.
Trong quá trình làm việc của mình tập thể NLĐ mong muốn có một tổ chức đại diện cho tập thể của mình, từ đó Công đoàn ra đời với tư cách là tổ chức đại diện cho tập thể NLĐ, bảo vệ quyền lợi cho NLĐ. Tính 12 tập thể còn thể hiện qua các hoạt động thương lượng, ký kết các thỏa ước lao động giữa tập thể NLĐ và NSDLĐ. Bên cạnh đó, trong quan hệ này, NSDLĐ đa phần là các tổ chức. Họ là những thực thể cấu thành từ những thành viên góp vốn.
Trong đó, có những doanh nghiệp đại chúng, doanh nghiệp đa quốc gia có quy mô và số lượng các thành viên, cổ đông lên đến hàng ngàn cá nhân, tổ chức. Những doanh nghiệp, NSDLĐ trong cùng một lĩnh vực cũng có thể liên kết tạo thành các hiệp hội doanh nghiệp. Ở đó, họ trao đổi kinh nghiệm, cho thuê lại lao động, tạo thành thị trường trao đổi hàng hóa đặc biệt là sức lao động. Đây là tính tập thể của quan hệ lao động.